Nghi lễ của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai hiện nay - Pdf 35

VIỆN HẦN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRỊNH THỊ LAN

NGHI LỄ CỦA NGƯỜI HÀ NHÌ
Ở HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI HIỆN NAY

Chuyên

: Nhân học

Mã số

: 62.31.03.02

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

HÀ NỘI - 2016


Công trình được hoàn thành tại: Học Viện Khoa học Xã hội
Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Văn Minh
TS. Trần Hồng Hạnh

Phản biện 1: PGS. TS. Nguyễn Văn Chính
Phản biện 2: PGS.TS. Lê Ngọc Thắng
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Thanh

chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về nghi lễ
của dân tộc này.
Nghi lễ là một bộ phận quan trọng trong đời sống văn hóa tộc người, là môi
trường sản sinh, tích hợp, bảo tồn và trao truyền những giá trị văn hóa dân tộc.
Thông qua các sinh hoạt nghi lễ, một phần tri thức tộc người được duy trì, sáng tạo,
trao truyền giữa các thế hệ trong gia đình, cộng đồng và lan tỏa sang những cộng
đồng khác. Tính cố kết dân tộc, cộng đồng và gia đình một phần cũng được thể
hiện qua niềm tin và cách thức thực hành nghi lễ. Như vậy, nghi lễ là một trong
những thành tố văn hóa mang đậm bản sắc văn hóa tộc người, nghiên cứu về nghi
lễ không những góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tộc
người mà còn phù hợp với thực tiễn “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người
Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” theo tinh thần Nghị quyết
TW 9 khóa XI.
Những năm qua, ở nhiều thôn bản của người Hà Nhì tiếp giáp với Trung Quốc
và Lào đồng bào vẫn có sự giao lưu, tiếp xúc với những người đồng tộc ở bên kia
biên giới, qua đó thắt chặt thêm mối quan hệ tộc người, quan hệ giữa các địa
phương và từng bước nâng cao đời sống người dân. Tuy nhiên, điều này cũng đang
tiềm ẩn những vấn đề nhạy cảm, có nguy cơ gây ảnh hưởng phức tạp đối với tình
hình an ninh vùng biên giới và công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của
Nhà nước ta, nhất là ở những khu vực có người Hà Nhì sinh sống. Do vậy, việc
nghiên cứu về người Hà Nhì ở Việt Nam hiện nay nói chung và nghi lễ nói riêng có
ý nghĩa quan trọng, góp phần nhận biết rõ hơn các mối quan hệ và giao lưu văn hóa
của tộc người này, từ đó góp phần phát triển tốt hơn mối quan hệ tộc người, đảm bảo
sự ổn định an ninh chính trị vùng biên cương của Tổ quốc.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, việc giao lưu, tiếp biến văn hóa đã và đang
diễn ra ngày càng mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến đời sống của các tộc người. Cũng
như các tộc người khác, văn hóa của người Hà Nhì nói chung và nghi lễ nói riêng
đang có sự biến đổi nhất định. Để cung cấp thêm những luận cứ khoa học làm cơ sở
cho việc tham khảo, xây dựng các chính sách, giải pháp phù hợp với thực tiễn, nhằm
nâng cao đời sống văn hóa nói chung, văn hóa tâm linh nói riêng của người Hà Nhì

nước để kết quả của luận án mang tính toàn diện hơn.
4. Nguồn tư liệu của luận án
Ngoài việc kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu đã công bố trên sách, tạp
chí, báo cáo khoa học và các nguồn tư liệu khác liên quan. Nguồn tư liệu do tác giả
tiến hành thu thập qua các đợt điền dã từ năm 2010 đến 2015. Đây là nguồn tư liệu chủ
yếu và được xử lý phân tích theo hệ thống gắn với các nội dung luận án.
5. Đóng góp mới của luận án
- Một là, luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu tương đối chuyên sâu, toàn
diện và có hệ thống về nghi lễ của người Hà Nhì Đen ở địa bàn nghiên cứu.
- Hai là, phân tích làm rõ những nét tương đồng và khác biệt trong nghi lễ
truyền thống và hiện tại của tộc người này cũng như đánh giá về các giá trị của nghi
lễ trong đời sống tộc người.
- Ba là: cung cấp luận cứ khoa học và đề xuất một số kiến nghị, giải pháp làm
cơ sở cho việc tham khảo hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội và bảo
tồn văn hóa nhóm Hà Nhì Đen ở Lào Cai trong bối cảnh hiện nay.
6. Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án được bố
cục thành 05 chương, gồm:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cở sở lý thuyết, phương pháp và địa
bàn nghiên cứu
Chương 2: Nghi lễ trong chu kỳ đời người
Chương 3: Nghi lễ thờ cúng tổ tiên, nghề nghiệp và cầu an trong gia đình
2


Chương 4: Nghi lễ cộng đồng
Chương 5: Kết quả và bàn luận
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT,
PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Hà; Một số đặc điểm về thiết chế làng bản của người Hà Nhì ở miền núi phía Bắc
Việt Nam (2007) của tác giả Nguyễn Ngọc Thanh; Năm 2007, Ngô Lệ có bài Người
Hà Nhì và người Hà Nhì ở Lai Châu; Năm 2008, tác giả Hoàng Sơn công bố tác
phẩm Người Hà Nhì ở Huổi Luông (huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai châu); Tri thức ứng xử
với nguồn nước của người Hà Nhì ở xã Huổi Luông, Phong Thổ, Lai Châu (2008)
của Đặng Thị Oanh. Cũng về tri thức địa phương, tác giả Trần Hữu Sơn (2008) có
bài Tri thức bản địa của người Hà Nhì với vấn đề bảo vệ rừng. Tác giả Vũ Quốc
Khánh và cộng sự (2010) đã công bố tác phẩm Người Hà Nhì ở Việt Nam (The Hà
3


Nhì in Việt Nam); Năm 2010 Tác giả Dương Tuấn Nghĩa có bài Vài nét về cách đặt
tên theo phụ tử liên danh với vấn đề nghiên cứu lịch sử người Hà Nhì Đen và cuốn
Tri thức dân gian và nghi lễ truyền thống trong sản xuất nông nghiệp của người Hà
Nhì Đen ở thôn Lao Chải, Lào Cai (2011). Cùng năm 2011 có Đề tài cấp bộ về Một
số vấn đề cơ bản về dân tộc dưới tác động của sự phát triển vùng biên giới Việt Trung (Nghiên cứu người Hà Nhì ở một làng của tỉnh Lào Cai và một làng thuộc
châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc) do Vương Xuân Tình làm chủ nhiệm;
Năm 2012, Bùi Quốc Khánh giới thiệu bài viết Sử thi - Há pà P'hùy ca Na ca của
người Hà Nhì ở Mường Tè; Năm 2013, nhóm tác giả Chu Chà Mè, Chu Thùy Liên,
Lê Đình Lai giới thiệu những câu chuyện kể của người Hà Nhì qua cuốn Truyện cổ
Hà Nhì; Năm 2013, Đặng Thị Oanh cùng các cộng sự công bố cuốn Lễ hội dân
gian các dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên; Năm 2015, tác giả Trịnh Thị Lan có 3 bài:
Nghi lễ tang ma của người Hà Nhì; Nghi lễ và kiêng kỵ trong sinh đẻ truyền thống
của người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai và Một số biến đổi trong hôn
nhân của người Hà Nhì ở xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
Có thể nói, những công trình nghiên cứu đã công bố trên đã phác họa được
những nét cơ bản về bức tranh đa sắc thái của văn hóa của người Hà Nhì từ trước
đến nay. Song những công trình đó mới chỉ giới thiệu sơ lược về một số nghi lễ
truyền thống mà chưa đề cập đến những biến đổi của nghi lễ trong điều kiện mới và
chưa có sự so sánh với các nhóm Hà Nhì khác cũng như các tộc người cư trú trong

thị trấn, trong đó 10 xã và 31 bản giáp biên với 2 huyện Hà Khẩu và Kim Bình, tỉnh
Vân Nam, Trung Quốc
1.3.2. Người Hà Nhì ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
1.3.2.1. Khái quát về người Hà Nhì ở Việt Nam
Trước năm 1945, người Hà Nhì được gọi là U Ní, Xá U Ní. Từ sau năm 1945,
tên Hà Nhì được thống nhất dùng làm tên gọi chính thức của dân tộc. Người Hà
Nhì có 2 nhóm là Hà Nhì Đen và Hà Nhì Hoa (gồm có nhóm Hà Nhì Cồ Chồ và Hà
Nhì La Mí). Từ nhiều nguồn tư liệu cho thấy, người Hà Nhì ở nước ta hiện nay có
nguồn gốc từ Trung Quốc và có mặt ở Việt Nam khá sớm, khoảng 300 năm cách
ngày nay. Tổng Điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Hà Nhì ở Việt Nam có
21.725 người, có mặt tại 31 tỉnh, thành phố, trong đó tập trung tại các tỉnh: Lai
Châu 13.752 người, Lào Cai 4.026 người, Điện Biên 3.786 người.
1.3.2.2. Người Hà Nhì ở Huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
Lào Cai là địa bàn cư trú chủ yếu của người Hà Nhì Đen, tập trung tại các xã
của huyện Bát Xát như: Y Tý, Nậm Pung, Trịnh Tường, A Lù, A Mú Sung, Ngải
Thầu. Dân số người Hà Nhì ở huyện Bát Xát là 3.996 người, chiếm 99,2% trong
tổng số 4.026 người Hà Nhì trong tỉnh. Bộ phận người Hà Nhì ở Lào Cai đến Việt
Nam muộn hơn so với bộ phận ở Lai Châu, cách đây khoảng 150 năm, xuất phát từ
Vân Nam (Trung Quốc).
1.3.2.3. Đặc điểm kinh tế
Về trồng trọt, người Hà Nhì có hai hình thức là: Phát nương làm rẫy và trồng
cấy trên ruộng bậc thang. Về Chăn nuôi, chủ yếu là trâu và ngựa, lợn, chó, gà,
vịt,…Các nghề thủ công truyền thống như nghề rèn, chạm khắc bạc, đan lát, trồng
bông dệt vải tuy có nhưng không phát triển. Việc trao đổi thương mại chủ yếu diễn
ra tại các chợ phiên ở trung tâm các xã, huyện, chưa xuất hiện hình thức mua đi bán
lại sinh lời như những dân tộc khác.
1.3.2.4. Đặc điểm xã hội
Người Hà Nhì gọi bản của mình là “phu” hay“pu”. Mỗi “phu” thường có từ
40 đến 50 hộ cùng sinh sống, mỗi bản có một Tạo bản, vài ba bản lại chịu sự quản
lý của Thống quán. Về sau này xuất hiện thêm vai trò của những trưởng thôn là

vật đều có linh hồn (xu la) và luôn có thần linh đại diện ngự trị. Vào những ngày
nhất định trong năm đồng bào thường tổ chức các nghi lễ cúng truyền thống để cầu
mong thần linh che chở, phù hộ cho con người được bình yên, mạnh khỏe, mùa màng
bội thu. Người Hà Nhì không có chữ viết riêng nhưng có một nền văn học dân gian
phong phú với nhiều thể loại như: Truyện cổ, dân ca, sử ca,… Người Hà Nhì có các
điệu múa đặc trưng như múa chùm chăn, múa gậy,… Nhạc cụ cũng đơn giản gồm:
Đàn môi, gậy, sáo trúc, trống, chiêng, thanh la. Tri thức trong việc sử dụng nguồn
tài nguyên rừng và nước rất phong phú, đa dạng.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Luận án Nghi lễ của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai hiện nay
được thực hiện trong điều kiện các nghiên cứu về tộc người này chưa nhiều, hầu hết
chỉ là những nghiên cứu nhỏ lẻ, thiếu hệ thống, đặc biệt chưa có các công trình
chuyên sâu về nghi lễ. Những nghiên cứu đã công bố thường khái quát về lịch sử
tộc người, điều kiện kinh tế - xã hội và miêu tả về các hiện tương văn hóa của
người Hà Nhì một cách tổng quát mà chưa xem nghi lễ như là một đối tượng
nghiên cứu chính. Quá trình thực hiện luận án này chúng tôi đã tham khảo các
nguồn tư liệu quý trên và cố gắng bổ sung bằng nguồn tư liệu điền dã để có thể đem
đến một cái nhìn toàn diện và có hệ thống hơn về nghi lễ của người Hà Nhì Đen ở
huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
Trước khi đi sâu phân tích, đánh giá nội dung chính, chúng tôi đã đưa ra
những khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài như: nghi lễ, nghi lễ trong chu kỳ
đời người, nghi lễ gia đình, nghi lễ cộng đồng,… Cơ sở phương pháp luận của luận
án dựa trên quan điểm Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về vấn đề tín ngưỡng, nghi
6


lễ; xem xét vấn đề nghi lễ trong trạng thái vận động và có mối quan hệ biện chứng
với các yếu tố khác trong đời sống tộc người Hà Nhì. Luận án đã áp dụng các lý
thuyết như: chức năng luận, nhất là các chức năng của nghi lễ và lý thuyết giao lưu,
tiếp biến văn hóa… để soi sáng cho việc phân tích tư liệu. Phương pháp nghiên cứu

Người Hà Nhì thường tiến hành nghi lễ xin thụ thai cho những cặp vợ chồng
kết hôn đã 2 - 3 năm mà vẫn chưa có con. Với nhóm Hà Nhì Đen ở Bát Xát có hai
cách để xin thụ thai: Thứ nhất, là xin phúc của những người trong thôn bản. Thứ
hai, là phải gặp thầy để làm lễ dựng cầu, vì họ quan niệm con cái đến với mình là đi
từ trên trời xuống trần gian, nếu gặp vực thẳm sẽ không qua được. Do đó, muốn có
con phải làm cầu để cho chúng đi xuống với mình. Người Hà Nhì chỉ nhận con
nuôi (Ạ nhi sa) trong trường hợp gia đình đã làm đủ mọi cách nhưng vẫn không có
con hoặc đã sinh nhiều lần nhưng không nuôi được.
7


2.1.2.2. Những kiêng kỵ và nghi lễ khi mang thai
Trước kia, khi mang thai phụ nữ Hà Nhì phải kiêng kỵ nhiều thứ, mỗi nhóm
người lại có các kiêng riêng. Với người Hà Nhì Đen ở Bát Xát, phụ nữ khi mang
thai thường không được uống bất cứ loại thuốc gì; không bước qua hố, rãnh; không
được trèo lên cây có quả, không được bước qua dây thừng trâu; không được mang
gừng bên mình; không được bắt, đánh rắn; không được bắt và ăn cua. Đối với
người chồng, khi vợ mang thai không được có những hành động mang tính chèn ép
hay đè nén, như: chôn cột, làm cối giã gạo, khiêng quan tài trên vai,…
Ngày nay, những nghi lễ và kiêng kỵ trong sinh đẻ và chăm sóc trẻ nhỏ đã ít
nhiều thay đổi, như: thai phụ không phải kiêng ăn nhiều thứ như trước kia mà được
ăn nhiều loại thực phẩm khác nhau, nhưng về cơ bản họ vẫn còn phải kiêng kỵ
những thức ăn và hoạt động mà theo quan niệm của tộc người này có ảnh hưởng
đến sức khỏe của đứa trẻ.
2.1.3. Nghi lễ và kiêng kỵ khi sinh đẻ
Phụ nữ Hà Nhì đẻ đứng hoặc đẻ ngồi ngay trong buồng ngủ của hai vợ
chồng, không có bà đỡ riêng, khi đẻ sản phụ được những người có tuổi nhiều kinh
nghiệm giúp đỡ. Khi vợ bắt đầu trở dạ, người chồng thường phải tránh mặt đi ra
ngoài hoặc sang nhà khác. Nếu người vợ trở dạ ngay trên nương hoặc những nơi
không có ai giúp đỡ thì người chồng sẽ là “bà đỡ” tại chỗ và cắt rốn cho đứa trẻ

Người Hà Nhì quan niệm, hồn của trẻ mới sinh còn rất yếu, ham chơi nên rất
dễ bị lạc, không biết đường về nhà, nếu cho rằng hồn đứa trẻ bị lạc thì gia đình phải
làm lễ gọi hồn về. Ngoài ra còn làm lễ cúng ma để đừng làm cho trẻ con ốm đau,
quấy, khóc.
2.1.4.3. Lễ đầy năm
Khi đứa trẻ được một năm tuổi, gia đình mổ gà, lợn mời dân bản đến dự. Mọi
người tặng bé rất nhiều quà. Lễ đầy năm của đứa trẻ là dịp để mọi người trong bản
tập trung tại nhà em bé ôn chuyện làm ăn, thăm hỏi lẫn nhau.
2.2. Nghi lễ trong hôn nhân
2.2.1. Một số quan niệm và nguyên tắc trong hôn nhân
Hình thức hôn nhân chủ yếu của người Hà Nhì là hôn nhân một vợ một chồng,
trai gái được tự do yêu đương, tìm hiểu nhau trước khi kết hôn. Tuy nhiên, không
được lấy những người cùng họ và những dòng họ khác đã kết nghĩa anh em, cấm lấy
đổi cũng như hai anh em trai lấy hai chị em gái.
Trước kia, người Hà Nhì thường kết hôn sớm, nữ từ 13 - 15 tuổi, nam từ 15 17 tuổi. Ngày nay tuổi kết hôn đã cao hơn. Gia đình của người Hà Nhì được xây
dựng trên cơ sở tự nguyện nên hiện tượng ly hôn không xảy ra. Người Hà Nhì Đen
Bát Xát, Lào Cai không có tục ở rể, trong khi ở Mường Tè tục ở rể trước khi cưới
tương đối phổ biến. Ngày nay, các gia đình không muốn con mình phải ở rể nên
thường đưa cho nhà gái một khoản tiền để xin được tổ chức đám cưới luôn.
2.2.2. Nghi lễ trong hôn nhân
2.2.2.1. Hôn nhân theo nghi lễ truyền thống
Theo truyền thống, hôn nhân phải do bố mẹ hai bên đồng ý và tổ chức qua
các nghi lễ dạm hỏi, lễ cưới, lễ lại mặt. Mỗi nghi lễ có rất nhiều thủ tục khác nhau.
Lễ cưới của người Hà Nhì thường được tổ chức làm hai lần: Lễ cưới lần thứ nhất
(Su mi y) được diễn ra khi hai bên gia đình đồng ý chọn ngày lành tháng tốt để tiến
hành hôn lễ cho đôi trẻ. Lễ cưới lần thứ hai (jù đo y) là để thông báo đôi vợ chồng
vẫn sống hạnh phúc và báo hiếu bố mẹ nhà gái đã có công sinh thành, nuôi nấng cô
dâu. Do chi phí lớn nên người Hà Nhì chỉ tổ chức đám cưới lần hai khi kinh tế gia
đình đã ổn định.
2.2.2.2. Hôn nhân không qua dạm hỏi

người chết, đổi chiều quan tài khi đưa ra huyệt mộ,…Trong 3 năm đầu gia đình đi
tảo mộ một lần, còn những năm sau phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi nhà.
2.3.3. Nghi lễ tang ma trong trường hợp đặc biệt
Đối với những người chết xấu ở “ngoài nhà”, nghi thức tổ chức tang lễ diễn
ra đơn giản, nhanh gọn ở bên ngoài bản để hồn người chết không vào làm hại con
người. Đối với những trẻ nhỏ chết trong bụng mẹ hay chết trước 12 tuổi thì không
tổ chức đám tang như người lớn mà nghi thức chỉ diễn ra trong một ngày kể từ khi
mất. Sau 4 - 5 tháng, gia đình chọn ngày tốt mời thầy về cúng làm lễ cầu siêu cho
những đứa trẻ đó được siêu thoát sớm đầu thai vào kiếp khác.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Qua việc tìm hiểu các nghi lễ trong sinh đẻ và chăm sóc trẻ nhỏ, hôn nhân và
tang ma của người Hà Nhì giúp chúng ta thấy được phần nào hệ thống các nghi lễ
trong chu kỳ đời người của người Hà Nhì và một số biến đổi của nó trong xã hội
ngày nay. Trong đó, sinh đẻ là sự khởi đầu cho một chu kỳ đời người, vì vậy luôn
gắn liền với những kiêng kỵ, nghi lễ thể hiện mong muốn và cầu xin sự bình an cho
người mẹ và đứa trẻ. Ngày nay, những kiêng kỵ không có cơ sở, không phù hợp
đang có xu hướng dần dần bị loại bỏ, nhiều sản phụ đã đến các trạm y tế để được
thăm khám, kiểm tra thai kỳ và sinh đẻ. Tuy nhiên, về cơ bản những nghi lễ và
kiêng kỵ liên quan đến người mẹ và đứa trẻ trong suốt quá trình thụ thai cho đến
chăm sóc và bảo vệ trẻ nhỏ vẫn được người Hà Nhì duy trì.
Về hôn nhân, thực tế cho thấy, người Hà Nhì Đen ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào
Cai, vẫn giữ được những nguyên tắc cơ bản của các nghi lễ truyền thống dân tộc
như: không lấy người cùng họ, hôn nhân là tự nguyện của đôi trai gái. Tuổi kết hôn
đã cao hơn, phù hợp với quy định của nhà nước, không thấy hiện tượng ngoại tình
10


và ly hôn. Một số thủ tục mang nặng tính lễ nghi đã được giản lược cho phù hợp
với sự phát triển chung của xã hội, tính chất mua bán trong hôn nhân thể hiện qua
việc thách cưới không còn nặng nề như trước nữa. Cùng với sự phát triển của nền

các dịp năm mới, lễ hội cộng đồng, các ngày lễ tết, cưới xin, ma chay, mừng cơm
mới, hay khi có thành viên trong gia đình bị ốm đau.
3.1.2. Các nghi lễ thờ cúng tổ tiên
3.1.2.1. Nghi lễ cúng tổ tiên đầu năm mới
Tết năm mới “hồ sự lạ ma” được người Hà Nhì chuẩn bị rất chu đáo, trong đó
nghi lễ lấy nước thiêng trong đêm 30 tết là mở đầu cho các nghi lễ truyền thống và
là lễ thức quan trọng đối với mỗi gia đình, vì họ quan niệm đây là những giọt nước
do thần linh ban tặng. Số nước lấy về được dùng để nấu những món ăn đầu tiên
dâng lên bàn thờ tổ tiên trong năm mới. Lễ vật dâng cúng tổ tiên thường có: bánh
11


dày, thịt gà, nước gừng, rượu và những sản vật thu được trong năm qua như đậu
tương, bí đỏ, ngô, dưa,…Khi hành lễ tất cả các thành viên đều mặc quần áo truyền
thống, đi chân đất. Sau khi nghi lễ cúng kết thúc chủ nhà lấy một ít bánh dày, một ít
thịt, một ít nước gừng và rượu chia cho thần bếp “phu chu ma” rồi mọi người trong
gia đình cùng ăn.
3.1.2.2. Cúng tổ tiên trong những lễ chung của cộng đồng
Ngoài nghi lễ cúng đầu năm mới, người Hà Nhì còn thờ cúng tổ tiên trong
những dịp thôn bản tổ chức các nghi lễ chung của cộng đồng như dịp tổ chức các lễ
hội “Khô già già” vào tháng 6; lễ cúng thần rừng “Mu thu gio” vào dịp tháng 3.
3.1.2.3. Nghi lễ đuổi ma (Khồ le le)
Nghi lễ đuổi ma diễn ra vào tháng 7 âm lịch hàng năm. Vào ngày thìn đẩu
tiên của tháng các gia đình trong bản thường sắm lễ cúng ông bà tổ tiên, tiến hành
nghi lễ đuổi tà ma ra khỏi nhà để cầu mong gia đình và toàn dân bản được bình an.
Các gia đình không chỉ đuổi ma ra khỏi nhà mình mà còn phải đuổi ma từ nhà mình
ra khỏi ranh giới của thôn bản.
3.1.2.4. Lễ mừng sau khi thu hoạch xong (ga tho tho)
Đây là nghi lễ cảm ơn ông bà tổ tiên đã phù hộ cho gia đình một năm mùa
màng bội thu, nghi lễ thường được tổ chức vào tháng 11 âm lịch sau khi đã thu

biết gia đình đã hoàn thành công việc gieo trồng.
3.2.3. Lễ cúng cầu mùa “Khô già già”
Đây là một trong những nghi lễ đặc sắc và lớn nhất trong năm của người Hà
Nhì. Lễ cúng diễn ra vào tháng 6 âm lịch hàng năm với quy mô toàn bản, tất cả các
gia đình nếu không có những kiêng kỵ làm ảnh hưởng đến lễ cúng, đến cuộc sống
của người dân đều được thực hiện nghi lễ này.
3.2.4. Lễ cúng cơm mới (hồ sụ già)
Người Hà Nhì Đen thường tổ chức cúng cơm mới vào tháng 8 - 9 âm lịch
hàng năm, đó là khi lúa bắt đầu chín vàng, gia đình cử người phụ nữ lớn tuổi hoặc
là con dâu cả đi cắt những bông lúa đầu tiên để làm lễ dâng cúng tổ tiên, sau đó
mới được chính thức thu hoạch lúa. Các lễ thức khác như gặt và đập lúa cũng được
thực hiện với nhiều hình thức khác nhau.
3.2.5. Lễ cúng hồn lúa (se la khô)
Người Hà Nhì Đen thực hiện nghi lễ cúng rước hồn lúa sau khi đã thu hoạch
xong với lễ vật rất đơn giản, chỉ có xôi và trứng. Nghi lễ này được thực hiện ngay
tại kho chứa thóc. Khi cúng chủ nhà xin hồn lúa phù hộ cho gia đình mùa màng
luôn được bội thu.
3.2.6. Một số nghi lễ khác hiện không còn được thực hiện
Trong quá trình tìm hiểu chúng tôi được biết người Hà Nhì còn có một nghi
lễ liên quan đến nghề nghiệp nhưng hiện nay đã mai một không còn được duy trì,
chỉ còn đọng lại trong trí nhớ của người dân như: nghi lễ cúng thần sâu, cúng trời
nắng hạn, cúng hồn con vât, cúng thần thợ rèn,…
3.3. Nghi lễ cầu an trong gia đình
3.3.1. Tết mùng năm tháng 5 âm lịch (diệt sâu bọ)
Nghi lễ này được tổ chức vào ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch hằng năm, mang
ý nghĩa cầu sự bình an, nhất là sức khỏe cho mọi người còn sống trong gia đình.
3.3.2. Nghi lễ dựng nhà mới (gio sự pha tho)
Người Hà Nhì có rất nhiều nghi lễ trong việc dựng nhà mới như: nghi lễ chọn
đất làm nhà, lợp mái, về nhà mới. Trong những nghi lễ đó, mỗi nhóm người lại có
một cách thể hiện riêng như: Người Hà Nhì Đen ở Bát Xát thường chọn ngày thìn,

đến nông nghiệp còn là sự biểu hiện thái độ ứng xử của con người trước cái thiêng
của tự nhiên với lòng tôn kính, biết ơn khi cầu mong sự ưu đãi của thiên nhiên để
cho mưa thuận, gió hòa mang lại mùa vụ bội thu. Trong lễ cúng “Khô già già” và
các nghi lễ khác, người dân đã nhân cách hóa cái thiêng đó thành những vị thần có
sức mạnh vô hình có thể mang lại cuốc sống ấm no, hạnh phúc cho con người.
Những khát vọng đó được sinh tồn trong môi trường khắc nghiệt càng làm tăng
thêm tính thiêng trong các nghi lễ cúng nông nghiệp hàng năm của người Hà Nhì.
Cùng với các nghi lễ cầu an, những nghi lễ này nhằm cầu mong sự an lành, lấy lại
sự thăng bằng về tâm lý của cá nhân, gia đình trong cuộc sống hàng ngày.
Qua nghi lễ thờ cúng tổ tiên, nghề nghiệp và cầu an trong gia đình giúp chúng
ta có thể hiểu thêm tâm tư, tình cảm của con người với nhau giữa con người với thế
giới xung quanh. Đồng thời nhìn nhận rõ hơn các giá trị văn hóa truyền thống tốt
đẹp của người Hà Nhì được lưu giữ và trao truyền qua các thế hệ. Từ đó xây dựng
các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, còn phù hợp
của tộc người này trong bối cảnh hiện nay.
Chương 4
NGHI LỄ CỘNG ĐỒNG
Người Hà Nhì luôn luôn tin vào tín ngưỡng “vạn vật hữu linh”, nên trong đời
sống của họ có nhiều nghi lễ cúng chung cộng đồng, tùy từng đối tượng mà tổ chức
quy mô và địa điểm khác nhau. Mỗi bản hàng năm đều tổ chức các nghi lễ cộng
đồng với nhiều lễ nghi phức tạp, như: lễ cúng cấm bản “gà tu tu”, lễ cúng nguồn
nước thiêng “Lù khù sụ”, lễ cúng rừng cấm “Gạ ma gio” và “Mu thu gio”, lễ cầu
mùa “Khô già già”, lễ cúng thần “thủ ty”,…Đây là những nghi lễ truyền thống có từ
lâu đời, đến nay hầu hết vẫn được duy trì thực hiện ở các bản người Hà Nhì với
14


mục đích cầu mong các vị thần linh che chở, bảo vệ cho con người có cuộc sống
khỏe mạnh, bình yên, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.
4.1. Công tác chuẩn bị

nghi lễ này phải được ăn hết không được đem về nhà, vì người Hà Nhì cho rằng
nếu đem về thì năm đó gia đình sẽ không được may mắn.
4.2.3. Nghi lễ cúng rừng
Người Hà Nhì Đen ở Bát Xát cúng cấm “Gạ ma gio” vào ngày con rồng đầu
tiên của tháng Giêng. Đầu giờ chiều, tất cả những người tham gia lễ cúng rừng cấm
tập trung tại nhà trưởng bản hoặc tại một địa điểm nhất định để mang lên rừng cấm
các lễ vật và dụng cụ phục vụ cho nghi lễ. Mâm lễ vật chuẩn bị xong, hai thầy cúng
lùi lại phía trước bàn thờ để làm lễ. Sau khi hai thầy kết thúc 3 lần hành lễ, những
người tham gia đều dập đầu trước bàn thờ với mong muốn thần rừng sẽ luôn luôn
15


bảo vệ cho gia đình và cộng đồng được may mắn, bình yên. Nghi lễ cúng thần rừng
“Mu thu gio” được tổ chức vào tháng Ba hàng năm. “Mu thu gio” là nữ thần và là
vợ của thần rừng “Gạ ma gio”. Đây là vị thần có chức năng phù hộ cho bản mùa
màng tốt tươi, gia súc phát triển, con cháu trong làng đông đúc; là nữ thần phù hộ
cho sự sinh sôi, phát triển. Lễ cúng gồm có thịt lợn, thịt gà, rượu, nước gừng, xôi,
hương. Trong lễ cúng “Mu thu gio”, chỉ những người đàn ông là chủ nhà được tham
gia, cách thức thực hiện lễ cúng cũng giống cách hành lễ trong lễ cúng “Gạ ma
gio”.
4.2.4. Nghi lễ cúng cầu mùa “Khô già già”
Nghi lễ được coi là một trong những lễ thức lớn nhất trong năm và đặc sắc
nhất của người Hà Nhì. Đồng bào tin rằng, khi thực hiện tốt nghi lễ này thì thần
linh sẽ phù hộ bảo vệ mùa màng, ban mưa thuận gió hòa cho cây cối phát triển,
mùa vụ bội thu, cuộc sống ấm no hạnh phúc. “Khô già già” là lễ hội cầu mùa được
diễn ra vào tháng 6 hàng năm tại khu rừng “Gạ hen lạ gio”. Khi thực hiện nghi lễ,
các gia đình đem những sản phẩm mà mình thu được trong năm qua dâng cúng lên
thần linh cầu mong các thế lực siêu nhiên bảo vệ, phù hộ cho mùa màng trong năm
được bội thu hơn năm trước. Trong lễ “Khô già già” con trâu có một vị trí hết sức
quan trọng trong lễ vật hiến tế cho thần, không có trâu thì nghi lễ không thành.

đời sống tâm linh của cộng đồng, là môi trường sản sinh, tích hợp, bảo tồn, trao
truyền nhiều giá trị văn hóa tộc người. Luận án góp phần nhận diện đặc điểm kinh
tế, văn hóa, xã hội, cũng như các giá trị trong nghi lễ của tộc người Hà Nhì trước
đây và hiện nay. Kết quả của luận án góp phần bổ sung, làm phong phú thêm nguồn
tư liệu khoa học có giá trị cho các nghiên cứu tiếp sau về tộc người này, làm cơ sở
cho việc tìm hiểu và so sánh về văn hóa giữa các nhóm trong tộc người Hà Nhì và
với các dân tộc khác, chỉ ra những giá trị của nghi lễ đối với việc giáo dục đạo đức,
ý thức tộc người và tính cố kết dân tộc, cộng đồng, gia đình trong điều kiện mới.
Từ đó góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống phù hợp
trong đời sống tộc người Hà Nhì hiện tại,…
5.1.2. Một số đặc điểm văn hóa tộc người được phản ánh trong nghi lễ
Trong các nghi lễ của người Hà Nhì thì thầy cúng, già làng, trưởng bản, ông
bà mối, bà cô,…là những người luôn giữ vai trò quan trọng. Tùy thuộc vào từng
nghi lễ mà mỗi danh vị trên lại có một vị trí khác nhau như: thầy cúng thường đóng
vai trò chủ đạo trong các nghi lễ cộng đồng và một số nghi lễ quan trọng của cá
nhân và gia đình. Với những nghi lễ trong chu kỳ đời người, thờ cúng tổ tiên, nghề
nghiệp và cầu an thì vai trò chính lại thuộc về người đàn ông làm chủ gia
đình,…Dụng cụ phục vụ trong các nghi lễ luôn được chuẩn bị và sử dụng chuyên
biệt, không lẫn lộn giữa nghi lễ của cộng đồng và nghi lễ của mỗi gia đình và các
vật dụng thông thường khác. Trong tất cả các nghi lễ, người Hà Nhì đều chọn ngày
rất cẩn thận theo quan niệm của các nhóm người ở mỗi địa phương.
Nghiên cứu về thành phần tham gia các nghi lễ cộng đồng và gia đình chúng
tôi nhận thấy chưa có sự phân biệt giàu nghèo và giai tầng trong xã hội người Hà
Nhì, họ luôn sống hài hòa với thiên nhiên. Bên cạnh việc xây dựng những bản
hương ước chung của bản thì việc thiêng hóa các sự vật tự nhiên, các khu rừng cấm
và nguồn nước linh thiêng là hình thức hiệu quả để người dân bảo vệ các nguồn tài
nguyên thiên nhiên đó, phản ánh tín ngưỡng vạn vật hữu linh và thờ cúng đa thần
của tộc người này từ trước đến nay.
5.2. Bàn luận
5.2.1. Vai trò của nghi lễ trong đời sống tộc người Hà Nhì

còn là xu hướng biến đổi chung của văn hóa tộc người, như trong nghi lễ cầu mùa
Khô già già hiện nay, ngoài phần lễ vẫn được thực hiện theo nghi thức truyền
thống, phần hội đã có nhiều biến đổi, qua việc một số loại hình văn hóa mới là các
băng đĩa nhạc (thậm chí là băng đĩa của nước ngoài), các trò vui chơi có thưởng
hiện đại thu hút sự quan tâm của người dân, đặc biệt là giới trẻ. Do đó, thanh thiếu niên
không còn mặn mà, thích thú với những lời ca tiếng hát, điệu múa cổ truyền của dân
tộc. Hiện tượng này đặt ra vấn đề là cần có những chính sách và biện pháp hiệu quả hơn
trong bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp để góp phần phát triển hiệu quả
hơn nữa đời sống văn hóa cộng đồng trong tình hình mới.
- Vai trò của những người có uy tín trong cộng đồng hiện nay: Trong xã hội
truyền thống, thầy cúng, trưởng bản và người già là những người luôn được dân
bản coi trọng, bởi chính họ đã góp phần đưa ra những định hướng tốt, có lợi cho
người dân; giải tỏa tâm lý và lấy lại sức mạnh tinh thần cho con người;... Tuy
nhiên, thực tế đôi khi họ cũng có những đoán định chỉ dựa vào linh cảm mà thiếu
căn cứ, cơ sở khoa học dẫn đến gây tâm lý hoang mang và có những nghi lễ phiền
phức gây tốn kém. Do đó, để phát huy được vai trò của những người này trong điều
kiện mới, nên chăng chúng ta cần truyền tải tới họ những tiến bộ khoa học, vận
động họ thực hiện để làm gương cho những người dân trong cộng đồng, thông qua
đó đưa những tiến bộ khoa học vào trong đời sống xã hội, từng bước thay đổi quan
niệm của cộng đồng về thế giới xung quanh. Đồng thời, cần có một chế độ đãi ngộ
phù hợp với những người có uy tín trong cộng đồng để khuyến khích họ phát huy
khả năng của mình trong việc gìn giữ giá trị văn hóa truyền thống, phát triển kinh
tế, đảm bảo trật tự xã hội.
18


- Ý thức tộc người của người Hà Nhì: Tính cố kết tộc người của người Hà
Nhì rất cao, dù ở đâu đồng bào cũng luôn tự nhận và khẳng định mình là người Hà
Nhì. Tuy đời sống xã hội hiện ít nhiều bị ảnh hưởng bởi nền kinh tế thị trường
nhưng tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn hoạn

- Tác động của việc thực hành các chính sách và pháp luật của Nhà nước:
Nghị quyết TW 5 khóa VIII về việc “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc”; Nghị quyết TW 9 khóa XI về “Xây dựng và
phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất
nước” và một số Chỉ thị, Thông tư, Qui chế, Luật của Chính phủ và bộ, ngành đã
tác động mạnh mẽ và ảnh hưởng trực tiếp đến nghi lễ của các tộc người ở Việt
Nam, trong đó có người Hà Nhì. Hiện nay, việc cưới, việc tang đã đơn giản hơn về
thời gian và lễ thức
19


- Tác động của môi trường cư trú tộc người: Với người Hà Nhì ở Bát Xát nói
riêng và người Hà Nhì nói chung, rừng và nước là những yếu tố cấu thành nên thôn
bản. Hầu hết các nghi lễ của người Hà Nhì đều liên quan đến yếu tố tự nhiên. Ngày
nay, môi trường tự nhiên thay đổi, không gian thờ cúng bị thu hẹp nên nhiều nghi lễ
không còn được thực hành như trước nữa
- Tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội: Trong nhiều năm trở lại đây, các
cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương đã quan tâm, từng bước cải thiện
đời sống nhân dân, phát triển kinh tế thông qua việc định hướng cho người dân thay
đổi các hoạt động kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đa dạng nguồn thu
nhập. Đặc biệt, sự đầu tư của Nhà nước qua các chương trình, dứ án phát triển lớn,
như: 134, 135, 167…hỗ trợ phát triển, như: vay vốn tín dụng, đào tạo nghề, hỗ trợ nhà
ở… Hệ thống cơ sở hạ tầng và chính sách tự do lưu thông hàng hóa phát triển làm
thay đổi các hoạt động và cơ cấu kinh tế. Qua quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa,
người Hà Nhì đã tiếp nhận những yếu tố mới làm cho văn hóa tộc người thêm phong
phú, đa dạng. Nhiều yếu tố Việt xuất hiện trong các lễ thức của người Hà Nhì bởi sự
thuận tiện và hiệu quả như: váy cô dâu, comle chú rể, hoa cưới, quà mừng đám cưới;
quan tài, viếng đám ma; nhiều nghi lễ nông nghiệp bị mai một và mất hẳn.
- Tác động của yếu tố nội tại tộc người: Giao lưu tiếp biến với những nề văn
hóa khác đã làm thay đổi nhận thức của người dân, bản thân họ tự nhận thấy cần

thức và nhà khoa học. Những thành viên trẻ sẽ thấy tự hào khi mình là người lưu
giữ và trao truyền văn hóa truyền thống của cha ông để được cộng đồng đón nhận
và các dân tộc khác tôn trọng.
- Các nghi lễ tộc người được hình thành và diễn ra trong quá trình sinh hoạt, lao
động của người dân; ngôi nhà, làng bản chính là môi trường để nuôi dưỡng và phát huy
những giá trị văn hóa tộc người ấy. Trong thực tế ngày nay, môi trường truyền thống đó
đang bị phá vỡ về mặt cấu trúc bởi sự cộng cư của các dân tộc trong cùng một địa bàn
cư trú; dân số phát triển và diện tích rừng bị thu hẹp, những “ngôi nhà nấm” - đặc trưng
của người Hà Nhì lợp bằng mái cỏ gianh truyền thống hiện nay đang dần được thay thế
bằng những mái tôn, mái phipro - ximăng,...
- Cần phục dựng lại những sinh hoạt cộng đồng truyền thống tốt đẹp đã bị
mai một. Dù đây chỉ là những việc làm mang tính tình thế nhưng cũng đem lại kết
quả nhất định nếu việc phục dựng và thực hành những nghi lễ này được thực hiện
bởi chính chủ thể văn hóa đó và có sự tư vấn, hỗ trợ của các nhà khoa học.
- Cần chú trọng việc xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, nhất là hệ thống đường
giao thông liên xã, liên thôn, tăng cường xây đội ngũ giáo viên, hệ thống trường lớp
tại cơ sở, đội ngũ y tế thôn bản nhằm nâng cao trình độ dân trí cho người dân, từ đó
thay đổi những quan niệm trong cuộc sống và dần dần loại bỏ những lễ thức không
còn phù hợp ra khỏi cộng đồng. Bên cạnh đó, cũng cần tuyên truyền cho người dân
hiểu và tự bảo vệ những giá trị văn hóa tộc người thông qua việc tuyên truyền, giáo
dục các yếu tố tốt đẹp trong nghi lễ để từng bước góp phần thay đổi những suy nghĩ
hướng ngoại, đồng thời ngăn chặn sự thâm nhập của các yếu tố văn hóa ngoại lai
vào đời sống văn hóa của người Hà Nhì hiện nay.
- Về phía người dân, họ rất mong muốn được tiếp tục duy trì các nghi lễ
truyền thống của dân tộc mình. Với những người có tuổi cho rằng, những nghi lễ
tộc người là nét đặc trưng văn hóa của người Hà Nhì, nếu không duy trì thì một
ngày nào đó sẽ không ai nhận biết được họ là ai. Ngày nay, ngày càng có nhiều con
em đi học và công tác xa, mỗi khi tổ chức các nghi lễ truyền thống chính là dịp để
chúng trở về cùng gia đình, thôn bản.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 5

Nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, với hình thức canh tác nương rẫy và
ruộng bậc thang, trong đó cây trồng chủ đạo là lúa, ngô, ngoài ra còn có một số hoa
màu khác như đậu, bầu bí, su su,…Những năm gần đây đồng bào đã bắt đầu trồng
cây thảo quả, đương quy, xuyên khung,... Chăn nuôi của người Hà Nhì chưa phát
triển, chủ yếu là nuôi trâu, lợn, gà, vịt, chó,… với quy mô nhỏ trong gia đình. Sản
phẩm chưa trở thành hàng hóa để trao đổi, mua bán mà mục đích chính vẫn là phục
vụ các nghi lễ, lễ tết và nhu cầu thực phẩm hàng ngày của người dân. Khai thác
nguồn lợi tự nhiên không còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày. Nghề
thủ công của người Hà Nhì hiện nay chỉ còn nghề đan lát, các nghề rèn, đúc và trồng
bông dệt vải đã bị mai một.
Tổ chức xã hội truyền thống của người Hà Nhì là “phu”, mỗi “phu” thường
có từ 40 - 50 hộ cùng cư trú theo lối mật tập. Xã hội của người Hà Nhì chưa có sự
phân hóa thành các giai tầng, quan hệ cộng đồng tương đối bình đẳng. Hiện nay,
bên cạnh sự quản lý chung của hệ thống chính trị của nhà nước thì một số cá nhân
có uy tín trong xã hội truyền thống như già làng, thầy cúng,… vẫn tồn tại và có vai
trò nhất định trong những công việc chung của cộng đồng, nhất là về tín ngưỡng,
nghi lễ. Gia đình truyền thống của người Hà Nhì là gia đình phụ quyền, với mô
hình gia đình lớn bao gồm 3 - 4 thế hệ cùng sinh sống trong một mái nhà, nhưng
hiện nay, hình thức gia đình nhỏ, độc lập về kinh tế đang dần phát triển, nhất là các
gia đình trẻ.
2. Nghi lễ của người Hà Nhì là sinh hoạt tâm linh hội tụ những quan niệm của
tộc người này về con người, thế giới xung quanh, hành vi ứng xử của con người với
nhau và với thiên nhiên. Nghi lễ là nơi bảo lưu các giá trị văn hóa tộc người trước
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status