Chuyên đề thực tập
1
GVHD: Ths Nguyễn Anh Tú
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) ngày càng phát triển, mở
rộng mạng lưới của mình cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá. Các NHTM
đã trở thành các tổ chức trung gian tài chính quan trọng có nhiệm vụ chuyển vốn từ
những nơi thừa sang những nơi thiếu, đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn của các
doanh nghiệp. Nhất là tại các nước có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam,
NHTM thực sự đóng một vai trò rất quan trọng bởi nó đảm nhận vai trò giữ cho
mạch máu (dòng vốn) của nền kinh tế được lưu thông và chỉ có vậy mới góp phần
bôi trơn cho hoạt động của một nền kinh tế thị trường còn non yếu.
Kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, sản xuất hàng hoá phát triển nhanh làm cho các doanh nghiệp tích luỹ vốn
không kịp để mở rộng sản xuất kinh doanh, nhu cầu về vốn luôn là vấn đề đau đầu
của các doanh nghiệp. Chính vì lý do đó mà các doanh nghiệp luôn luôn có nhu cầu
cần vay vốn để thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Hiện nay, ở nước ta chủ
yếu là hoạt động tín dụng ngân hàng thực hiện nhiệm vụ này.
Hoạt động tín dụng - một trong những hoạt động mang tính truyền thống của
ngân hàng là hoạt động mang lại lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng, tuy nhiên đây
là cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất trong các hoạt động kinh doanh của
các ngân hàng. Sự phát triển của hoạt động tín dụng như hiện nay cùng với vấn đề
làm thế nào để hạn chế được những rủi ro trong hoạt động tín dụng đã đặt ra yêu
cầu cho nhà làm luật là phải hoàn thiện hệ thống pháp luật pháp luật ngân hàng, xây
dựng một hệ thống pháp luật có hiệu quả và đảm bảo an toàn. Trong đó cần chú
trọng xây dựng các quy chế pháp lý về giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng
(HĐTD).
Mặc dù hiện nay, các quy định về giao kết thực hiện HĐTD đã được quy
pháp luật về HĐTD.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của ThS Nguyễn
Anh Tú và các anh chị phòng tín dụng ngân hàng TMCP Đông Nam Á – chi nhánh
Ba Đình đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Nguyễn Thị Hương Ly - Luật kinh doanh K48
Chuyên đề thực tập
HĐTD
TCTD
NHTM
NHNN
BLDS
Ngân hàng TMCP ĐNA
SeABank
NHNo
Agribank
HĐQT
WTO
NĐ 178
NĐ 163
QĐ 1627
QĐ 502
QĐ 1908
1. Khái quát chung về HĐTD
Nguyễn Thị Hương Ly - Luật kinh doanh K48
Chuyên đề thực tập
4
GVHD: Ths Nguyễn Anh Tú
1.1 Khái niệm HĐTD
Điều 388 BLDS 2005 đã đưa ra khái niệm hợp đồng dân sự như sau: “Hợp
đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự.”
Xét dưới khía cạnh pháp lý, hợp đồng được định nghĩa là sự thỏa thuận bằng
lời nói hoặc văn bản giữa hai hay nhiều chủ thể có đủ năng lực pháp luật và năng
lực hành vi, nhằm xác lập, thực hiện hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý
nhất định trên cơ sở phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội.
Từ quan niệm chung này về hợp đồng có thể đưa ra định nghĩa về HĐTD căn
cứ vào bản chất của hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng (TCTD) như sau:
“Hợp đồng tín dụng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng
(bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện do luật định (bên vay),
theo đó tổ chức tín dụng thoả thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng
trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc lẫn lãi, dựa trên sự
tín nhiệm”1.
Trong cuốn Quản trị ngân hàng thương mại, PGS.TS Nguyễn Thị Mùi đưa ra
định nghĩa về HĐTD như sau:
“Hợp đồng tín dụng/hợp đồng bảo đảm tiền vay là văn bản pháp lý thể hiện
mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và người đi vay, là cơ sở pháp lý để ngân
hàng thực hiện cho vay, quản lý khoản vay, thu hồi nợ và xử lý các khiếu kiện/tranh
chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũng phải được
thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên
vay. Do đó, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền
vay theo đúng HĐTD cho bên vay thì khi đó họ mới có quyền yêu cầu bên vay thực
hiện nghĩa vụ đối với mình. Các nghĩa vụ này bao gồm các nghĩa vụ chính như sử
dụng tiền vay đúng mục đích; nghĩa vụ hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi đúng thời hạn
đã cam kết trong hợp đồng…
- Thứ tư, hình thức của HĐTD là bắt buộc bằng văn bản, không thể bằng lời
nói hay hành vi như trong hợp đồng dân sự. Điều này được quy định tại điều 17
Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ban hành ngày 31/12/2001 về quy chế cho
vay của TCTD đối với khách hàng (gọi tắt là QĐ 1627).
“Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành
hợp đồng tín dụng.”
- Thứ năm, HĐTD chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn cho quyền lợi của bên
cho vay. Điều này được giải thích là vì theo cam kết trong HĐTD, bên cho vay chỉ
có thể đòi tiền bên vay sau một thời hạn nhất định. Trong thời gian đó, nếu khách
hàng gặp khó khăn do môi trường kinh doanh thay đổi sẽ dẫn đến khó khăn trong
việc trả nợ. Việc thu hồi tín dụng không những phụ thuộc vào bản thân khách hàng
mà còn phụ thuộc vào cả môi trường hoạt động ngoài tầm kiểm soát của khách hàng
như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, thị trường,
thiên tai…Như vậy, thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng
cao và ngược lại, thời hạn cho vay ngắn hơn thì nguy cơ rủi ro cũng sẽ thấp đi. Vì
thế các tranh chấp phát sinh từ HĐTD cũng thường xảy ra với số lượng và tỷ lệ lớn
hơn so với đa số các loại hợp đồng khác.
- Thứ sáu, HĐTD thường nhằm mục đích lợi nhuận, trường hợp không nhằm
mục đích lợi nhuận là trường hợp ngân hàng chính sách vay để hỗ trợ đồng bào gặp
khó khăn.
1.3 Vai trò của HĐTD
HĐTD có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Cũng như vai trò của các loại hợp đồng dân sự hay các loại hợp đồng kinh doanh
- Trong HĐTD có bảo đảm bằng tài sản, TCTD cho vay luôn có quyền ưu
tiên theo đuổi tài sản đảm bảo để thu hồi nợ cho mình, bất luận tài sản đảm bảo đó
đang nằm ở đâu và trong sự quản lý của ai. Quyền ưu tiên này được xác lập trên cơ
sở giao dịch đảm bảo giữa TCTD (bên nhận đảm bảo) với khách hàng vay hoặc
người thứ ba – người bảo lãnh (gọi là bên bảo đảm). Với tư cách là một chủ nợ có
đảm bảo, TCTD cho vay có quyền ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản bảo đảm
trước các chủ nợ có bảo đảm đăng ký sau hoặc trước các chủ nợ không được bảo
đảm bằng tài sản đó.
- Quy trình thủ tục ký kết và thực hiện HĐTD có bảo đảm bằng tài sản bao
giờ cũng phức tạp hơn so với HĐTD không có bảo đảm bằng tài sản vì ngoài những
điều khoản thông dụng khác của HĐTD,các bên phải thỏa thuận thêm về điều
khoản bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay. Thực tế cho thấy, việc ký kết hợp đồng bảo
đảm càng chặt chẽ bao nhiêu thì mức độ an toàn về phương diện pháp lý của các
bên càng cao bấy nhiêu.
Nguyễn Thị Hương Ly - Luật kinh doanh K48
Chuyên đề thực tập
7
GVHD: Ths Nguyễn Anh Tú
HĐTD có đảm bảo bằng tài sản áp dụng đối với những khách hàng uy tín
không cao đối với ngân hàng. Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có
thêm nguồn thu nợ thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất (nguồn thu từ hiệu
quả dự án, phương án đầu tư sản xuất kinh doanh mang lại) thiếu chắc chắn.
HĐTD không có bảo đảm bằng tài sản
Mặc dù sự bảo đảm bằng tài sản cho các khoản vay của TCTD trên thực tế là
Chuyên đề thực tập
8
GVHD: Ths Nguyễn Anh Tú
D) Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của tổ
chức tín dụng nếu sử dụng vốn vay không đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng;
cam kết trả nợ trước hạn nếu không thực hiện được các biện pháp bảo đảm bằng
tài sản quy định tại điểm này.
2. Đối với khách hàng vay là doanh nghiệp, ngoài các điều kiện quy định tại
khoản 1 Điều này còn phải có kết quả sản xuất kinh doanh có lãi trong hai năm liền
kế với thời điểm xem xét cho vay.”
b, Căn cứ vào thời hạn tín dụng, HĐTD được chia thành các loại như sau:
- HĐTD ngắn hạn là HĐTD mà có thời hạn cho vay đến 12 tháng, thường
được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động tạm thời của các doanh nghiệp hoặc
phụ vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình trong thời gian ngắn.
- HĐTD trung hạn là HĐTD mà có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60
tháng, được sử dụng chủ yếu để cải tiến và đổi mới trang thiết bị, đầu tư mua sắm
tài sản cố định, mở rộng sản xuất và xây dựng công trình vừa và nhỏ. HĐTD này có
thời hạn thu hồi vốn nhanh, là nguồn quan trọng hình thành vốn lưu động thường
xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp mới thành lập.
- HĐTD dài hạn là HĐTD mà có thời hạn cho vay từ 60 tháng trở nên, đáp
ứng cho như cầu đầu tư dài hạn như xây dựng cơ bản (dây chuyền sản xuất, nhà
xưởng...), xây dựng cơ sở hạ tầng (cảng biển, sân bay, đường xá …), cải tiến và mở
rộng sản xuất quy mô lớn. HĐTD dài hạn thường áp dụng hình thức giải ngân nhiều
lần theo tiến độ dự án do thời hạn đầu tư thường kéo dài. Nhìn chung, HĐTD dài
hạn thường chịu rủi ro rất lớn do thời hạn càng dài thì những biến động không dự
tính được có thể xảy ra càng lớn.
- Có giấy phép thành lập và hoạt động do NHNN cấp;
- Có điều lệ do NHNN chuẩn y;
- Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp;
- Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết HĐTD với khách
hàng.
Riêng đối với các tổ chức không phải là TCTD, nếu muốn trở thành chủ thể
cho vay trong HĐTD thì cần phải thỏa mãn một số điều kiện như: có giấy phép hoạt
động ngân hàng, có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và có người đại diện hợp
pháp. Trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy phép hoạt động ngân
hàng của loại tổ chức này phải ghi rõ hoạt động cho vay là hoạt động ngân hàng
được phép thực hiện.
Khoản 2 điều 22 Luật các TCTD quy định: “Các điều kiện để được cấp giấy
phép hoạt động ngân hàng đối với tổ chức không phải là tổ chức tín dụng gồm có:
A) Hoạt động ngân hàng là cần thiết và có liên quan chặt chẽ với hoạt động
chính;
B) Có đủ vốn, điều kiện vật chất phù hợp với yêu cầu của hoạt động ngân
hàng;
C) Có đội ngũ cán bộ am hiểu hoạt động ngân hàng;
D) Có phương án kinh doanh khả thi về hoạt động ngân hàng.”
Việc pháp luật quy định những điều kiện này đối với bên cho vay ngoài việc
góp phần loại trừ, hạn chế những TCTD không đủ tiêu chuẩn kinh doanh trên
thương trường, nhờ đó giúp góp phần lành mạnh hóa các quan hệ tín dụng và bảo vệ
quyền lợi hợp pháp của các nhà đầu tư, đây còn là căn cứ để các thẩm phán, luật gia
Nguyễn Thị Hương Ly - Luật kinh doanh K48
Chuyên đề thực tập
Tú
kinh doanh, điều lệ của tổ chức, quyết định bổ nhiệm người đứng đầu tổ chức (đối
với người vay là tổ chức) hoặc chứng minh nhân dân, lý lịch tư pháp, hộ khẩu, giấy
chứng nhận về hộ tịch do cơ quan có thẩm quyền cấp (đối với người vay là cá
nhân).
Khoản 1 điều 7 QĐ 1627 quy định cụ thể vấn đề này như sau:
“1. Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách
nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật:
a) Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân Việt Nam:
Nguyễn Thị Hương Ly - Luật kinh doanh K48
Chuyên đề thực tập
Tú
11
GVHD: Ths Nguyễn Anh
- Pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự;
- Cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải có năng lực pháp luật và năng
lực hành vi dân sự;
- Đại diện của hộ gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi
dân sự;
- Đại diện của tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi
dân sự;
- Thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và
năng lực hành vi dân sự;
b) Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân nước ngoài phải có
năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật của
nước mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật
GVHD: Ths Nguyễn Anh
sống; tình hình tài chính lành mạnh, kinh doanh có lãi; cam kết của khách hàng về
việc phải mua bảo hiểm đối với tài sản là đối tượng vay vốn mà theo pháp luật quy
định phải mua bảo hiểm (tài sản hình thành sau khi vay). Trong trường hợp pháp
luật không quy định bắt buộc mua bảo hiểm nhưng xét thấy cần thiết phải đảm bảo
an toàn vốn vay, các ngân hàng có thể xem xét quyết định khách hàng vẫn phải cam
kết mua bảo hiểm đối với đối tượng vay vốn mà pháp luật không bắt buộc mua bảo
hiểm. Nếu khách hàng không thực hiện đúng cam kết mua bảo hiểm theo hợp đồng
thì ngân hàng cho vay có quyền được chấm dứt cho vay, thu hồi nợ hoặc chuyển nợ
quá hạn.
“4. Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và
hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp
với quy định của pháp luật.
5. Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ
và hướng dẫn của ngân hàng nhà nước Việt Nam.”
Ngoài ra, điều 19, điều 20 QĐ 1627 còn quy định những trường hợp không
được cho vay hay cho vay hạn chế, bao gồm các trường hợp sau:
- Điều 19: Các trường hợp không được cho vay
“1. Tổ chức tín dụng không được cho vay đối với khách hàng trong các
trường hợp sau đây:
a) Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc),
Phó Tổng giám đốc (phó Giám đốc) của tổ chức tín dụng;
b) Cán bộ, nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm
định, quyết định cho vay;
c) Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát,
Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc).
2. Các quy định tại Khoản 1 Điều này không áp dụng đối với các tổ chức tín
dụng hợp tác.”
- Điều 20: Cho vay hạn chế
giao kết bằng một hình thức nhất định, HĐTD phải được lập thành văn bản thì mới
có giá trị pháp lý (theo quy định tại điều 51 Luật các TCTD). Pháp luật quy định
như vậy là vì việc ký kết hợp đồng bằng văn bản có rất nhiều ưu điểm, giúp đảm
bảo sự an toàn pháp lý cho các bên tham gia. Những ưu điểm đó là:
- Thứ nhất, HĐTD được ký kết bằng văn bản sẽ tạo ra một bằng chứng pháp
lý cụ thể cho việc thực hiện hơp đồng và giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD.
- Thứ hai, việc ký kết HĐTD bằng văn bản thực chất là một sự công bố công
khai và chính thức về mối quan hệ pháp lý giữa những người lập ước để người thứ
ba biết rõ về việc lập ước đó mà có những phương cách xử sự hợp lý, an toàn trong
những trường hợp cần thiết.
- Thứ ba, việc ký kết HĐTD bằng văn bản mới có thể giúp cho các cơ quan
có trách nhiệm của chính quyền thi hành công vụ được tốt hơn. Chẳng hạn như việc
kiểm tra, thanh tra tài chính, thu thuế, lệ phí, kiểm soát hoạt động thương mại của
các chủ thể kinh doanh trên thương trường.
Theo quy định hiện hành, văn bản HĐTD được hiểu bao gồm văn bản viết và
văn bản điện tử. HĐTD được xác lập thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức
thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản (khoản 1 điều 124 BLDS
2005), được coi là có giá trị pháp lý như văn bản hợp đồng viết và có giá trị chứng
cứ trong quá trình giao dịch.
2.3 Nội dung của HĐTD
Nguyễn Thị Hương Ly - Luật kinh doanh K48
Chuyên đề thực tập
Tú
14
GVHD: Ths Nguyễn Anh
HĐTD.
- Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay. Ở điều khoản này, các bên cần
ghi rõ vốn vay sẽ được sử dụng vào mục đích gì (ví dụ như, mua hàng hóa để tiêu
dùng hay mua vật tư hàng hóa để kinh doanh …). Việc thỏa thuận điều khoản này
Nguyễn Thị Hương Ly - Luật kinh doanh K48
Chuyên đề thực tập
Tú
15
GVHD: Ths Nguyễn Anh
trong được xem như là một giải pháp nhằm đảm bảo sự an toàn về vốn cho người
đầu tư là các TCTD, tránh các trường hợp bên vay sử dụng vốn vay một cách tùy
tiện vào mục đích phiêu lưu, mạo hiểm. Mặt khác, pháp luật cũng cho phép trong
thời gian sử dụng vốn vay, các bên có quyền thỏa thuận lại về mục đích sử dụng
vốn vay mỗi khi xét thấy thời cơ và điều kiện sử dụng vốn vay đã thay đổi nhằm
đảm bảo lợi ích của cả hai bên và cũng để đảm bảo sử dụng vốn đầu tư được sử
dụng hiệu quả.
- Điều khoản về tranh chấp HĐTD. Trong điều khoản này, các bên sẽ thỏa
thuận về biện pháp giải quyết tranh chấp khi có tranh chấp phát sinh. Các bên có thể
lựa chọn biện pháp thương lượng, hòa giải hoặc lựa chọn biện pháp tài phán để giải
quyết tranh chấp. Nếu trong HĐTD không ghi điều khoản này, có nghĩa là các bên
không thỏa thuận thì khi đó việc xác định thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp
phát sinh từ HĐTD sẽ đựợc thực hiện theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, nếu HĐTD được giao kết có điều kiện về đảm bảo bằng tài sản như
cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, tín chấp thì các bên có thể thỏa thuận điều khoản này
như một điều khoản riêng rẽ nằm trong HĐTD (hợp đồng chính) hoặc lập thành một
xem là vi phạm hợp đồng và sẽ phải chịu phạt vi phạm hợp đồng theo quy định của
pháp luật. Đây là nguyên tắc cơ bản, vì chỉ khi sử dụng vốn đúng mục đích thì
khách hàng mới có thể thực hiện được dự án, phương án sản xuất kinh doanh theo
dự kiến, do vậy mới có thể thu hồi được vốn để hoàn trả nợ cho ngân hàng. Nguyên
tắc này giúp hạn chế rủi ro đạo đức và hạn chế khả năng khách hàng dùng vốn vay
để thực hiện các hành vi mà pháp luật cấm.
“2. Khách hàng vay vốn phải hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn
đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng”.
Đây là nghĩa vụ tất yếu của khách hàng vay khi vay vốn của TCTD. Mặc dù
vậy pháp luật vẫn quy định nó như là một nguyên tắc để giao kết hợp đồng để nhấn
mạnh tầm quan trọng của việc hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay trong hoạt động tín
dụng, đồng thời cũng nêu lên sự khác biệt giữa quan hệ HĐTD với các quan hệ hợp
đồng khác. Nguyên tắc này đảm bảo phương châm hoạt động của ngân hàng là “đi
vay để cho vay” và thực hiện nguyên tắc trong hoạch toán kinh doanh lấy thu bù chi
và có lãi.
Đây là những nguyên tắc cơ bản nhất mà các bên sẽ phải tuân thủ khi quan
hệ tín dụng được xác lập. Nguyên tắc cho vay có hiệu quả là điều kiện và biện pháp
hàng đầu bảo đảm cho ngân hàng duy trì sự tồn tại và phát triển ổn định.
2.5 Trình tự giao kết HĐTD
Giao kết HĐTD là một quá trình mang tính chất kĩ thuật nghiệp vụ - pháp lý
do các bên thực hiện theo một trình tự luật định. Việc giao kết HĐTD bao gồm các
giai đoạn chính sau:
- Đề nghị giao kết HĐTD;
- Thẩm định hồ sơ tín dụng và chấp nhận đề nghị giao kết HĐTD;
- Đàm phán các điều khoản của HĐTD.
Đề nghị giao kết HĐTD
Đề nghị giao kết HĐTD là hành vi pháp lý do một bên thực hiện gửi cho bên
kia dưới hình thức văn bản chính thức, với nội dung thể hiện ý chí mong muốn
được giao kết HĐTD.
Thông thường, bên đề nghị giao kết HĐTD là cá nhân, tổ chức có nhu cầu
Thẩm định hồ sơ và chấp nhận đề nghị giao kết HĐTD.
- Thẩm định hồ sơ tín dụng
Sau khi tiếp nhận hồ sơ tín dụng của khách hàng là bên vay vốn, TCTD sẽ
thực hiện thẩm định hồ sơ tín dụng. Thẩm định hồ sơ tín dụng là tất cả những hành
vi mang tính nghiệp vụ - pháp lý do TCTD thực hiện nhằm mục đích xác định các
điều kiện vay vốn đối với bên vay, trên cơ sở đó mà quyết định có cho vay hay
không cho vay. Như vậy, mục đích của thẩm định hồ sơ tín dụng không chỉ để kiểm
tra tính chân thực của hồ sơ vay vốn mà khách hàng cung cấp cho ngân hàng, mà
còn nhằm mục đích tìm kiếm những tình huống xấu có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho
ngân hàng, tiên lượng khả năng kiểm soát những rủi ro đó và dự kiến các biện pháp
phòng ngừa và hạn chế những thiệt hại có thể xảy ra. Vì thế, thẩm định hồ sơ tín
dụng thường bao gồm nhiều khâu, được thực hiện theo một trình tự chặt chẽ, quyết
định đến chất lượng của tín dụng.
Theo khoản 2 điều 15 QĐ 1627, ngoài việc thẩm định tư cách pháp lý của
khách hàng vay vốn thì nội dung thẩm định bao gồm các vấn đề sau:
Nguyễn Thị Hương Ly - Luật kinh doanh K48
Chuyên đề thực tập
Tú
18
GVHD: Ths Nguyễn Anh
“ 2- Tổ chức tín dụng xem xét, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của dự án đầu
tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ
đời sống và khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng để quyết định cho vay.”
Trong thực tế giao dịch ngân hàng, việc thẩm định hồ sơ tín dụng thường do
Nguyễn Thị Hương Ly - Luật kinh doanh K48
Chuyên đề thực tập
Tú
19
GVHD: Ths Nguyễn Anh
Sau khi HĐTD được ký kết, các bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng. Đây là
quá trình làm cho cam kết trong HĐTD trở thành hiện thực thông qua hành vi của
các bên. Sau khi giải ngân, TCTD phải thường xuyên kiểm tra, giám sát quá trình
sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng để bảo đảm cho tiền vay được sử dụng
đúng mục đích đã cam kết, kiểm soát rủi ro tín dụng và hạn chế tối đa thiệt hại.
2.6 Hiệu lực của HĐTD
Các điều kiện có hiệu lực của HĐTD:
Dựa trên các quy định có tính nguyên tắc tại điều 122 của BLDS 2005 về
điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, một HĐTD với tư cách là một loại hình
giao dịch dân sự đặc thù, chỉ có hiệu lực khi thỏa mãn các điều kiện sau đây:
- Chủ thể tham gia HĐTD phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực
hành vi dân sự.
Đối với chủ thể của HĐTD là cá nhân thì bản thân cá nhân ấy phải có đủ cả
năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự, còn đối với chủ thể là tổ chức
thì người đại diện cho tổ chức đó cũng phải có năng lực pháp luật dân sự và năng
lực hành vi dân sự. Ngoài vấn đề năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân
sự, chủ thể tham gia HĐTD có thể còn phải thỏa mãn các điều kiện khác nữa thì
HĐTD mới có hiệu lực pháp luật. Thông thường, các điều kiện này do chính các
bên thỏa thuận và được ghi rõ trong HĐTD như là những điều kiện có hiệu lực của
HĐTD. Chẳng hạn như điều kiện bên vay phải có tình hình tài chính lành mạnh; có
cao cho quyền lợi của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng này. Điều này
được quy định tại điều 51 Luật các TCTD.
Tính hợp pháp về hình thức của HĐTD thể hiện ở chỗ, HĐTD phải được ký
kết bằng văn bản hoặc tài liệu giao dịch hợp thức và có giá trị chứng cứ chứng minh
nội dung mà các bên đã cam kết.
Thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD:
Thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD là điểm mốc thời gian mà kể từ lúc
đó quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia HĐTD bắt đầu phát sinh. Trên
thực tế, pháp luật của các nước, tùy quan điểm của nhà làm luật coi HĐTD là hợp
đồng thực tế hay hợp đồng ưng thuận mà có những quy định rất khác nhau về thời
điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD.
Ví dụ như ở Cộng hòa Pháp thì thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD
chính là thời điểm bên cho vay chuyển giao số tiền vay cho bên cho vay, bởi lẽ các
nhà làm luật ở đây quan niệm HĐTD là loại hợp đồng thực tế. Còn ở Việt Nam, do
nhà làm luật quan niệm HĐTD thuộc loại hợp đồng ưng thuận nên pháp luật Việt
Nam quy định thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD chính là thời điểm các bên
thỏa thuận xong các điều khoản của hợp đồng và bên sau cùng đã ký tên, đóng dấu
(nếu có) vào văn bản HĐTD. Theo quy định này, việc chuyển giao tiền vay (hay
còn gọi là giải ngân) là một nghĩa vụ hợp đồng của bên cho vay. Nếu bên cho vay
không thực hiện đúng nghĩa vụ này mà lại gây thiệt hại tính được thành tiền cho bên
vay thì họ không những sẽ phải chịu trách nhiệm nộp phạt vi phạm hợp đồng mà
còn phải chịu cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
3. Những quy định của pháp luật về thực hiện HĐTD
3.1 Quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên trong HĐTD
Quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia HĐTD được hiểu là tất cả
những hành vi pháp lý được các bên lập ra để cho chính mình thực hiện, thông qua
sự kiện ký kết HĐTD. Việc tạo lập quyền và nghĩa vụ pháp lý này không chỉ là mục
đích khi giao kết HĐTD của các bên, mà còn là hậu quả pháp lý tất yếu của việc
Nguyễn Thị Hương Ly - Luật kinh doanh K48
- Nghĩa vụ chuyển giao tiền vay đầy đủ, đúng thời hạn và địa điểm cho
khách hàng vay sử dụng (nghĩa vụ giải ngân).
Nghĩa vụ này phát sinh do bên cho vay đã cam kết cho khách hàng vay được
phép sử dụng số tiền của mình trong một khoảng thời gian nhất định, với điều kiện
có hoàn trả. Thực tế cho thấy người vay chỉ có thể thực hiện được quyền sử dụng
vốn vay và cũng chỉ có nghĩa vụ hoàn trả tiền vay khi nào có bằng chứng chứng
minh rằng họ đã nhận được tiền vay do bên vay chuyển giao đúng thời hạn đã thỏa
thuận. Nếu bên cho vay vi phạm nghĩa vụ này như không giải ngân, giải ngân chậm
hoặc không giải ngân theo đúng thỏa thuận trong HĐTD thì trong trường hợp này,
bên cho vay bị coi là đã vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, vì thế bên cho vay có trách
nhiệm phải bồi thường các thiệt hại vật chất đã xảy ra cho bên vay. Không những
Nguyễn Thị Hương Ly - Luật kinh doanh K48
Chuyên đề thực tập
Tú
22
GVHD: Ths Nguyễn Anh
thế, bên cho vay còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình như đã cam kết, trừ
trường hợp cả hai bên cùng thỏa thuận chấm dứt HĐTD trước thời hạn.
- Nghĩa vụ kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền vay và trả nợ của khách hàng.
Trước khi Luật các TCTD năm 1997 được sửa đổi, bổ sung năm 2004, việc
kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn chỉ được xem như là một quyền của TCTD và
khả năng pháp lý này của bên cho vay hoàn toàn phát sinh trên cơ sở các bên thỏa
thuận chứ không phải do pháp luật quy định trước. Tuy nhiên, để đề cao trách
nhiệm pháp lý của bên cho vay trong quá trình cấp tín dụng, khoản 3 điều 53 Luật
Tú
23
GVHD: Ths Nguyễn Anh
e) Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ, nếu các bên không có
thoả thuận khác, thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm vốn vay theo
sự thoả thuận trong hợp đồng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật hoặc yêu
cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với trường hợp khách hàng
được bỏ lãnh vay vốn;
g) Miễn, giảm lãi vốn vay, gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ thực hiện theo
quy định tại Quy chế này; mua bán nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam và thực hiện việc đảo nợ, khoanh nợ, xoá nợ theo quy định của Chính phủ và
hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
2. Tổ chức tín dụng có nghĩa vụ:
a) Thực hiện đúng thoả thuận trong hợp đồng tín dụng;
b) Lưu giữ hồ sơ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật.”
Quyền và nghĩa vụ của bên vay:
Với tư cách là người hưởng tín dụng, đồng thời là con nợ trong quan hệ tín
dụng, bên vay có những quyền và nghĩa vụ sau đây:
- Quyền từ chối các yêu cầu không hợp lý của TCTD khi ký kết, thực hiện và
thanh lý HĐTD.
Quyền năng này được pháp luật quy định giúp cho khách hàng vay vốn có
khả năng chống lại các yêu cầu không hợp lý của các TCTD mà các yêu cầu đó có
thể gây ra những bất lợi cho họ nếu buộc phải thỏa mãn. Chẳng hạn như, khách
hàng vay có quyền từ chối cung cấp các thông tin về hoạt động kinh doanh của
mình nếu nó không liên quan đến việc sử dụng vốn cũng như hoàn trả vốn vay cho
TCTD…
- Quyền khiếu nại, khởi kiện việc từ chối cho vay không có căn cứ hoặc các
thường xuyên bởi người cho vay. Tuy nhiên, nghĩa vụ này không cản trở người vay
lựa chọn, áp dụng các biện pháp giúp đem lại hiệu quả cho phương án sử dụng vốn
của mình như được quyền lựa chọn lựa chọn loại vật tư, mô hình công nghệ thích
hợp nhất để đầu tư, lựa chọn nguyên liệu trong nước hay nhập khẩu để mua sắm
bằng nguồn vốn tín dụng được cấp…Nếu bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ
này thì họ sẽ bị bên cho vay đình chỉ việc sử dụng vốn vay hoặc bị thu hồi vốn vay
trước thời hạn, sau khi đã được bên cho vay nhắc nhở bằng văn bản.
- Nghĩa vụ hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi, trả tiền phạt vi phạm HĐTD và
tiền bồi thường thiệt hại cho bên vay (nếu có).
Nghĩa vụ này là một trong những nghĩa vụ chính của bên vay, phát sinh trên
cơ sở HĐTD hoặc trên cơ sở phán quyết đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan tài
phán đã có thẩm quyền. Nghĩa vụ hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi thông thường sẽ
phát sinh khi HĐTD bắt đầu có hiệu lực và phải được bên vay thực hiện khi thời
hạn sử dụng vốn vay đã hết. Nghĩa vụ trả tiền phạt vi phạm hợp đồng hay trả tiền
bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi xảy ra sự vi phạm hoặc gây ra sự thiệt hại mà
các bên đã thỏa thuận trong HĐTD, hoặc phát sinh do một phán quyết đã có hiệu
lực của tòa án hay trọng tài. Về nguyên tắc, các nghĩa vụ này của bên vay sẽ chấm
dứt khi chúng đã được bên vay thực hiện trên thực tế.
Quyền và nghĩa vụ của khách hàng vay được quy định cụ thể tại điều 24 QĐ
1627, theo đó:
“1. Khách hàng vay có quyền:
a) Từ chối các yêu cầu của tổ chức tín dụng không đúng với các thoả thuận
trong hợp đồng tín dụng;
Nguyễn Thị Hương Ly - Luật kinh doanh K48
Chuyên đề thực tập
Tú
kết hợp đồng bảo đảm tiền vay phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp
luật về hình thức, nội dung của hợp đồng, các quy định về việc đăng ký, công chứng
hay chứng thực hợp đồng bảo đảm.
Những biện pháp chủ yếu để bảo đảm tiền vay trong HĐTD là:
Cầm cố
“Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản
thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.” (điều 326 BLDS)
Nguyễn Thị Hương Ly - Luật kinh doanh K48