SKKN Nâng cao năng lực cảm thụ văn ở học sinh lớp 6 - Pdf 26


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẢM
THỤ VĂN Ở HỌC SINH LỚP 6
sinh nói chung và học sinh lớp 6 nói riêng gặp rất nhiều khó khăn.
Thứ hai: là người giáo viên chúng ta cần phải hiểu rằng hoạt động
tiếp thu tri thức thực chất là hoạt động ghái, đáp diễn ra liên tục thông
qua nhận thức của người học. Và muốn làm được điều đó người thầy
phải lựa chọn phương pháp truyền thụ một cách hợp lý nhất để đạt được
mục tiêu môn học - đối tượng học sinh.
Thứ ba: Học sinh lớp 6 là học sinh đầu cấp THCS thoát ly gần như
tuyệt đối chương trình cách học và chương trình ở bậc tiểu học.
Từ tập đọc ở tiểu học các em phải đọc hiểu văn bản, học lý thuyết
phải vận dụng thực hành, học tiếng Việt phải sử dụng khi nói - viết và
câu hỏi là phải biết cảm thụ các tác phẩm văn học, cảm thụ cái hay, cái
đẹp, cái giá trị chân thực của tác phẩm văn học, mà điều này. Mà điều
này là học sinh lớp 6 là vấn đề vô cùng khó khăn.

I.2. Mục đích nghiên cứu
Từ cơ sở lý luận và thực tế việc dạy học ngữ văn đối với học sinh
lớp 6 tôi nhận thấy cần phải thư nghiệm - đúc rút kinh nghiệm dù ít ỏi trong việc nâng cao năng lực cảm thụ Văn học cho học sinh lớp 6.
I.3. Thời gian - địa điểm
- Năm học 2008-2009
- Địa điểm: Học sinh lớp 6AB trường THCS Đức Chính.
I.4 Đóng góp về mặt lÝ luận và thực tiễn
I.4.1. Về mặt lí luận
- Học sinh lớp 6 là học sinh đầu cấp THCS, mọi đơn vị kiến thức và
các en hoàn toàn mới lạ nên ngay từ những giờ đầu của chương trình
giáo viên phải xây dựng ngay cho mình một kế hoạch dạy học bộ môn
sát với đối tượng học sinh.
Giáo viên dạy văn 6 phải xác định mục tiêu bộ môn và mục tiêu bậc

- Biết phát hiện lỗi sai khi dùng từ
- Vận dụng nói - viết đúng ngữ pháp, đúng văn cảnh trong các bài làm
văn.
Qua một văn bản văn học, học sinh phải cảm nhận được cái sâu xa
mà tác giả muốn gửi gắm qua tác phẩm:
VD1: Học truyện "Thạch Sanh"( tiết 21-22 ) => học sinh biết yêu
quý những con người lao động hiền hành, biết căm thù kẻ ác - x©ó (Lý
Thông).
VD2: "Em bé thông minh" ( tiết25-26) => hiểu được cái dí dỏm qua
lời giải đố của em bé thông minh ,từ đó kích thích tư duy trí tuệ, khả
năng ứng xử linh hoạt của học sinh. trong học tập cũng như trong giao
tiếp cuộc sống.
VD3 Với văn bản :" Bài học đường đời đầu tiên" tiết 73-74 . Học
xong văn bản này học sinh tự kiểm tra bản thân => mạnh dạn chỉ ra cái
còn thiếu sót ,tự vạch ra tåm tại của chính mình và có hướng sửa chữa ,
vươn lên, từ đó giúp các em mạnh dạn học tập, phê và tự phê.trong hoạt
động tập thể.
II. Nội dung
II.1. Chương 1: Tổng quan
Nói chung việc dạy học môn Ngữ văn ở học sinh lớp 6 là cả một quá
trình công phu, vừa có vai trò đặt nền móng cho môn học của cả cấp học
- vừa phải thực hiện được mục tiêu môn học ở cả cấp học- mà sau này
còn chi phối cách học tập của học sinh cả cấp học THCS thậm chí cấp
THPT.
- Đào tạo kỹ năng ở lớp 6 là: nghe - nói - đọc - viết tiếng Việt thành thạo, từ đó bưíc đầu có năng lực cảm nhận và bình giá tác phẩm văn học
ở mức đơn giản
Ngoài ra Ngữ văn lớp 6 còn có nhiệm vô giáo dục học sinh nâng
II-2-3 : Giải pháp
Từ thực trạng của việc học văn trên khi tiếp nhận học sinh lớp 6 đầu
cấp tôi đã tiến hành một số công việc cho là cần thiết trước khi lựa chọn
phương pháp dạy học
1. Lập danh sách học sinh đưa từ tiểu học lên với học lực bộ môn cụ
thể
2 .Trực tiếp gặp gỡ giáo viên dạy ở tiểu học để xác minh đánh giá
học lực của từng em.
3 .Tiến hành khảo sát chất lượng ngay từ tuần học đầu năm để phân
loại học sinh vê ưu điểm, tồn tại đại trà, đặc biệt có danh sách kèm
theovµ nhận xét đánh giá ban đầu.
4 . Tiến hành kiểm tra sách giáo khoa, sách bài tập , các loại vở
ghi,vở soạn của học sinh đúng với yêu cầu môn học
5 . Sau đó giáo viên xây dựng kế hoạch dạy học với từng loại văn
bản có trong phân phối chương trình.
Ví dụ : Truyện truyền thuyết,truyện cổ tích ,truyện cười ,truyện
trung đại ,truyện hiện đại, tác phẩm thơ 6. Ngay từ đầu năm học mỗi giờ chấp nhận bỏ ra từ 5 đến 7 phút
hướng dẫn học sinh cách soạn bài từ cách đọc văn bản, cách xác định
câu hỏi, xác định nội dung cần trả lời (kiên quyết yêu cầu học sinh đọc
văn bản từ 10-15 lần trước khi soạn bài).
7. Sau khi học sinh đã tiếp cận văn bản ở dạng sơ lược là đọc, giáo
viên giúp học sinh xác định các yêu cầu cao hơn sau mỗi bài học. Cần
thiết (tuỳ bài) giáo viên lập sẵn hệ thống câu hỏi soạn đã được chia nhỏ
để học sinh không bị choáng ngợp trước những kiến thức lớn, dài (là học
sinh lớp 6).

quý về nguồn gốc và hình dạng của Lạc Long Quân và Âu Cơ"?
Với câu hỏi này, khi hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài tôi thay bằng
3 câu hỏi nhỏ:
? Lạc Long Quân và Âu Cơ có nguồn gốc từ đâu? Hình dạng của họ
có gì khác lạ so với người bình thường?
? Người bình thường sinh nở có thời hạn là bao lâu? ở đây Âu Cơ
sinh nở có gì khác lạ?
? Những đứa con của Âu Cơ có gì khác những đứa trẻ bình thường?
Đấy là dạng câu hỏi "tìm" . Từ đó nâng lên câu hỏi cảm thụ:
? Những chi tiết vừa tìm được có đúng với cuộc sống thực tế không? Vì sao?.
? Vậy các chi tiết đó có vai trò như thế nào trong truyện?
Học sinh trả lời:
- Tăng tính ly kỳ, hấp dẫn cho truyện;
- Khắc hoạ được tính chất kỳ lạ đẹp đẽ của các nhân vật.
Yêu cầu cao hơn:
- Đề cao sự thiêng liêng hoá nguồn gốc giống nòi, khẳng định dòng
dõi cao quý của dân tộc Việt Nam. Từ đó tự hào tôn kính tổ tiên.
GV hỏi tiếp ? Chi tiết 100 trứng trong cùng một bọc có ý nghĩa gì?
HS trả lời: thể hiện tinh thần đoàn kết thống nhất của nhân dân khắp
mọi miền đất nước.
GV bình và nâng lên thành bài học giáo dục cho học sinh về tinh
thần đoàn kết các cộng đồng dân tộc Việt Nam.
VD2: Tiết 9: "Sơn tinh - Thủ Tinh"
Văn bản này (SGK) nội dung câu hỏi quá lớn, dễ làm, học sinh thấy
khó khăn hoang mang khi chuẩn bị bài:
( Người sáng mắt có học mà cách nhìn không đúng ,sai lệch hậu quả
cũng không kém ) ? Trong truyện " Thầy bói xem voi " quan hệ giữa các nhân vật có ý
nghĩa gì?.
Giáo viên bình: Đó chính là quan hệ nương tựa vào nhau, phụ thuộc
lẫn nhau của những cá nhân trong một tổ chức, một cộng đồng mà ở đây
dân gian đã thu lại trong phạm vi mÂy cơ quan trên một cơ thể con
người. Từ đó chúng ta cần phải lưu ý trong quan hệ sống với tập thể (cụ
thể là với gia đình, lớp, trường).
VD4: Văn bản "Bức tranh của em gái tôi". Tiết 81, 82
Đây là một văn bản mang tính nhân văn cao, cốt truyện lại thực tế
gần gũi với các em, giá trị của văn bản và cái cần học sinh cảm thụ nằm
ở câu nói mà người anh thầm nói với mẹ về em gái mình: "Không phải
con đâu. Đấy là tâm hồn mà lòng nhân hậu của em con đấy".
Sau khi đã phân tích tìm hiểu nội dung văn bản, học sinh đã nắm
được kiến thức cơ bản của câu truyện, giáo viên đưa câu hỏi trên để học
sinh thảo luận. Đây là câu hỏi cảm thụ ở dạng khá cao so với học sinh lớp 6. Nếu để nguyên câu hỏi, học sinh lớp 6 sẽ khó khăn bởi câu hỏi
mang tính triết lý. Vì vậy, tôi thay đổi câu hỏi như sau:
? Suy nghĩ lúc này của người anh có gì khác so với suy nghĩ ban đầu
về em gái mình?
? Điều gì đã làm cho người anh thay đổi suy nghĩ?
? Câu nói thầm của người anh với mẹ chứng tỏ điều gì?
Vậy, "bức tranh" lúc này có còn là một tác phẩm nghệ thuật đơn
thuần nữa không? Nếu không thì "bức tranh" lúc này có ý nghĩa nào
khác?

? Tìm phép nhân hoá trong khổ thơ?
Lúc này, học sinh chưa học nhân hoá nên việc tìm phép nhân hoá đột
ngột như vậy là không hợp lý. Giáo viên xây dựng lại hệ thống câu hỏi
để học sinh cảm thụ từng bước:
? Yêu cầu học sinh đọc, nghiên cứu ví dụ?
? Chỉ ra các sự vật, con vật, đồ vật được nói tới trong khổ thơ?
- Ông trời, cây mía, kiến.
? Những sự vật, con vật, đồ vật ấy được miêu tả có những hoạt động,
hành động gì?
- Mặc áo, múa gươm, hành quân.
Từ đó giáo viên đặt câu hỏi:
? Mặc áo, múa gươm, hành quân là những từ dùng để chỉ hoạt động
của ai? (chỉ người).
? So sánh với cách diễn đạt thứ hai ta thấy cách một có gì hay? - Bầu trời đầy mây đen.
- Muôn nghìn cây mía ngả nghiêng.
- Kiến bò đầy đường.
Học sinh sẽ nhận ra cách 1 làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật
gần gũi với con người và biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của
con người.
Giáo viên nhấn mạnh tác dụng của phép nhân hoá và cho học sinh
tìm phát hiện phép nhân hoá ở các văn bản đã học.
II.3. Phương pháp nghiên cứu - kết quả
II.3.1. Phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Cần nghiên cứu chương trình SGK, SGV, tài liệu tham khảo, kế
hoạch dạy học, đối tượng học sinh
2. Phương pháp vấn đáp trò chuyện

chương trình môn học, có kế hoạch hướng dẫn từ đầu năm. Bên cạnh đó
phải kiên trì hướng dẫn các đối tượng học sinh từ trung bình, yếu trở
xuống.
Khi soạn bài phải dự kiến 2-3 tình huống câu hỏi, cách trả lời.
Thường xuyên khảo sát (3-5 phút) để kiểm tra quá trình vận dụng việc thử
nghiệm.
Với những học sinh có năng khiếu phải kịp thời bồi dưỡng cho đề
bài riêng về nhà làm, có câu hỏi cao hơn khi trên lớp, chÂm chữa bài tay
đôi để học sinh bộc léc năng khiếu cảm thụ văn học.
Giáo viên phải nghiên cứu sưu tầm tài liệu có liên quan, tinh giản
các câu hỏi SGK (nhưng không làm mất đi yêu cầu bài học). Thấy cần
thiết những ngày đầu năm học phải có hệ thống soạn bài cụ thể với mỗi
bài, giao học sinh về nhà soạn, giáo viên kiểm tra, nhận xét, bổ sung
tuyên dương, nhắc nhở để các em tự tin, mạnh dạn học tập. Đồng thời giáo viên phải bám sát mục tiêu môn học, cấp học để từng
bước đạt được kết quả ở các kĩ năng nghe - nói - đọc - viết. Phát huy tính
s¸g tạo của học sinh. Và cuối cùng là hoàn thành mục tiêu môn học, chuẩn
bị cho các em tiếp tục học lên ở các lớp 7, 8, 9 với những yêu cầu cảm thụ
cao hơn.
Học sinh:
- Phải làm theo hướng dẫn của giáo viên bộ môn
- Có đủ SGK, vở ghi chép.
- Tích cực học tập.
- Mạnh dạn bày tỏ những suy nghĩ trong khi học cũng như khi kiểm
tra.
III.2. Kiến nghị
- Tổ chức thường kỳ những hội thảo về phương pháp dạy môn Ngữ
văn THCS theo thể loại văn bản để giáo viên có thể định hình phương

6. Phân tích - bình giảng tác phẩm Văn học dân gian của NXBGD-
2003
7. Những bài tập tiếng Việt lý thú - NXBGD 1995.
8. Ôn tập Ngữ văn 6 - NXBGD 2006.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status