sáng kiến kinh nghiệm nâng cao năng lực cảm thụ văn ở học sinh lớp 6 - Pdf 35

Nâng cao
năng lực cảm thụ Văn
ở học sinh lớp 6


Nâng cao năng lực cảm thụ Văn ở học sinh lớp 6
I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Cùng với sự đi lên đổi mới và hội nhập của cả nước trong lĩnh vực giáo
dục đổi mới phương pháp dạy và học đối với học sinh là một vấn đề được
đề cập từ nhiều năm nay và được bàn luận rất sôi nổi. Đặc biệt theo tinh
thần của Nghị quyết 40 của Quốc hội từ năm học 2002-2003 chương trình
SGK mới được đưa vào sử dụng đại trà trên phạm vi toàn quốc từ lớp 6.
Trên cơ sở kiến thức truyền thống đổi mới tích hợp và tích cực hoá hoạt
động dạy học. Trong đó việc học tập tích cực của học sinh dưới sự tổ chức
hướng dẫn của giáo viên, học sinh phải tự giác tìm tòi, phát hiện giải quyết
nhiệm vụ nhận thức và có ý thức vận dụng linh hoạt sáng tạo các kiến thức
kỹ năng đã thu nhận được. Nhưng những định hướng này mới chỉ đến với
giáo viên qua các kỳ BDTX - tập huấn, hội thảo - chuyên đề ... và hơn thế
mà mang nặng tính lý thuyết còn nghèo tính thực tế thực hành. Vì vậy khi
áp dụng vào dạy học cho học sinh nói chung và học sinh lớp 6 nói riêng gặp
rất nhiều khó khăn.
Thứ hai: là người giáo viên chúng ta cần phải hiểu rằng hoạt động tiếp
thu tri thức thực chất là hoạt động ghỏi, đáp diễn ra liên tục thông qua nhận
thức của người học. Và muốn làm được điều đó người thầy phải lựa chọn
phương pháp truyền thụ một cách hợp lý nhất để đạt được mục tiêu môn
học - đối tượng học sinh.
Thứ ba: Học sinh lớp 6 là học sinh đầu cấp THCS thoát ly gần như
tuyệt đối chương trình cách học và chương trình ở bậc tiểu học.
Từ tập đọc ở tiểu học các em phải đọc hiểu văn bản, học lý thuyết phải

- Môn Ngữ văn vai trò góp phần hình thành những con người có trình
độ học vấn PTCS, những con người có ý thức du dưỡng, biết thương yêu,
quý trọng gia đình, bè bạn, có lòng yêu nước, yêu CNXH, biết hướng tới
những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ
phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác. Đó là những con người
biết rèn luyện, có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, có năng lực cảm thụ các
giá trị chân - thiện - mĩ - có năng lực thực hành và sử dụng tiếng Việt như
một công cụ để tư duy và giao tiếp....


I.4.2 Về mặt thực tiễn
Môn Ngữ văn ở lớp 6 giúp các em có được những kiến thức cơ bản
nòng cốt của bậc THCS.
Chẳng hạn:
- Hiểu đúng nghĩa của từ
- Hiểu nghĩa gốc, nghĩa chuyển
- Phân biệt từ tiếng Việt - từ mượn
- Từ đơn - từ ghép, cụm từ
- Nắm được kiểu văn bản thường dùng: tự sự miêu tả thuyết minh....
- Phải nắm được một số thao tác phân tích tác phẩm văn học
- Hiểu đượcsơ giản nhất về thi pháp - LSVH VN...
- Kĩ năng nghe - nói - đọc - viết tiếng Việt thành thạo đúng ngữ pháp.
- Biết phát hiện lỗi sai khi dùng từ
- Vận dụng nói - viết đúng ngữ pháp, đúng văn cảnh trong các bài làm
văn.
Qua một văn bản văn học, học sinh phải cảm nhận được cái sâu xa mà
tác giả muốn gửi gắm qua tác phẩm:
VD1: Học truyện "Thạch Sanh"( tiết 21-22 ) => học sinh biết yêu quý
những con người lao động hiền hành, biết căm thù kẻ ác - xâú (Lý Thông).
VD2: "Em bé thông minh" ( tiết25-26) => hiểu được cái dí dỏm qua lời

- Cách hướng dẫn học sinh học và soạn bài ở nhà.
- Cách đọc - lựa chọn đơn vị kiến thức phục vụ nội dung bài học
- Cách trả lời câu hỏi, các bước soạn bài.


II.2.2 Thực trạng
Bộ môn Ngữ văn nói chung và Ngữ văn lớp 6 nói riêng có vị trí và vai
trò rất quan trọng, nhưng thực tế để cho học sinh thực sự có năng lực cảm
thụ bộ môn là điều không dễ làm.

Cụ thể:
- Ở bậc Tiểu học các em học văn chỉ dùng ở mục trả lời các câu hỏi
theo kiểu phát hiện, chọn điền từ...
- Lực học của nhiều học sinh và năng lực cảm thụ của các em không
đồng đều, một lớp 30 học sinh chỉ có khoảng 5-10 em là thực sự hiểu cách
học văn hiểu yêu cầu bộ môn và diễn đạy tương đối mạch lạc Số còn lại
tiếp thu chậm, hạn chế năng lực cảm thụ .....
- Thậm chí nhiều học sinh lớp 6 đọc chưa lưu loát ,ấp úng, sai chính
tả ,....làm sao có thể nói tới việc cảm thụ
- Có một số em không biết xác định yêu cầu câu hỏi, cách lựa chọn kiến
thức có trong bài để trả lời câu hỏi. Thậm chí có những học sinh viết họ tên
của chính mình trên giấy kiểm tra còn chưa chuẩn nói gì đến việc cảm nhận
cái hay ,cái đẹp của tác phẩm văn học ...
II-2-3 : Giải pháp
Từ thực trạng của việc học văn trên khi tiếp nhận học sinh lớp 6 đầu
cấp tôi đã tiến hành một số công việc cho là cần thiết trước khi lựa chọn
phương pháp dạy học
1. Lập danh sách học sinh đưa từ tiểu học lên với học lực bộ môn cụ thể
2 .Trực tiếp gặp gỡ giáo viên dạy ở tiểu học để xác minh đánh giá học
lực của từng em.

chuẩn bị bài của học sinh để có kế hoạch bổ sung cho những học sinh khá,
giúp học sinh trung bình, yếu theo kịp các bạn.
Tuy nhiên, việc dạy học văn ở học sinh lớp 6 có nhiều điểm khác với
học sinh 6, 7, 8 trong cùng bậc học, bởi lẽ: với học sinh lớp 6 cảm thụ chỉ ở


mức thấp, đơn giản, không phải là những cái quá ý vị sâu xa, hay phải nâng
lên thành quan điểm triết lý như ở: văn bản "Bến quê" - Nguyễn Minh
Châu; "Làng" - Kim Lân; "Lặng lẽ Sa Pa" - Nguyễn Thành Long; hay
"Ánh trăng" - Nguyễn Duy, ở chương trình lớp 9.
Cảm thụ với học sinh lớp 6, tôi thiết nghĩ phải là cái gì cụ thể, rõ ràng,
gần gũi gắn với nội dung bài học, là những điều các em tự rút ra sau bài học
rất mộc mạc giản đơn, nhưng vẫn hàm chứa bài học giáo dục nhân văn.
Cụ thể: ở một số tiết học thực hiện như sau:

VD 1: Văn bản "Con rồng cháu tiên" - tiết 1-2
Cả văn bản chỉ có 4 câu hỏi và là dạng câu hỏi dài:
"Em hãy tìm các chi tiết trong truyện thể hiện tính chất kỳ lạ, cao quý
về nguồn gốc và hình dạng của Lạc Long Quân và Âu Cơ"?
Với câu hỏi này, khi hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài tôi thay bằng 3
câu hỏi nhỏ:
? Lạc Long Quân và Âu Cơ có nguồn gốc từ đâu? Hình dạng của họ có
gì khác lạ so với người bình thường?
? Người bình thường sinh nở có thời hạn là bao lâu? ở đây Âu Cơ sinh
nở có gì khác lạ?
? Những đứa con của Âu Cơ có gì khác những đứa trẻ bình thường?
Đấy là dạng câu hỏi "tìm" . Từ đó nâng lên câu hỏi cảm thụ:
? Những chi tiết vừa tìm được có đúng với cuộc sống thực tế không? Vì
sao?.
? Vậy các chi tiết đó có vai trò như thế nào trong truyện?

Đó là những dạng câu hỏi mang tính thực hành cảm hoá tự động để các
em mạnh dạn bộc lộ nhận thức của mình.
VD3: Với nhóm truyện ngụ ngôn tiết 39, 40, 45, 51 trong hệ thống
truyện dân gian có trong chương trình . Sau khi hướng dẫn học sinh tìm


hiểu văn bản cần có những câu hỏi liên hệ để đảm bảo yêu cầu giáo dục của
tiết học
Ví dụ :
? Theo em liệu Ếch có tránh được cái chết không ? Tránh bằng cách nào
?
? Đây có đơn thuần là câu truyện về con Ếch hay còn mang hàm ý nào
khác ? Em hãy chỉ ra ?
( Văn bản Ếch ngồi đáy giiếng )
? Tai sao trong truyện " Thầy bói xem voi " dân gian không lấy người
bình thường để xây dựng cốt truyện mà lại là các ông thầy bói mù ?
( Người sáng mắt có học mà cách nhìn không đúng ,sai lệch hậu quả
cũng không kém )

? Trong truyện " Thầy bói xem voi " quan hệ giữa các nhân vật có ý
nghĩa gì?.
Giáo viên bình: Đó chính là quan hệ nương tựa vào nhau, phụ thuộc lẫn
nhau của những cá nhân trong một tổ chức, một cộng đồng mà ở đây dân
gian đã thu lại trong phạm vi mấy cơ quan trên một cơ thể con người. Từ đó
chúng ta cần phải lưu ý trong quan hệ sống với tập thể (cụ thể là với gia
đình, lớp, trường).
VD4: Văn bản "Bức tranh của em gái tôi". Tiết 81, 82
Đây là một văn bản mang tính nhân văn cao, cốt truyện lại thực tế gần
gũi với các em, giá trị của văn bản và cái cần học sinh cảm thụ nằm ở câu
nói mà người anh thầm nói với mẹ về em gái mình: "Không phải con đâu.

- Kiến bò đầy đường.
Học sinh sẽ nhận ra cách 1 làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật gần
gũi với con người và biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người.
Giáo viên nhấn mạnh tác dụng của phép nhân hoá và cho học sinh tìm
phát hiện phép nhân hoá ở các văn bản đã học.
II.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - KẾT QUẢ

II.3.1. Phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Cần nghiên cứu chương trình SGK, SGV, tài liệu tham khảo, kế hoạch
dạy học, đối tượng học sinh...
2. Phương pháp vấn đáp trò chuyện
Dùng các hệ thống câu hỏi trong bài soạn giảng để vấn đáp trò chuyện
cùng học sinh, tạo cơ hội cho học sinh bộc lộ những cảm thụ, cảm nhận qua


các tác phẩm văn học.
3. Phương pháp thực nghiệm
- Áp dụng và đề xuất từ đầu năm kế hoạch tiến hành
- Sau 4 tuần làm bài khảo sát, đánh giá tình hình và điều chỉnh, lên kế
hoạch tiếp tục tiến hành.
II.3.2 Kết quả nghiên cứu
Sau thử nghiệm, tôi nhận thấy học sinh lớp 6 dần làm quen với cách
học, không còn lúng túng khi soạn bài, trả lời câu hỏi. Cách diễn đạt của
các em lưu loát hơn, đặc biệt là những câu hỏi cảm nhận có nhiều em (so
với đầu năm) đã mạnh dạn trình bày suy nghĩ. Bài làm (nói - viết) của các
em đã mang màu sắc "Văn" hơn là cách trả lời thông thường vụn vặt. Các
kỹ năng nghe - nói- đọc - viết được nâng lên rõ rệt. Các câu sai ngữ pháp
chỉ còn là số ít. Các em biết lựa chọn đơn vị kiến thức phù hợp với câu trả
lời. Năng lực phán đoán ngôn ngữ cũng nhanh nhạy hơn, đọc hiểu nhanh

bị cho các em tiếp tục học lên ở các lớp 7, 8, 9 với những yêu cầu cảm thụ
cao hơn.
Học sinh:
- Phải làm theo hướng dẫn của giáo viên bộ môn
- Có đủ SGK, vở ghi chép.
- Tích cực học tập.
- Mạnh dạn bày tỏ những suy nghĩ trong khi học cũng như khi kiểm tra.
III.2. Kiến nghị
- Tổ chức thường kỳ những hội thảo về phương pháp dạy môn Ngữ văn
THCS theo thể loại văn bản để giáo viên có thể định hình phương pháp dạy
hiệu quả cao hơn.
Ngày 15 tháng 2 năm 2010
Người thực hiện

IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phân phối chương trình ngữ văn THCS - BGD
2. SGK Ngữ văn lớp 6 tập 1-2 - BGD
3. Một số vấn đề về phương pháp dạy học môn Ngữ văn ở trường
THCS - BGD.
4. Hỏi đáp kiến thức Ngữ văn 6 - NXBGD 2006
5. Một số kiến thức kĩ năng và bài tập nâng cao Ngữ văn 6 của NXBGD


2005.
6. Phân tích - bình giảng tác phẩm Văn học dân gian của NXBGD-2003
7. Những bài tập tiếng Việt lý thú - NXBGD 1995.
8. Ôn tập Ngữ văn 6 - NXBGD 2006.

V. NHẬN XÉT CỦA HĐKH CẤP TRƯỜNG
................................................................................................................


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Nâng cao năng lực cảm thụ Vă
ở học sinh lớp 6

NGƯỜI THỰC HIỆN : ĐÌNH MÔNG
ĐƠN VỊ
: TRƯỜNG THCS PHÙ ĐỔNG
NĂM HỌC
: 2009-2010

Chuyên đề Ngữ văn 9
ỨNG DỤNG CNTT ĐỂ TIẾT TRẢ BÀI TẬP LÀM VĂN CÓ KẾT QUẢ
PHẦN I : MỞ ĐẦU

Từ trước đến nay, sự nghiệp giáo dục đào tạo luôn được đặt lên hàng đầu và hiện na
được cả xã hội quan tâm. Mục tiêu hàng đầu của giáo dục là chất lượng giảng dạy. V
học; ứng dụng CNTT vào giảng dạy; đổi mới kiểm tra, đánh giá; dạy học phân hoá trê


năng của Chương trình giáo dục phổ thông trong những năm gần đây cũng nhằm mụ
dạy học. Mặc dù có những thay đổi mang tính chiến lược đó nhưng chất lượng vẫn c
mong muốn. Ở một số môn, chất lượng chưa có chiều hướng tiến triển, nếu không m
trong số đó có bộ môn Ngữ văn. Trong hệ thống giáo dục phổ thông, Ngữ văn được c
quan trọng bậc nhất, được bố trí số tiết dạy nhiều hơn các môn khác, nhưng thái độ c
của xã hội thì còn hạn chế rất nhiều. Điều này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác
sự lúng túng, thiếu tính linh hoạt trong giảng dạy, trong phương pháp giáo dục của ng
nản, xa rời bộ môn của người học. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu của
cao. Trước tình hình chất lượng môn Văn có chiều hướng đi xuống; trước thái độ thiế


cho lần làm bài tiếp theo. Hậu quả đó bắt nguồn từ những nguyên nhân sau: - Việc c
chu đáo (chấm bài, quan sát bài học sinh trên cơ sở đối chiếu với bài trước hoặc chấ
một tiết trả bài trên lớp,…) - Thái độ của người chấm bài qua loa, tắc trách, đại khái.
thiếu sự trân trọng động viên đối với thành tích của các em. Nhiều bài viết học sinh c
nhận được từ phía người chấm bất kỳ một sự hướng dẫn sửa chữa. Thậm chí nhiều
lên bài làm của học sinh. - Nhiều giờ trả bài được thực hiện một cách qua loa tắc trác
bài cho học sinh mà không sửa chữa hoặc hướng dẫn. Nếu có giáo viên nào đó có th
bài như hướng dẫn thì thời gian lại không cho phép, nên thường rơi vào tình trạng ch
CNTT vào giờ học, đa số lại rơi vào trình chiếu, thiếu hướng dẫn kỹ năng hoặc thiếu
III/ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
A/ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP :
1. Vai trò và ý nghĩa của tiết trả bài: Tiết trả bài tập làm văn là một giờ học sinh động
là giờ học được xây dựng thực sự từ lao động trực tiếp của học sinh, từ vốn liếng nhi
ngữ, vốn tri thức, vốn sống kết hợp với kĩ năng diễn đạt ở dạng văn bản viết. Qua giờ
mặt mạnh và yếu; mà nhất là mặt yếu, mặt hạn chế của mình để rút kinh nghiệm tron
làm văn ngày một tiến bộ hơn. Có thể nêu ra đây nhiều ý nghĩa của việc chấm bài và
* Về phía người giáo viên :
- Đây là công việc lao động mà người dạy có thể đánh giá tình hình học tập của học s
trong học môn Ngữ văn.
- Thông qua chấm bài giáo viên có thể đánh giá kĩ năng của học sinh, mà đặc biệt là
văn.
- Thông qua việc chấm bài và trả bài giáo viên có thể giúp học sinh nhận ra những sa
em và giúp các em khắc phục trong những bài viết tiếp theo.
- Lao động chấm bài là một việc làm có thể hiện nhiệt tình, trách nhiệm và tâm huyết
nghề nghiệp cũng như đối với học sinh.
- Có thể thấy cả tình cảm và cách ứng xử của thầy giáo đối với học sinh trong việc ch
- Qua việc chấm bài và trả bài, giáo viên có thể tự đánh giá quá trình dạy học của mì
nâng cao hiệu quả dạy bộ môn Ngữ văn.
* Về phía học sinh :

e. Về lời phê :
- Khi chấm bài xong người chấm phải ghi lời nhận xét cụ thể. Lời nhận xét phải thể hi
Phải thấy được sai sót tiêu biểu nhất, phải thấy được các em có tiến bộ hay chưa tiến
bài làm sau.
- Lời phê trong bài làm phải ân cần, chu đáo.
- Tránh những lời nhận xét chung chung, ít bổ ích, chỉ mang tính xếp loại như: còn yế
- Tránh những lời phê thiếu trân trọng, thiếu tính khích lệ.
g. Về ghi điểm : Thường thì giáo viên có thể ghi điểm sau khi đã đọc, nhận xét tổng h
với những bài làm trước. Điểm số là kết quả cuối cùng của bài làm, của việc chấm bà
theo những tiêu chí đánh giá được đặt ra nhưng cũng cần xem xét theo tình hình chu
một số học sinh cần được quan tâm đúng mức.
h. Thống kê các lỗi trong bài làm của học sinh. Giáo viên thống kê lỗi theo các nhóm
tiết trả bài trên lớp.
2.1.2: Chuẩn bị của học sinh:
- Hoàn thành công việc được giao, được giáo viên hướng dẫn chuẩn bị ở tiết trước.
- Xây dựng dàn bài cụ thể cho đề bài đã làm.
2.2. Thực hiện trên lớp :
Đây là phần trọng tâm của giải pháp này. Một giờ trả bài cũng cần được chuẩn bị chu
tiến trình sư phạm cần thiết. Qua thực tế dạy học bộ môn, chúng tôi xin nêu ra quy tr
làm văn có ứng dụng CNTT” đạt được hiệu quả cao :
2.1.1. Bước 1 : Nhắc lại đề bài bằng cách cho học sinh nhắc lại đề bài đã làm. Sau đ
dạy học trình chiếu đề bài lên bảng. Sau đó, giáo viên hướng dẫn học sinh xác định y
những dữ kiện về đề bài, về tình hình làm bài của học sinh, giáo viên xác định các yê


tưởng, kĩ năng, phương pháp. - Những yêu cầu đó phải được giáo viên công bố để đị
giá kết quả làm bài của cả lớp và của bản thân học sinh.
2.1.2. Bước 2 : Xây dựng dàn bài (thực hiện nhanh). Từ kết quả trao đổi ở bước trên
chiếu dàn bài và thang điểm đã được lập sẵn ở phần mềm giúp học sinh quan sát mộ
hoạt động này là: - Lớp rút kinh nghiệm về nội dung và phương pháp theo yêu cầu củ

2.1.6. Bước 6 : Đánh giá chất lượng và rút kinh nghiệm : Giáo viên đánh giá chất lượ
qua lược đồ hoặc biểu đồ nhằm đối chiếu với kết quả của bài làm trước hoặc có cơ s
bài làm sau. - Củng cố cho học sinh về phương pháp thực hiện kiểu bài. - Nhấn mạn
trong việc tạo lập văn bản. - Tổng kết các lỗi sai phổ biến, cơ bản để rút kinh nghiệm


B. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC :
Sau khi thực hiện đề tài, chúng tôi đã áp dụng vào thực tế dạy học của bản thân cũng
tổ chuyên môn. Tôi thấy đề tài đã phát huy tính hiệu quả về nhiều mặt, cụ thể như sa
hơn trong giờ học. - Hiệu quả sửa bài cao hơn. - Chất lượng bài làm được nâng lên. C
2011 – 2012 : Lớp Số học sinh
THỐNG KÊ BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 1 - VĂN THUYẾT MINH (LỚP 9) Điểm >= 5 Điểm
Điểm từ 0 đến 3 Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ 9A1 20 1
90 1 5 7 35 1 5 CỘNG: 40 14 82.5 2 5 26 65 3 7.5 Năm học 2011 – 2012 : Lớp Số họ
LÀM VĂN SỐ 2 - VĂN TỰ SỰ (LỚP 9) Điểm >= 5 Điểm từ 8 đến 10 Điểm dưới 5 Điể
Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ 9A1 20 15 75 2 10 5 25 1 5 9A2 20 15 75
75 3 7.5 10 25 1 2.5 Năm học 2011 – 2012 : Lớp Số học sinh THỐNG KÊ BÀI TẬP L
(LỚP 9) Điểm >= 5 Điểm từ 8 đến 10 Điểm dưới 5 Điểm từ 0 đến 3 Số lượng Tỉ lệ Số
lượng Tỉ lệ 9A1 20 16 80 2 10 4 20 1 5 9A2 20 17 85 2 10 3 15 1 5 CỘNG: 40 33 82.
chất lượng dạy học bộ môn ngữ văn phụ thuộc vào nhiều yếu tố và việc chấm trả bài
phạm cũng góp phần nâng cao chất lượng bộ môn.
PHẦN III : KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

Để việc dạy và học ứng dụng CNTT nói chung và ứng dụng CNTT trong tiết trả bài đ
lâu dài, song song với quá trình đổi mới phương pháp dạy học. Sự sáng tạo, linh hoạ
quá trình giảng dạy là một yêu cầu quan trọng. Qui trình chấm bài, trả bài là qui trình
liền với tinh thần trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp, tình yêu thương quí trọng thàn
giáo viên đối với học sinh. Việc thực hiện tiết trả bài có ứng dụng CNTT hiệu quả là v
làm văn sinh động hơn. Trên đây là một giải pháp để tiết dạy tập làm văn sao cho có
giảng dạy cũng như học hỏi từ đồng nghiệp chúng tôi đã rút ra được. Tuy nhiên khôn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status