Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống vừng đen vđ10 vụ hè thu năm 2013 tại trường đại học nông lâm thái nguyên - Pdf 35

1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHẠM VĂN CHIẾN

Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI VỤ TRỒNG ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ
PHÁT TRIỂN GIỐNG VỪNG ĐEN VĐ10 VỤ HÈ THU NĂM 2013
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

: Chính qui

Chuyên ngành

: Trồng trọt

Khoa

: Nông học

Khoá

: 2010 - 2014

Giáo viên hướng dẫn

: ThS. Ma Thị Phương

Phạm Văn Chiến


3

MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU ...................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề............................................................................................... 1
1.2. Mục đích của đề tài ................................................................................ 3
1.3. Yêu cầu của đề tài .................................................................................. 4
1.4. ý nghĩa của đề tài.................................................................................... 4
1.4.1. Ý nghĩa học tập, nghiên cứu ............................................................... 4
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất ......................................................... 4
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................... 5
2.1. Cơ sở khoa học ....................................................................................... 5
2.1.1. Cơ sở của việc nghiên cứu thời vụ ...................................................... 5
2.1.2. Nguồn gốc –phân loại đặc điểm thực vật............................................ 6
2.1.2.1. nguồn gốc ......................................................................................... 6
2.2. Đặc điểm sâu bệnh hại vừng ................................................................ 12
2.2.1. Những loại sâu hại chính................................................................... 12
2.2.2. Những bệnh hại chính ....................................................................... 13
2.3. Công dụng và giá trị dinh dưỡng của cây vừng ................................... 15
2.3.1. Giá trị thực phẩm .............................................................................. 15
2.3.2. Dùng trong dược phẩm ..................................................................... 17
2.3.3. Dùng trong công nghiệp kỹ nghệ và tiềm năng cho biodiesel (dầu
sinh học) ......................................................................................... 19
2.4. Tình hình sản xuất vừng trên thế giới và trong nước ........................... 20
2.4.1. Tình hình sản xuất vừng trên thế giới ............................................... 20
2.4.2. Tình hình sản xuất vừng ở Việt Nam ................................................ 24
PHẦN 3. VẬT LIÊU NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU



5

DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT

CSDTL

: Chỉ số diện tích lá

CT

: Công thức

KNTLVCK

: Khả năng tích lũy vật chất khô

NSLT

: Năng suất lý thuyết

NSTT

: Năng suất thực thu

ĐBSCL

: Đồng bằng sông Cửu Long


năm 2012 ...................................................................................25
Bảng 4.1: Số liệu trạm khí tượng Thái Nguyên năm 2013 .........................34
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của thời vụ đến các giai đoạn sinh trưởng, phát
triển của giống vừng đen VĐ10 vụ hè thu năm 2013 ...............35
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của thời vụ đén đặc điểm hình thái của giống
vừng VĐ10 ................................................................................38
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của thời vụ đến chỉ số diện tích lá và khả năng
tích lũy vật chất khô của giống vừng VĐ10 .............................40
Bảng 4.5: Tình hình sâu bệnh hại trên giống vừng đen VĐ10 tại thí
nghiệm năm 2013 .....................................................................42
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của thời vụ đến các yếu tố cấu thành năng suất
của giống vừng VĐ10 ...............................................................43


7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 4.1: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của giống
vừng VĐ10 .................................................................................39


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cây mè (tên khoa học là Sesamum indicum L.) còn gọi là vừng, là loại
cây có dầu, cây thực phẩm hiện đang được rất nhiều quốc gia quan tâm và
có định hướng phát triển do có hàm lượng dầu cao, chất lượng tốt. Cây mè

năm nước ta phải nhập khẩu một số lượng dầu thục vật lớn từ nước ngoài ,
trong khi nước ta lại có tiềm năng sản xuất cây lấy dầu như: Cây Vừng
(cây mè), Cây Dừa, Cây Lạc, Cây ĐậuTương, Cây Điều ……Trong các
loại cây lấy dầu thì cây vừng cũng là cây lấy dầu quan trọng nhưng ít được
quan tâm.
Ở Việt Nam cây vừng được trồng ở khắp các vùng sinh thái trong
cả nước, tuy nhiên vùng tập trung của nó là ở các tỉnh Bắc Trung Bộ,
Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.Vừng là một cây trồng
truyền thống có mặt ở khắp các vùng sinh thái của nước ta. Diện tích cây
vừng ở Việt Nam có khoảng 45.000 ha với sản lượng là 22.000 tấn (FAO,
2007,[13]). Diện tích vừng cả nước là 47,1 ngàn ha, khu vực phía Nam là
33,6 ngàn ha (71,3 %), có ba vùng trồng vừng lớn trong cả nước, bao gồm
Bắc Trung Bộ (10,6 ngàn ha), Duyên Hải Nam Trung bộ (17,4 ngàn ha) và
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) (9,4 ngàn ha). Năng suất vừng trung
bình cả nước là 6,60 tạ/ ha, năng suất vừng ở ĐBSCL cao nhất (10,9 tạ/ha)
(Số liệu thống kê, 2010).
Điều này đã cho thấy năng suất và sản lượng vừng ở nước ta hiện
nay còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng và điều kiện tự
nhiên, khí hậu ở nước ta. Đặc biệt trong những năm gần đây, sự biến đổi
của khí hậu toàn cầu nói chung, biến đổi khí hậu ở nước ta đã làm ảnh
hưởng nghiêm trong đến hệ thống các cây trồng nói chung và cây Vừng nói
riêng. Thời tiết mưa nhiều gây ngập úng ở cuối vụ, ngoài ra tập quán gieo


3
vãi không lên luống, không có quy trình canh tác tiên tiến đã khiến cho cây
vừng sinh trưởng kém ở đầu thời vụ, bệnh héo xanh phát triển mạnh ở giai
đoạn cuối vụ là những yếu tố hạn chế căn bản làm giảm năng suất, chất
lượng và hiệu quả kinh tế của sản xuất vừng.
Việc gieo trồng ở những vùng đất có độ phì nhiêu thấp, nơi mà

Đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh ở vụ
hè thu năm 2013 tại Thái Nguyên.
Xác định thời vụ trồng hợp lý cho sinh trưởng phát triển và cho năng
suất cao nhất phù hợp với vùng sinh thái Thái Nguyên.
1.4. ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa học tập, nghiên cứu
Giúp cho sinh viên củng cố thêm kiến thức rèn luyện kĩ năng, có điều
kiện tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa học và vận dụng kiến thức
khoa học vào thực tiễn sản xuất. Thu thập được những kinh nghiệm và
kiến thức thực tế, củng cố lý thuyết đã học, nâng cao trình độ để phục vụ
cho công việc sau này.
Kết quả nghiên cứu làm cơ sở cho việc áp dụng thời vụ cho giống
Vừng đen VĐ10 tại Thái Nguyên. Là tài liệu để các nhà nghiên cứu, sinh
viên nghành trồng trọt tham khảo.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Sự thành công của đề tài này sẽ có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn sản
xuất, góp phần đưa giống vừng đen VĐ10 ra sản xuất với thời vụ thích hợp
để đảm bảo năng suất, hiệu quả kinh tế cao. Tăng thu nhập cho người dân.


5

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Cơ sở của việc nghiên cứu thời vụ
Cây vừng có khả năng thích ứng rộng, có thể trồng được trên nhiều
loại đất ngay cả trên loại đất xấu không thể trồng được cây trồng khác.
Vừng tương đối dễ trồng, đầu tư sản xuất vừng không cao nên bất cứ người
dân nào cũng có thể vừng đươc. Cây vừng có thời gian sinh trưởng ngắn,

năm trước đây đã đề cập đến vừng. Tàng tích hạt vừng rang thu hồi từ các
cuộc khai quật khảo cổ học có niên đại khoảng 3500-3050 năm trước Công
nguyên. Nhiều ý kiến cho rằng Etiopi là nguyên sản của giống vừng trồng
hiện nay. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng vùng Afghan – Pesian mới là
nguyên sản của các giống vừng trồng là loại cây có dầu được trồng lâu đời
(khoảng 200 năm trước công nguyên ). Sau đó được đưa vào vùng Tiểu Á
(Babylon) và được di chuyển về phía tây – vào Châu Âu và phía nam vào
Châu Á , Đến Ấn Dộ và một số nước Nam Á (Trung Quốc, Ấn Độ) được
xem là trung tâm phân bố cây vừng(Ths. Ma Thị Phương, năm 2014)
[11],(Thomas Fuller 1608 -16/8/166) [23] trong tác phẩm của mình đã đề
cập đến mối giao dịch buôn bán hạt vừng giữa vùng Lưỡng Hà và khu vực
mà hiện nay là Pakistan và Ấn Độ xảy ra vào năm 2000 trước Công
nguyên. Một số báo cáo khác khẳng định cây vừng được trồng trong Ai
Cập trong thời kỳ Ptolemiac. Các thư tịch cổ Ai Cập cho biết nhà Y học
Papyrus Ebers (cách nay khoảng 3600 năm) cây vừng

đã có tên là

“sesemt” là một cây dùng làm thuốc chữa bệnh.
Báo cáo khảo cổ học từ Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy cây vừng đã được trồng
và ép để trích xuất dầu ít nhất 2750 năm trước đây trong đế chế của Urartu.


7
Cây vừng cổ đại được trồng rộng rải ở các khu vực khô hạn ở rìa sa
mạc, nơi không có cây trồng khác phát triển được. Cây vừng đã được gọi là
một cây trồng “sống sót”.
Đây là một cây được thuần hóa ở các vùng nhiệt đới khắp thế giới và
được trồng để lấy hạt ăn do hạt có hàm lượng chất béo và chất đạm cao, ngoài
ra vừng còn được dùng làm đẹp và làm thuốc chữa bệnh cho con người.

Họ (familia)

Euphorbiaceae

Chi (genus)

Jatropha

Loài (species)

J. curcas


8
Cây Vừng (Tên khoa học: Sesamum indicum L. syn. S. orientale L.)
là cây hàng niên và là cây có dầu. Giống Vừng Sesamum có khoảng 30 loài
khác nhau, nhưng loại được trồng phổ biến là Vừng trắng (Sesamum
indicum L.), và Vừng đen (Sesamum orientale L.). Thời gian sinh trưởng
của cây Vừng từ 75 tới 150 ngày tuỳ theo giống, nhưng loại được trồng phổ
biến ở Việt Nam và Campuchia có thời gian sinh trưởng từ 75 tối 100 ngày,
với chiều cao cây từ 1 tới 2,0 mét. Cây Vừng bắt nguồn từ Trung Mỹ lan
rộng tới các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới khác, mọc chủ yếu ở châu Á
và châu Phi. Loài cây này được trồng làm hàng rào để bảo vệ các khu vườn
và ruộng khỏi bị thú phá hoại .Cây Vừng chịu được độ khô hạn cao (thậm
chí có thể sống được ở hoang mạc và do đó không cạnh tranh với các loài
cây lương thực. Cây Vừng cũng được biết đến như là một loại cây vua có
dầu trong các loại cây có dầu. Vì hàm lượng dầu trong hạt rất cao, từ 50 tới
60% dầu trên trọng lượng hạt. Cây Vừng chịu hạn rất tốt và nó có thể trồng
và sinh trưởng trên các loại đất khác nhau ở Việt Nam.
Hạt vừng chứa dầu có thể được sử lý để tạo dầu diesel sinh học chất

màu sắc hoa, quả, hạt, kích thước hạt… Nhưng nhìn chung các giống vừng
đều có đặc điểm trung, đó là cây hàng năm có khả năng phân cành, chiều
cao cây biến động từ 1 – 2,0 m có hệ thống dễ phát triển quả nang chứa
nhiều hạt nhỏ có chứa dầu .
• Rễ
Nhìn chung rễ vừng là loại rễ cọc, rễ chính ăn sâu đồng thời dễ bên
cũng phát triển bề ngang. Rễ vừng phân bố chủ yếu ở tầng đất mặt 0 –
25cm. Rễ chính có khả năng sâu giúp cho cây vừng có khả năng chịu hạn
tốt, ngược lại khả năng chịu ngập của vừng lại rất kém, cây vừng có thể bị
chết nếu bị úng trong khoảng thời gian ngắn
Có hai dạng hình cơ bản được sử dụng để phân biệt hệ thống rễ, đó là
dạng hình có thời gian sinh trưởng dài có hệ thống rễ phát triển mạnh và
dạng hình có thời gian sinh trưởng ngắn có hệ thống rễ nông hơn và hẹp


10
hơn. Bên cạnh đó hệ thống dễ còn phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, đất đai
và chế độ canh tác.
• Thân cành
Cây vừng thuộc dạng thân thảo, dáng thẳng đứng, có thể phân cành
hoặc không phân cành tùy thuộc vào giống và kĩ thuật canh tác. Thân
thường có hình 4 cạnh với những rãnh dọc, có giống có dạng hình thân tròn,
thân bẹt (dẹt), có thân dạng hình chữ nhật. Thân có thể nhẵn, có thể có lông
hoặc rất nhiều lông tùy thuộc theo từng giống. Màu sắc của thân thay đổi từ
màu xanh nhạt đến màu tím nhưng phổ biến nhất là màu xanh đậm, khi quả
đã chín thì thân chuyển sang màu vàng cả. Chiều cao thân thay đổi theo
giống, môi trường và điều kiện trồng trọt, biến động từ 60 – 120cm (trong
điều kiện hạn thì thân có thể thấp hơn: 40– 60 cm ), các giống vừng trồng
ở nước ta thường có chiều cao từ 80- 120cm.
Phạm vi phân cành và kiểu phân cành cũng là một đặc tính quan trọng

hợp mọc thành chùm có tới 8 hoa.
Vừng là cây tự thụ phấn, côn trùng và gió có thể xúc tiến quá trình
thụ phấn. Thời gian ra hoa lên quan đến điều kiện thời tiết khí hậu (nhiệt độ,
ánh sáng) và đặc điểm di truyền giống.
• Quả
Quả vừng thuộc loại quả nang có chứa nhiều hạt nhỏ bên trong, lát cắt
có hình chữ nhật có nhũng khía sâu, mỏ quả ngắn ở đỉnh quả. Nhìn chung
mỗi dạng hình quả là một đặc tính của giống và có liên quan chặt chẽ tới
điều kiên môi trường. Độ dài của quả có thể thay đổi từ 2,5 - 8cm với
đường kính quả từ 0,5-2cm và số vách ngăn trên quả thay đổi từ 4-12. Trên
quả có nhiều lông, mật độ lông này là điều kiện tiêu chuẩn để phân loại
giống. Quá trình chín của quả diễn ra từ gốc lên ngọn như quá trình ra hoa
trước đó. Khi quả chín vỏ sẽ nứt dọc theo vách ngăn từ đỉnh quả xuống


12
đáy quả hoặc mở rộng 2 lỗ trên đỉnh quả , chất lượng quả cũng khác nhau
tùy vị trí đóng quả (thường quả ở vị trí thấp có hạt lớn hơn).
• Hạt
Nội phôi nhũ, có hình trứng dẹt,vỏ hạt có thể nhẵn hoặc giáp. Chiều
dài từ 2-4mm, chiều rộng khoảng 1,5-2mm, dày 1mm. Trọng lượng 1000
hạt từ 2-4g. Các giống vừng địa phương có hạt bé hơn, trọng lượng 1000
hạt chỉ trên 2g, hạt vừng có nhiều màu sắc khác nhau như : trắng, vàng hơi
đỏ, nâu, xám v.v… màu sắc của hạt là đặc trưng riêng của từng giống.
Vừng đen có to hơn vừng vàng và nâu. Hạt vừng chứa nhiều dầu và alơrôn,
bình thường trong hạt vừng có khoảng 50% dầu, 25% protein, 5% khoáng
chất, 1% canxi, 3% các chất hữu cơ, 4% chất sơ và 6% thủy phần… (Phạm
Văn Thiều )[9]. Do vừng có chứa hàm lượng dầu cao vừa khó khăn cho việc
bảo quản dễ mất sức nảy mầm. hàm lượng dầu của hạt vừng cũng thay đổi rất
lớn phụ thuộc vào giống và vụ mùa gieo trồng, có thể có mối tương quan giữa

đầy sức dài 7-8cm, hóa nhộng dưới đất, nhộng màu nâu đỏ và có vòi uốn
cong. Bướm lớn thân dài 40-50mm màu nâu và nhiều vân đen. Bướm thích
hoạt động vào ban đêm, thích vị chua ngọt. Sâu non thích ăn lá, đặc biệt là
lá non [17].
Cách phòng trừ: dùng bẫy chua ngọt để bắt bướm, cày ải phơi đất để diệt
nhộng, luân canh với cây trồng khác, diệt sâu non có thể dùng một trong các
loại thuốc: Alphatap, Alpha, Alpha cypermetrin, Lannate, Fenthion, Admire,
Fenbis, Decis, Regent 2 lá xanh.
Ngoài ra còn có rất nhiều loại sâu hại khác như sâu sừng, sâu róm,
rệp xanh, rệp bong, bọ trĩ, rầy v.v…
2.2.2. Những bệnh hại chính
Có nhiều bệnh hại trên cây vừng do các tác nhân như nấm, vi khuẩn, vi
rút gây ra. Tuy nhiên tuy thuộc vào cheé độ đất đai và chế độ canh tác của
từng vùng mà mức độ gây hại khác nhau, những bệnh gây hại chính ở cây


14
mè thường là bệnh lở cổ dễ, bệnh héo vàng, bệnh đốm lá, bệnh phấn trắng,
bệnh thán thư …
Bệnh lở cổ rễ: còn gọi là bệnh chết cây con (Rhroctonia solani), bệnh
phát triển mạnh khi ẩm độ và nhiệt độ cao, đất không thoát nước. Bệnh hại
chủ yếu giai đoạn cây con phần thân tiếp giáp với mặt đất có màu xanh tái
chuyển sang nâu mọng nước, cuối cùng khô teo, phía ngọn héo và chết
hàng loạt làm giảm mật độ nghiêm trọng (TS. Tạ Quốc Tuấn và cs) [8].
Phòng trừ: Cần thu dọn tàn dư cây bệnh, bón vôi và cày phơi ải để
diệt hạch nấm. Sử dụng các loại thuốc trừ bệnh như: Validacin, Anvil,
Derosal.
Bệnh héo vàng : Bệnh hại chủ yếu trên thân, hiện tượng thường có
màu nâu nằm phần dưới gốc thân, bệnh có thể nằm theo chiều dọc thân làm
cây sinh trưởng kém, các lá trở nên vàng, rộng dần từ dưới lên trên, bệnh

dưỡng nên được hấp thụ trực tiếp vào tế bào và được cơ thể tiêu dùng ngay.
Loại chất béo này cũng cung cấp khí oxy cho cơ thể để đốt các thức ăn
thành ra năng lượng góp phần hữu hiệu trong sự thanh lọc để loại trừ các
chất cặn bã. Dầu mè đen cũng còn phòng ngừa và chữa trị được bệnh táo
bón, bệnh ung mủ, da chốc lở và một số bướu độc nữa. Nó cũng công hiệu
để làm cho an thần, chữa chứng mất ngủ, kích thích sự hoạt động và gia
tăng sức mạnh của cơ tim vì nó chứa nhiều thành phần sinh tố E và đặc biệt
rất hữu ích cho người phụ nữ trong thời kỳ thai nghén. Hạt mè đen và dầu
vừng đen là một thứ thức ăn rất tốt cho những bệnh nhân đau gan và mật vì
nó là một loại dầu rất tốt cho hệ tiêu hóa.
Vừng được sủ dụng rất phổ biến để chế biến nhiều loại thức ăn
(bánh, kẹo, chè vừng…). Hạt vừng, theo sách bản thảo cương mục thì” hạt
vừng có vị ngọt, tính hàn độc, chất trơn, nhuận tràng , giải độc, sát khuẩn
tiêu nhiệt, chữa mụ lở rất công hiệu”. Hạt vừng là thành phần trong rất
nhiều loại thức ăn. Khoảng 70% sản lượng vừng trên thế giới chủ yếu được


16
chế biến trong bữa ăn, và ép dầu. Trong tổng số hạt vừng tiệu thụ đó thì
khoảng 65% dùng ép dầu và 35% dùng trong thực phẩm[16]. Ở Việt Nam
hạt vừng dùng phần lớn trong chế biến thức ăn như bánh kẹo, bột vừng, và
ép lấy dầu. Ở Ai Cập hạt vừng được chế biến bánh, kem, trong khi đó các
nước châu Phi thì dùng hạt vừng như là thành phần chính của các món
canh, gia vị, và họ cũng dùng trong chế biến bánh kẹo, và dầu ăn. Dầu
vừng là một trong những loại dầu thực vật rất tốt, và nó được mệnh danh là
nữa hoàng của các loại dầu thực vật. Bởi vì dầu vừng chứa rất nhiều các
chất chống oxy hoá, điển hình là chất sesamol. Các chất chống oxy hoá sẽ
giúp dầu vừng không bị giảm phẩm chất và chất lượng khi bảo bảo trong
thời gian dài. Trong lịch sử, người Nhật, người Việt Nam hay người Châu
Á nói chung, đã dùng dầu vừng trong nấu nướng, chiên xào. Và người châu


1,8

1,4

Methyonin

3,2

3,2

Phenilatnine

8,0

5,0

Leucine

7,5

8,0

Isolecine

4,8

6,0

valine

18
Licithin và Myristic axít, các chất này như là chất chống oxy hóa, chất cầm
máu, và chất ngăn ngừa ung thư (xem trong bảng 2.2) [15].
Năm 1976, Tyler và cộng sự đã báo cáo rằng vừng được dùng như
là một loại dược phẩm và dầu vừng được dùng như là một hoạt chất hoà tan
các chất trong cơ thể, dinh dưỡng. Năm 2000 tác giả Jellin[24] và cộng sự
đã báo cáo rằng Lecithin có hiệu quả để làm giảm sự nhiễm mỡ trong gan
và điều trị thành công bệnh viêm da, khô da. Hàm lượng Lecithin trong hạt
vừng là 58 tới 395 ppm và Myristic axít được tìm thấy trong hạt vừng với
hàm lượng 328 tới 1728 ppm. Và hạt vừng, dầu vừng cũng được dùng như
là một chất nhuận tràng. Dầu vừng đã được biết là dùng để làm giảm
cholesterol và chứng cao huyết áp. Theo báo cáo của Morris 2002[24] thì
dầu vừng đã được dùng từ thế kỷ thứ IV ở Trung Quốc, như là một loại
thuốc chữa bệnh răng miệng, và thuốc đánh răng. Ở Ấn Độ người ta dùng
dầu vừng như một loại thuốc súc miệng sát trùng kháng vi khuẩn, trị các
bệnh liên quan tới hội chứng lo âu, mất ngủ.
Bảng 2.2: Vừng dùng cho thực phẩm, dược, công nghiệp và mỹ nghệ
Công dụng của vừng
Hoạt chất
Công nghệp và mỹ nghệ
Kháng nấm bệnh
Chlorosesamone
Kháng vi khuẩn, thuốc trừ sâu
Sesamin, sesamolin
Mỹ phẩm
Myristic acid
Chất hoà tan, xà phòng
Sesame oil
Dược phẩm
Các axit béo chống oxy hóa, lão hoá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status