Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ ở xã - Pdf 35

LUẬN VĂN:

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về dân chủ ở xã

Mở đầu


1. Lý do lựa chọn đề tài
Tại Việt Nam, nghiên cứu về dân chủ ở các làng xã có vị trí đặc biệt quan trọng.
ông Vũ Đình Hòe, trong Hồi Ký Thanh Nghị đã nhận định: "Muốn tìm hiểu lịch sử hình
thành dân tộc Việt Nam thì phải tìm hiểu cộng đồng làng xã, và muốn xây dựng lại đất
nước Việt Nam thì cũng phải bắt đầu bằng việc xây dựng lại cộng đồng làng xã. Vì không
có làng xã Việt Nam thì không có quốc gia Việt Nam" [43, tr. 318].
Dân chủ là đề tài cũ nhưng luôn mới. Cũ vì sự thật dân chủ có những tiền đề từ
thời cổ đại được phát triển với rất nhiều tư tưởng, luận thuyết khác nhau, nhưng đến hôm
nay nó vẫn mới mẻ, vẫn là vấn đề mang tính thời sự, vẫn mở ra rất nhiều cơ hội tiếp tục
tìm tòi, khám phá tìm ra hướng phát triển cho mỗi nhà nước, mỗi cộng đồng.
Dân chủ ở xã đang là vấn đề bức xúc hiện nay. Dân chủ ở xã nếu được phát huy
nghiêm túc, đúng hướng sẽ thực sự là đòn bẩy quan trọng, là chiếc chìa khóa mở ra tạo sự
chuyển biến quan trọng trên nhiều phương diện với đất nước có hơn 80% dân cư làm
nông nghiệp như Việt Nam. Dân chủ hóa cũng chính là để phát huy các tiềm năng, tài
năng của con người; các năng lực xã hội, và cũng chính là phát huy nội lực của dân tộc.
Sở dĩ tác giả lựa chọn vấn đề dân chủ ở xã mà không phải dân chủ ở cấp xã (bao
gồm xã - phường - thị trấn) vì phường và thị trấn có những đặc điểm riêng khác so với cơ
sở xã. Phường và thị trấn ít bị các quan hệ dòng tộc, làng xóm tác động, và có trình độ
văn hóa cao hơn ở xã. Xã là nơi tập trung chủ yếu của cư dân nông thôn, với địa bàn rộng
lớn, chiếm khoảng 80% dân số, 70% lao động xã hội, và chiếm tới 85% trong tổng số các
đơn vị hành chính cấp cơ sở: có đặc điểm chung là nơi vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề
tàn tích của chế độ phong kiến, nhưng cũng lưu giữ được nhiều truyền thống tốt đẹp có
thể kế thừa trong quá trình mở rộng dân chủ hiện nay.

cá nhân và "cái tôi" của người Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2002; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Tâm lý xã hội trong quá trình thực
hiện qui chế dân chủ ở cơ sở, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004....
Khai thác dưới góc độ luật học liên quan đến đề tài có một số bài viết như: Bàn
về cải cách chính quyền nhà nước ở địa phương của tác giả Nguyễn Đăng Dung, đăng
trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9/2003; Bài viết: Dân chủ và pháp luật của PGS.TS


Hoàng Thị Kim Quế đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 7(136), 2003; Bài viết: Dân
chủ làng xã: truyền thống và hiện tại của tác giả Nguyễn Việt Hương, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật, số 8 (196)/2004...
Các tài liệu tham khảo nước ngoài nghiên cứu về dân chủ khá nhiều nổi bật như
cuốn A preface to Democratic Theory, của tác giả Robert A.Dahl. The University of
Chicago Press, Chicago 60637, 1956; cuốn Democracy: the unfinished journey, 508B.C
to 1993 A.D, của Đại học Oxford, Hoa Kỳ 1992... Những tác phẩm đã được dịch sang
tiếng Việt như: Phát triển là quyền tự do của tác giả Amartya Sen (người đạt giải thưởng
Nobel về kinh tế học), CIEM (Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương) và Nhà xuất
bản Thống kê, Hà Nội, 2002; Alvin Toffler, Làn sóng thứ ba (The third wave), Nhà xuất
bản Thanh niên, Hà Nội, 2002. …
Tuy nhiên, chưa có bất kỳ công trình nào nghiên cứu đề tài "Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn về dân chủ ở xã" nói trên.
3. Mục đích đề tài và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
tiễn về việc thực hiện dân chủ ở xã dưới cách tiếp cận liên ngành, nhưng chủ yếu dưới
góc độ pháp lý. Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn đối với đơn vị hành chính xã
(không mở rộng đến các đơn vị tương đương như phường, thị trấn).
Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề dân chủ và dân chủ ở xã;
- Nghiên cứu, xác định đặc trưng căn bản của dân chủ ở xã;
- Đánh giá thực trạng dân chủ ở xã;

một hiện thực kinh tế (thị trường tự do); 5- dân chủ là một hiện thực xã hội (các tổ chức
phi chính phủ, các tổ chức xã hội, phong trào lao động và xã hội quốc tế); 6- dân chủ là
trạng thái của hệ thống quan hệ quốc tế (quyền tự quyết dân tộc, chủ quyền quốc gia…).
Căn cứ vào phạm vi có thể hiểu dân chủ ở nghĩa phổ quát: ở tầm quốc tế, ở mỗi khu vực;
mỗi quốc gia; từng cộng đồng dân cư; và ở sự cảm nhận về dân chủ của từng người dân.
Lý thuyết về dân chủ đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài trong lịch sử
nhân loại. Thực tiễn của dân chủ là kết quả của sự đấu tranh bền bỉ của các lực lượng tiến
bộ chống lại các thể lực phản động. Cội nguồn của khái niệm dân chủ bắt nguồn từ xã hội
Athen cổ đại, dân chủ theo gốc tiếng Hy Lạp là ''demokratia" nghĩa là quyền lực thuộc về
nhân dân [85, tr. 86], nhân dân có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến cuộc sống,
bản thân và xã hội. Dân chủ cũng được hiểu là một trong những hình thức chính quyền
tuyên bố chính thức nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số và thừa nhận quyền tự do và
bình đẳng của công dân [85, tr. 87].
Dân chủ sơ khai nhất xuất hiện ở Hy Lạp cổ đại, dân chủ được quan niệm là sự
tham dự trực tiếp của các công dân vào hoạt động của nhà nước. Chính vì lý do đó mà
người ta nghĩ rằng dân chủ không thể áp dụng trên diện rộng. Tại đây, chỉ có những công
dân có tài sản và công dân tự do mới có quyền dự Đại hội, dân chủ không bao gồm


những người nô lệ, hay dân ngụ cư thời đó không có quyền chính trị cũng như quyền dân
sự. Tất cả người bình dân đều được thảo luận và quyết nghị những vấn đề lớn của nhà
nước như: chiến tranh và hòa bình, giám sát các cơ quan nhà nước, cung cấp các lương
thực cho thành phố, bầu những chức vụ cao cấp của bộ máy nhà nước bằng phương thức
bỏ phiếu kín hoặc biểu quyết duyệt những việc quan trọng nhất của tòa án.
Còn ở La Mã cổ đại, việc tham gia Đại hội nhân dân ở La Mã dựa trên sự phân
biệt tầng lớp. Tất cả những người đàn ông cầm vũ khí đều được chia thành sáu tầng lớp,
tùy thuộc vào tài sản của họ. Trong Đại hội nhân dân, tức đại hội các centuries (comitia
centuriata), những công dân đều đứng theo biên chế nhà binh, thành từng đội, trong các
centuries của họ, mỗi centuries gồm một trăm người và là một đơn vị biểu quyết. Ăngghen chỉ ra rằng: những tầng lớp thứ nhất cung cấp 80 centuries; tầng lớp thứ hai: 22;
tầng lớp thứ ba: 20; tầng lớp thứ tư: 22; tầng lớp thứ năm: 30; tầng lớp thứ sáu cung cấp 1

Montesquieu hay Rousseau vẫn coi chính thể dân chủ là một thể chế chính trị hạn chế,
không thích dụng với các quốc gia lớn, bởi tính trực tiếp của nó. Montesquieu cho rằng:
"ưu thế lớn của các đại biểu là họ có thể bàn cãi về mọi công việc. Dân chúng thì không
thể làm như thế được. Đây làm một trong những điều bất tiện lớn nhất của dân chủ" [98,
tr. 103-104]. Rousseau cũng nhận thấy rằng, dân chủ bị hạn chế bởi tính trực tiếp. Trong
cuốn Bàn về khế ước xã hội, Rousseau cũng cho rằng không phải ý kiến của số đông là
sáng suốt: "Cơ quan quyền lực tối cao có thể phó thác việc quản lý chính phủ cho toàn
dân hoặc cho đại bộ phận dân chúng; như vậy sẽ có nhiều công dân - pháp quan hơn là
số công dân thường" [70, tr. 101].
Về mặt phạm vi, dân chủ rất toàn diện bao quát các lĩnh vực đời sống xã hội, từ
kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa tư tưởng; từ các mối quan hệ giữa con người với con
người; đến quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng; giữa công dân với nhà nước, các tổ chức
và thể chế hiện hành. Tác động trực tiếp nhất đến dân chủ là dân chủ kinh tế và dân chủ
chính trị. Cốt lõi của dân chủ kinh tế là lợi ích; cốt lõi nhất của dân chủ chính trị là quyền
lực thuộc về nhân dân, được thực hiện thông qua chế độ bầu cử dân chủ, chế độ kiểm soát
quyền lực nhà nước sau khi được thiết lập một cách dân chủ, và chế độ bãi miễn nghiêm
khắc đối với những nhân viên nhà nước thoái hóa, biến chất. Dân chủ trong lĩnh vực ý
thức - tư tưởng đòi hỏi sự giải phóng tiềm năng sáng tạo của tư duy con người và tự do tư
tưởng. Dân chủ còn biểu hiện ở mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng và xã hội trong
sự thống nhất hữu cơ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, lợi ích với trách nhiệm.


Dân chủ, tự do, công bằng, bình đẳng… là những khái niệm có sự tương đồng mà
nếu phân biệt rạch ròi thì sự phân biệt đó chỉ có ý nghĩa tương đối. Dân chủ, tự do luôn
thể hiện khuynh hướng muốn vượt ra mọi ràng buộc, luôn là khát vọng, mong ước của
con người bất luận con người đó là ai, làm gì, ở đâu. Biểu hiện của dân chủ ngày nay rất
đa dạng, dân chủ có thể được hiểu là hình thức nhà nước (dạng tổ chức quyền lực nhà
nước) thể hiện mối quan hệ giữa cộng đồng dân cư và nhà nước; hình thức hoạt động của
mặt trận tổ quốc và các tổ chức xã hội; là hình thức cụ thể trong các lĩnh vực của xã hội
công dân; là tự do cá nhân - một giá trị mang tính phổ biến trong cuộc sống đời thường.

trọng tính đa dạng của các nhóm lợi ích, nhiệm vụ của dân chủ không phải là
đè bẹp ý chí của những thiểu số đó mà là tìm ra trong số những nhóm lợi ích
đó tiếng nói chung [100, tr. 34].
Alvin Toffler lập luận rằng, các nhà cai trị làn sóng thứ hai (làn sóng văn minh
công nghiệp) luôn luôn tự cho là phát ngôn nhân danh đa số, vì tính hợp pháp của họ phụ
thuộc vào nó, ông cũng thừa nhận rằng trong suốt kỷ nguyên nền văn minh làn sóng thứ
hai, cuộc chiến đấu cho nguyên tắc đa số đã có ý nghĩa nhân đạo và giải phóng. Ngày
nay, khi xuất hiện làn sóng thứ ba, người nghèo không còn chiếm đa số và họ trở thành
thiểu số, do đó nguyên tắc đa số không còn là một nguyên tắc hợp lý nữa, nó cũng
không còn nhân đạo hoặc dân chủ nữa; vấn đề cần hoàn thiện là phải hiện đại hóa toàn
bộ hệ thống để tăng cường vai trò của các nhóm thiểu số khác nhau nhằm cho phép họ tạo
thành đa số [2, tr. 339]. Tác giả luận văn cho rằng, Alvin Toffler lập luận như vậy là có
căn cứ vì thế kỷ XX trở về trước dường như nguyên tắc đa số luôn ngự trị và nó luôn có
nghĩa là sự thay đổi tốt hơn cho người nghèo, nhưng suy nghĩ lại sẽ thấy dân chủ đa số
thực chất là dân chủ ở cấp độ thấp, là mức độ phát triển thuần túy và sơ khai về dân chủ.
Nguyên tắc 51% rõ ràng là một công cụ đơn thuần về lượng, cái gì để đảm bảo cho
chất lượng quan điểm của một người.
Chúng tôi cho rằng, dân chủ trong thế kỷ XXI phải là dân chủ thực chất. Dân
chủ chẳng những chấp nhận sự khác biệt, mà còn lấy sự khác biệt, tính đa dạng trong
nhân cách để làm nền tảng cho phát triển. Mọi sự khác biệt đều có quyền tồn tại và bởi
vậy mà thế giới mới đa dạng, phong phú và nhiều màu sắc. Thế nên những khác biệt là


bình đẳng với nhau và dân chủ như môi trường nuôi dưỡng và bảo tồn các bộ phận thiểu
số trong xã hội, là sự khoan dung và chấp nhận lẫn nhau giữa chủ quyền của thiểu số và
đa số. Các đặc trưng sắc tộc, các luật tục địa phương, các cộng đồng thiểu số, các nền văn
hóa độc đáo không lặp lại, các thổ ngữ, văn tự v.v… đều là những giá trị cần được dân
chủ tôn trọng và bảo tồn bằng những đặc lệ.
Hơn nữa, cần phải thấy được rằng, bản chất của dân chủ là chấp nhận sự đa
dạng hợp lý, dân chủ không xua đuổi, không áp đặt các ý kiến, dân chủ thu nhận tất cả

dân. Quân điếu phạt trước lo trừ bạo" [83, tr. 201]. Nguyên nhân thắng lợi của cuộc
kháng chiến chống quân Minh đã được Nguyễn Trãi đúc kết: "Nêu hiệu gậy làm cờ, tập
hợp khắp bốn phương dân chúng. Thết quân rượu hòa nước, dưới trên đều một bụng cha
con". ông ví dân như nước, các triều đại phong kiến như con thuyền; thuyền nổi được là
nhờ nước; khẳng định tư tưởng thái bình thịnh trị: "Cái gốc của nhạc là ở nơi thôn cùng
xóm vắng không có một tiếng hờn giận oán sầu" [83, tr.202]; khẳng định trách nhiệm của
người cầm quyền: "Phàm người có chức vụ coi quan trị dân đều phải theo phép công
bằng... đổi bỏ thói tham ô, sửa trừ tệ lười biếng, coi công việc của quốc gia là công việc
của mình; lấy điều lo của sinh dân làm điều lo thiết kỷ" [83, tr. 199].
Thực tế là đất nước ta luôn luôn gặp thiên tai và ngoại xâm, làm cho người cầm
quyền trước đây đã ý thức được rõ ràng vai trò của người dân. Không chỉ Trần Quốc
Tuấn, Nguyễn Trãi nói về dân mà cả Gia Long, Minh Mệnh và Tự Đức nữa cũng không
ngớt nói về dân [92, tr. 26].
Cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, trong khi vua quan nhà
Nguyễn dâng đất và ký hiệp ước đầu hàng, thì những người dân ấp, dân lân đã anh dũng
đứng lên chống giặc, bảo vệ quê hương, đất nước. Tinh thần ấy được ca ngợi trong bài
"Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu. Sự nghiệp văn học của Nguyễn Đình
Chiểu vượt xa những người đương thời không phải nhờ học vấn khoa cử mà nhờ lòng tin vô
hạn vào nhân dân lao động.
Trong cuốn Hợp tuyển văn thơ yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX (1900 1930), của Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, năm 1972, Phan Châu Trinh đã khẳng định:
"Ai coi nước nhà như một món của riêng mình thì ví như bọn trộm cướp, còn ai cậy
quyền mà áp chế nhân dân thì ví như quân phản nghịch"; còn Phan Bội Châu trong tác
phẩm "Hải ngoại huyết thư" nổi tiếng ông đã thấy được vai trò to lớn của dân: "Sông xứ
Bắc, bể phương Đông. Nếu không dân cũng là không có gì.". Nói dân là chủ nhưng dân là
ai? Được hình dung trong tập hợp thế nào? Làm chủ cái gì và làm chủ như thế nào? Vào
thời điểm đó, cái được chú ý là chủ quyền quốc gia chứ chưa phải là dân quyền, nhân
quyền trong đời sống. Tư tưởng về dân chủ của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là rất
tiến bộ, song vào thời điểm lịch sử đó, cái được chú ý là chủ quyền quốc gia chứ chưa



Giáp Hải, quan đại thần thời Mạc Mậu Hợp, thấy chính sách của nhà Mạc không xuất
phát từ lợi ích của nhân dân, gặp khi có bão lớn, ông đã dâng sớ lên vua Mạc và nói rằng:


Trời ra tai không phải vô cớ, chính ở người mà ra. Tai biến về gió bão
là trời hiện điềm để răn bảo... Vậy xin bệ hạ lấy sự biến của trời là đáng sợ,
coi nhân sự là cần phải sửa...thi hành mọi điều khoan tất cho dân; ban ra ân
dụ để tha những dân vô tội bị ức hiếp; đặc biệt sai quan sở tại thăm nom giúp
đỡ luôn. Có thế, ơn của trên ban xuống mới thấm đến kẻ dưới. Lòng người đã
vui, tai trời sẽ hết...Xin bệ hạ tôn trọng gốc nước, cố kết lòng dân, hậu đãi mà
đừng làm khốn dân; giúp đỡ mà đừng làm hại dân...nhẹ bớt cho dân những
việc phục dịch tức là chính sách của vương đạo đó [17, tr. 256-257].
Đại thần Ngô Trí Hòa đã cùng đại thần Lê Tri Bật vào năm 1618 làm tờ khai dâng
chúa Trịnh điều trần về chính sách trị dân của triều đình gồm 6 việc có lợi cho dân: "1. Xin
sửa đức chính để cầu mệnh trời giúp; 2. Xin đè nén kẻ quyền hào để nuôi sức dân; 3. Xin
cấm phu dịch phiền hà để đời sống của dân được đầy đủ; 4. Xin bớt xa xỉ để của dân được
thừa thãi; 5. Xin dẹp trộm cướp để dân được yên; 6. Xin sửa sang quân chính để bảo vệ tính
mạng cho dân" [17, tr. 271-272]. Nguồn gốc sâu xa của tư tưởng dân chủ đó một phần là
sự ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo, thuyết "dân quý quân khinh", thuyết "dân là
nước, vua là thuyền" của Tuân Tử... đều là biểu hiện tập trung của tư tưởng dân vi bản
trong tư tưởng Nho gia thời Tiên Tần. Chủ nghĩa dân vi bản cho rằng, an nguy quốc gia,
chính trị có bình ổn hay động loạn được quyết định bởi lòng dân thuận hay nghịch "trời
sinh ra dân, không phải sinh ra ra vì vua; trời lập ra vua cũng là vì dân" [12, tr. 501].
Thứ hai, khi luật pháp đã ban hành nhân dân có khả năng vô hiệu hóa pháp luật:
Trong chiều sâu lịch sử, trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, làng trong lịch sử Việt Nam là
một đơn vị tụ cư, có không gian văn hóa, được sử dụng như một đơn vị hành chính cơ sở
mà nhà nước phải dựa vào. Trong số những dòng phát triển khác nhau của thời kỳ Bắc thuộc
ở nước ta (179 Trcn đến 905 Scn) có hai dòng đối nghịch luôn luôn diễn ra một cách quyết
liệt trên đất nước ta, đó là Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, trong đó có thể kể đến hàng loạt
các cuộc khởi nghĩa chống lại chính quyền đô hộ và luật pháp của nhà Hán đó là cuộc

chuyên chế, lật đổ bọn bạo chúa, tham quan, cường hào với ước mơ một xã hội công
bằng. "Được làm vua, thua làm giặc"; "Bao giờ dân nổi can qua, con vua thất thế lại ra
quét chùa"; "Thà rằng bạo động bất lương, còn hơn chết đói nằm đường thối thây" [49,
tr. 112] Với những người dân sống theo nghĩa đồng bào, cộng đồng xã hội như vậy sự
làm chủ ở đây có chăng chỉ là việc chủ động làm tròn nghĩa vụ, đền đáp ơn nghĩa tổ tiên,


là tình nghĩa đồng bào ruột thịt [20, tr. 107]. Trong kinh tế, chính từ tính cộng đồng nên ai
bỏ làng đi bị coi là biến chất, dẫn đến hệ quả là không khuyến khích việc làm giàu, làng
xã đã hình thành nên một vách ngăn vô hình đã khiến người dân quê rất khó "mở mày mở
mặt" với thiên hạ. Chính từ những cơ sở của lịch sử, kinh tế và xã hội đã phân tích cho
thấy yếu tố dân chủ trong truyền thống Việt Nam chưa thực sự được quan tâm chú trọng.
Dân chủ trong lịch sử Việt Nam chủ yếu tồn tại ở hai dạng là dân chủ nông dân mà mục
tiêu cao nhất của nó là hướng đến bình quân chủ nghĩa, và dân chủ làng xã lấy quan hệ
cộng đồng để trói buộc con người, từ đó dẫn đến thủ tiêu vai trò cá nhân.Trong đấu tranh
xã hội, tư tưởng dân chủ của nông dân Việt Nam chỉ dừng lại ở yêu cầu bình đẳng xã
hội, bình đẳng tài sản mà mức độ phát triển cao nhất là chủ nghĩa bình quân về kinh
tế - xã hội và tư tưởng bạo động về mặt chính trị. Tư tưởng đó gắn liền với tâm lý người
nông dân công xã, người sản xuất nhỏ, nó có mặt chính đáng và tích cực của nó trong
cuộc đấu tranh chống chế độ chuyên chế, chống những bất công của xã hội phong kiến,
nhưng cũng bộc lộ mặt không tưởng và bất lực của người nông dân trong sự nghiệp tự
giải phóng mình.
Khởi nguồn của dân chủ là từ thôn, làng - đơn vị hành chính tự nhiên gần dân
nhất. Trong lịch sử, quan niệm về đơn vị hành chính cơ sở đã có những bước phát triển
tiến bộ theo tiến trình phát triển của nhà nước phong kiến Việt Nam. Làng là thuật ngữ
thuần Việt, dùng để chỉ khối dân cư ở nông thôn, tạo thành một đơn vị có đời sống riêng
về nhiều mặt và vào thời kỳ đầu của lịch sử nhà nước phong kiến Việt Nam, làng được
xác định là đơn vị hành chính cơ sở. Xã là một từ Hán Việt được hiểu với những nghĩa
khác nhau, trong đó có nghĩa là đơn vị hành chính cơ sở ở nông thôn. Thuật ngữ này bắt
đầu được sử dụng ở Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ VII khi Khâu Hòa (Giao châu tổng

các lý, mỗi lý có khoảng 110 gia đình và đứng đầu là lý trưởng (chức danh lý trưởng lần
đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam thời kỳ này, sau này được phổ biến dùng ở triều Nguyễn).
Nếu như ở thời Trần xã quan là do nhà vua bổ nhiệm, thì bắt đầu từ năm 1466, xã
quan được đổi thành xã trưởng và từ năm 1483 vua Lê Thánh Tông ra sắc chỉ về bầu xã
trưởng dưới hình thức họp dân trong xã lại xét chọn. Xã trưởng không phải là người của
triều đình mà do dân trong xã đề cử, quan trên bổ nhiệm. Thông qua việc chuyển từ cơ
chế bổ nhiệm xã quan sang cơ chế bầu xã trưởng ta có thể thấy tính chất dân chủ đã được
thể hiện ở cấp độ cao hơn.


Theo thống kê vào những năm 1920 - 1921, ở Việt Nam đã có tới 22.565 hương
đảng tiểu triều đình trong đó Bắc Kỳ có tới 10.887 làng xã, Trung Kỳ có tới 9.871 làng xã
và Nam Kỳ có 1.871 làng xã và Nam Kỳ có 1.861 xã ấp. Ngày nay làng, thôn, ấp, bản là
đơn vị xã hội dưới đơn vị hành chính cơ sở là xã, qui mô của xã cũng lớn hơn qui mô của
làng xã trong lịch sử.
Vào những năm đầu khi mới giành được chính quyền từ tay thực dân Pháp, nhà
nước chủ trương hợp các xã nhỏ lại, bỏ cấp tổng, do vậy xã lúc đó gồm 2, 3 xã cũ, có khi
đến 4, 5 xã cũ. Dưới xã là thôn nhưng thôn không phải là đơn vị hành chính cơ sở. Giai
đoạn này, qui mô của xã được qui định cụ thể:
+ Xã đồng bằng dài từ 3 đến 10 km, trên 3.000 dân;
+ Xã trung du dài từ 10 đến 20 km, trên 2.000 dân;
+ Xã miền núi dài từ 30 đến 60 km, dân cư có từ 1 đến 2 hộ/ 1 km2
Năm 1952 qui mô xã được xác định lại:
+ Xã đồng bằng dài 5 km, có 6.000 dân là tối đa;
+ Xã trung du dài 7 km, có 5.000 dân là tối đa;
+ Xã miền núi dài 10 đến 15 km, có dân cư thưa thớt.
Năm 1953 qui mô xã được xác định là:
+ Xã đồng bằng dài 3 km, có đến 2.500 dân là tối đa;
+ Xã trung du dài 4 km, có đến 2.000 dân là tối đa;
+ Xã miền núi từ 6 đến 10 km, dân số không qui định;

vị tụ cư bền vững. Như đã phân tích ở trên, làng là một thiết chế có tính chất lịch sử, có
sức sống trường tồn với lịch sử dân tộc. Từ lâu làng đã là đơn vị tụ cư và có hiện thực sinh
động về dân chủ, đó là điều không thể phủ nhận.
Chế độ làng xã tự trị là một chế độ đặc biệt được hình thành và phát triển từ rất
sớm, nguyên nhân sâu xa xuất phát từ các nhu cầu:
(i) Nhu cầu quan hệ huyết thống: đó là nhiệm vụ của các "họ";


(ii) Nhu cầu củng cố quan hệ hàng xóm láng giềng: đó là nhu cầu của các "ngõ"
"xóm";
(iii) Nhu cầu tạo một thế bình đẳng, dù chỉ về hình thức, giữa mọi "tiểu nông tư
hữu" cùng làng - xã: đó là nhiệm vụ của các giáp, tổ chức mà cách sắp xếp người dựa
thuần trên lứa tuổi của những thành viên.
(iv) Nhu cầu riêng của từng cá nhân: đó là nhiệm vụ của các phe.
Có thể khái quát hóa đặc trưng của tính tự trị của thôn làng ở phác đồ sau:

(I
)

(I
I)
(I
II
Vòng tròn nhỏ ở trung tâm (I) là bộ phận "lý dịch" do lý trưởng đứng đầu, mà
nhiệm vụ chính là thi hành, đối với từng hộ và từng người dân trong xã do nó quản, mọi
lệnh từ triều đình bên trên áp xuống (thông qua các quan lại trung gian: phó lý, trương
tuần, và các tuần đinh cũng là do dân đinh trong xã bầu ra). Xã trưởng chính là đầu mối,
là mắt xích liên hệ nhà nước phong kiến và cộng đồng dân cư trong xã thông qua Hội
đồng kỳ mục. Xã trưởng là người đại diện cho nhân dân toàn xã. Xã trưởng có trách
nhiệm thi hành các quyết định của Hội đồng kỳ mục và các quyết định của cơ quan nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status