Khóa luận tốt nghiệp
Khoa: Thương mại quốc tế
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã tận tình
hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện tại trường Đại
học Thương Mại, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Thương Mại Quốc Tế.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo PGS.TS Doãn Kế Bôn đã tận tình
hướng dẫn cũng như tạo điều kiện,giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc cùng tập thể cán bộ công
nhân viên Công ty Cổ Phần kho vận Miền Nam Sotrans Hà Nội đã nhiệt tình hướng
dẫn và giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại công ty.
Tuy nhiên, với kiến thức và thời gian thực tập có hạn nên bài khóa luận của em
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của
thầy giáo hướng dẫn Doãn Kế Bôn để bài báo cáo của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Ký tên
Phạm Thị Thiện
SV: Phạm Thị Thiện
i
Lớp: K48E5
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa: Thương mại quốc tế
MỤC LỤC
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa: Thương mại quốc tế
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
VNĐ
ĐVT
CP
XNK
EU
XK
NK
TBCN
XHCN
NVL
SV: Phạm Thị Thiện
Việt Nam Đồng
Đơn vị tính
Cổ Phần
Xuất Nhập Khẩu
The European Union
Xuất Khẩu
Nhập Khẩu
Tư Bản Chủ Nghĩa
Xã Hội Chủ Nghĩa
Nguyên Vật Liệu
để tồn tại và phát triển tại thị trường giao nhận Việt Nam,công ty cần phải tăng cường
các hoạt động nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.Nhằm đánh giá thực trạng
giao nhận hàng hóa quốc tế bằng đường biển hiện nay,tìm ra điểm mạnh và điểm yếu
của công ty từ đó có những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty
trong dịch vụ này,em đã quyết định chọn đề tài :”NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HÓA QUỐC TẾ BẰNG ĐƯỜNG
BIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN KHO VẬN MIỀN NAM(SOTRANS) HÀ
NỘI”.
SV: Phạm Thị Thiện
1
Lớp: K48E5
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa: Thương mại quốc tế
1.2.Mục tiêu nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu lý luận: Hệ thống hoá cơ sở lý luận về khả năng cạnh tranh
và giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh quá trình giao nhận vận tải bằng đường
biển của doanh nghiệp.
Mục tiêu nghiên cứu thực trạng: Tìm hiểu, phân tích, nhận dạng khả năng cạnh
tranh của công ty cổ phần Sotrans Hà Nội, so sánh với các đối thủ cạnh tranh.
Mục tiêu về giải pháp: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
bằng đường biển của công ty cổ phần Sotrans Hà Nội.
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về khả năng cạnh tranh dịch vụ giao nhận
Khoa: Thương mại quốc tế
Nhược điểm: kết quả quan sát được không có tính đại diện cho số đông
1.4.2. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp
1.4.2.1. Phương pháp thống kê kinh tế
Đây là phương pháp phổ biến nhằm nghiên cứu các hoạt động Kinh Tế - Xã Hội.
Thực tế của phương pháp này tổ chức điều tra, thu thập dữ liệu… Sau khi đã tổng hợp
phân tổ thì đối chiếu và so sánh phân tích để có kết luận chính xác về thực trạng vấn
đề nghiên cứu.
1.4.2.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Sau khi đã thu thập số liệu, tiến hành phân tích và sử lý số liệu. Việc sử lý số liệu
tiến hành bằng máy tính bỏ túi và mày vi tính thông qua các phần mềm hỗ trợ như
Excel
1.4.2.3 Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi, phổ biến và lâu đời. So sánh trong
phân tích và đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế xã hội đã được lượng hóa có
cùng nội dung, một tính chất tương tự để xác định xu hướng, mức độ bình quân của
chỉ tiêu. Trên cơ sở đánh giá các mặt phát triển hay không phát triển, hiêu quả hay
không hiệu quả để tìm ra các giải pháp tối ưu trong từng trường hợp tùy thuộc vào
mục đích phân tích mà ta xác định phương pháp so sánh.
1.5 Kết cấu khóa luận.
Gồm 4 chương :
CHƯƠNG 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh quá trình
giao nhận vận tải bằng đường biển của công ty Cổ phần Sotrans Hà Nội.
CHƯƠNG 2: Một số lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình giao
nhận vận tải bằng đường biền của công ty Cổ phần Sotrans Hà Nội.
CHƯƠNG 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh dịch vụ giao nhận đường biển của công
ty Cổ phần Sotrans Hà Nội.
CHƯƠNG 4: Định hướng và một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công
vụ trên, kể cả vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ
liên quan đến hàng hóa giữa 2 quốc gia khác nhau.
Theo Luật Thương mại Việt Nam "Dịch vụ giao nhận hàng hóa là hành vi thương
mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức
vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan
để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của
người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là các khách hàng)".
Như vậy, giao nhận hàng hóa quốc tế là tập hợp những nghiệp vụ, thủ tục có liên
quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng
đến nơi nhận hàng (giữa hai quốc gia khác nhau).
2.1.2. Khái niệm cạnh tranh.
Ngày nay, thuật ngữ “cạnh tranh” đã trở nên rất quen thuộc đối với mọi nền kinh tế.
Tuy nhiên, để có thể hiểu một cách đúng đắn và đầy đủ nhất về cạnh tranh thì không
phải đơn giản. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh. Điều này phụ thuộc
SV: Phạm Thị Thiện
4
Lớp: K48E5
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa: Thương mại quốc tế
vào cách tiếp cận của người tìm hiểu. Nếu theo cách hiểu thông thường thì cạnh tranh
là quá trình mà các chỉ thể tìm mọi biện pháp để vượt lên so với các đối thủ về một
lĩnh vực nhất định.
Cạnh tranh đặc biệt phát triển cùng với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Theo C. Mác
SV: Phạm Thị Thiện
5
Lớp: K48E5
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa: Thương mại quốc tế
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có
thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, đảm
bảo việc thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những
mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện được những mục tiêu mà doanh
nghiệp đề ra.
2.1.4 Khái niệm năng lực cạnh tranh dịch vụ giao nhận bằng đường biển.
Năng lực cạnh tranh dịch vụ giao nhận bằng đường biển là việc doanh nghiệp phát
huy hết khả năng nội tại và tạo ra dịch vụ tốt nhất với mức chi phí hợp lý nhất nhằm
cạnh tranh với các đối thủ cùng lĩnh vực trên thị trường giao nhận bằng đường biển.
2.2. Phân loại cạnh tranh và vai trò cạnh tranh.
2.2.1 Các loại hình cạnh tranh.
- Cạnh tranh hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rất nhiều
người bán, họ đều quá nhỏ lẻ nên không ảnh hưởng đến giá cả thị trường. Điều đó có
nghĩa là không cần biết sản xuất được bao nhiêu, họ đều có thể bán tất cả sản phẩm
của mình tại mức giá thị trường hiện hành. Vì vậy mặt hàng trong thị trường cạnh
tranh hoàn hảo không có lý do gì để bán rẻ hơn mức giá thị trường. Đồng thời hàng
năm cũng không tăng giá của mình lên cao hơn giá thị trường vì nếu tăng giá thì hãng
sẽ không bán được hàng, do người tiêu dùng sẽ đi mua hàng với mức giá hợp lý từ các
đối thủ cạnh tranh của hãng . Do đó các hãng sản xuất sẽ luôn tìm các biện pháp để
trên thị trường. Thị trường này có pha trộn giữa độc quyền và cạnh tranh, được gọi là
thị trường cạnh tranh độc quyền. ở đây xảy ra cạnh tranh giữa các nhà độc quyền. Điều
kiện ra nhập hoặc rút lui khỏi thị trường cạnh tranh độc quyền có nhiều trở ngại do
vốn đầu tư lớn hoặc do độc quyền về bí quyết công nghệ. Thị trường này không có
cạnh tranh về giá cả, mà một số người bán toàn quyền quyết định giá cả.
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành : Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng
sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó. Trong cuộc cạnh tranh này
các chủ doanh nghiệp thôntính nhau. Những doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng
phạm vi hoạt động của mình trên thị trường. Những doanh nghiệp thu cuộc sẽ phải thu
hẹp kinh doanh, thậm chí bị phá sản.
- Cạnh tranh giữa các ngành : Là sự cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp trong
các ngành kinh tế khác nhau nhằm giành lấy lợi nhuận lớn nhất. Trong quá trình cạnh
tranh này, các chủ doanh nghiệp luôn say mê với những ngành đầu tư có lợi nhuận nên
đã chuyển vốn kinh doanh từ những ngành ít thu được lợi nhuận sang những ngành có
lợi nhuận cao hơn. Sự điều chỉnh này sau một thời gian nhất định sẽ hình thành nên sự
phân phối vốn hợp lý giữa các ngành sản xuất. Kết quả cuối cùng là các chủ doanh
nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau với số vốn bằng nhau và chỉ thu được lợi nhuận
như nhau. Tức là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân cho tất cả các ngành.
2.2.2 Vai trò của cạnh tranh đối với doanh nghiệp.
Cạnh tranh là điều bất khả kháng đối với mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường. Cạnh tranh có thể được coi là cuộc chạy đua khốc liệt mà các doanh nghiệp
không thể tránh khỏi mà phải tìm mọi cách vươn lên để chiếm ưu thế và chiến thắng.
Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp luôn tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch
vụ, thay đổi kiểu dáng mẫu mã đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Cạnh tranh khuyến
khích các doanh nghiệp áp dụng các công nghệ mới, hiện đại , tạo sức ép buộc các
SV: Phạm Thị Thiện
7
cầu về dịch vụ đó trên thị trường xác định. Thông thường, dịch vụ nào có giá bán thấp
hơn thì dịch vụ đó sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn. Do vậy, muốn có giá bán thấp
thì các doanh nghiệp phải tìm cách hạ giá thành dịch vụ của mình. Điều này đòi hỏi
phải sử dụng hợp lý các nguồn lực sẵn có như nguồn lao động dồi dào, tài nguyên
thiên nhiên phong phú, bên cạnh đó phải nâng cao hiệu quả quản lý, tiếp cận và ứng
dụng những thành tựu trong công nghệ thông tin, có như vậy mới hạ giá thành và nâng
cao sức cạnh tranh của dịch vụ.
SV: Phạm Thị Thiện
8
Lớp: K48E5
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa: Thương mại quốc tế
2.3.2. Chất lượng dịch vụ.
Chất lượng dịch vụ là yếu tố quan trọng tạo nên sức cạnh tranh của dịch vụ . Trong
xu hướng phát triển như hiện nay, nhu cầu hưởng thụ của người dân ngày càng cao,
cùng với đó là những yêu cầu, đòi hỏi về chất lượng của dịch vụ. Khách hàng sẵn sàng
trả giá cao cho những dịch vụ cùng loại có chất lượng tốt hơn hẳn.
Chất lượng dịch vụ thể hiện tính quyết định sức cạnh tranh của dịch vụ của doanh
nghiệp ở chỗ:
-Chất lượng sẽ làm tăng giá trị và giá trị sử dụng của dịch vụ.
-Giống như sản phẩm hữu hình, dịch vụ cũng có chu kỳ sống. Nâng cao chất lượng
dịch vụ sẽ kéo dài chu kỳ sống cho dịch vụ, từ đó làm tăng lợi nhuận cũng như mở
rộng thị phần thị trường.
Khoa: Thương mại quốc tế
và cho các đối tác kinh doanh và doanh nghiệp sẽ có nhiều thuận lợi và được ưu đãi
trong quan hệ với bạn hàng. Uy tín của doanh nghiệp là một tài sản vô hình của doanh
nghiệp. Khi giá trị của tài sản này cao sẽ giúp doanh nghiệp tăng khả năng thâm nhập
vào thị trường trong và ngoài nước, khối lượng sản phẩm tiêu thụ lớn, doanh thu tăng,
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ được nâng cao.
2.4 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
2.4.1 Thị phần của doanh nghiệp.
Độ lớn của chỉ tiêu này nói lên mức độ lớn của thị trường và vai trò vị trí của
doanh nghiệp. Thông qua sự biến đổi của chỉ tiêu này ta có thể đánh giá mức độ hoạt
động có hiệu quả hay không của doanh nghiệp bởi vì nếu như tiềm năng của thị trường
đang tăng lên mà phần thị trường của doanh nghiệp vẫn không đổi thì doanh nghiệp
đạt tốc độ tăng trưởng bằng tốc độ tăng trưởng của thị trường. Lượng tuyệt đối của thị
phần thị trường tăng lên nhưng lượng tuyệt đối của thị trường không tăng thì chứng tỏ
khả năng cạnh tranh đã bị giảm sút do các đối thủ khác đang thực hiện chiến lược tăng
tốc. Vì vậy, doanh nghiệp phải luôn quan tâm đúng mức đến thị phần thị trường của
doanh nghiệp bằng cách điều chỉnh các chính sách, chiến lược một cách phù hợp nhằm
đạt hiệu quả kinh doanh cao. Thị phần thị trường của doanh nghiệp phải luôn tăng cả
về lượng tuyệt đối cũng như tương đối thì mới nâng cao được khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp.
2.4.2 Doanh thu của doanh nghiệp.
Đây là chỉ tiêu phản ánh số tương đối doanh thu của doanh nghiệp với doanh thu
của đối thủ cạnh tranh. Chỉ tiêu này cho phép doanh nghiệp có thể so sánh trực tiếp
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác nhằm đánh giá kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình. Nếu chỉ tiêu trên buộc
doanh nghiệp phải tìm hiểu điều tra một cách đầy đủ thị trường của các đối thủ cạnh
tranh cùng loại sản phẩm thì chỉ tiêu này cho phép doanh nghiệp lựa chọn đối thủ cạnh
tranh mạnh nhất hoặc phù hợp nhất về qui mô cơ cấu, so sánh, rút ra những mặt mạnh,
những tồn tại để khắc phục trong thời gian tới. Chỉ tiêu này đơn giản và dễ tính hơn,
* Các nhân tố thuộc về chính trị, luật pháp: Một thể chế chính trị, một hệ thống
pháp luật rõ ràng, ổn định sẽ là cơ sở đảm bảo cho sự thuận lợi, bình đẳng giữa các
doanh nghiệp và là hành lang pháp lý vững chẵc để đảm bảo cho các doanh nghiệp khi
tham gia vào thị trường kinh doanh.
* Các nhân tố thuộc về khoa học và công nghệ : Khoa học công nghệ đóng vai trò
quan trọng có ý nghĩa quyết định trong cạnh tranh. Khoa học công nghệ tác động đến
chi phí cá biệt của doanh nghiệp, nhờ có khoa học và công nghệ mà doanh nghiệp có
thể tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt. Dưới sự phát triển của khoa học và công
nghệ cao sẽ làm cho sản phẩm bị lão hoá nhanh chóng, vòng đời bị rút ngắn phần thắng
sẽ nghiêng về các doanh nghiệp có trình độ máy móc, khoa học công nghệ hiện đại.
* Các yếu tố văn hoá xã hội : Phong tục tập quán, lối sống, thói quen, tín ngưỡng
tôn giáo của người tiêu dùng, ảnh hưởng đến nhu cầu của thị trường. Ở những khu vực
địa lý khác thì nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng cũng khác nhau do vậy sẽ đòi hỏi
doanh nghiệp phải có chính sách sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm khác nhau.
* Các yếu tố về tự nhiên : Các yếu tố về tự nhiên bao gồm: tài nguyên thiên nhiên,
vị trí địa lý.
SV: Phạm Thị Thiện
11
Lớp: K48E5
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa: Thương mại quốc tế
Về việc phân bố địa lý của các tổ chức kinh doanh, vị trí địa lý thuận lợi sẽ tạo điều
kiện khuếch trương sản phẩm, mở rộng thị trường, giảm chi phí thương mại, chủ động
SV: Phạm Thị Thiện
12
Lớp: K48E5
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa: Thương mại quốc tế
liên kết với nhau để tạo ra những hàng rào cản trở tập trung vào thị trường trọng điểm
hay có những kiến nghị đối với nhà nước...Các hàng rào gia nhập ngày càng thấp thì
nguy cơ gia nhập của đối thủ mới càng cao. Khi đó, khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp sẽ yếu đi nếu doanh nghiệp trong ngành không tạo ra được một hàng rào cản
trở hữu hiệu.
* Các nhà cung ứng nguyên vật liệu : Các nhà cung ứng các yếu tố đầu vào cho sản
xuất có thể chia sẻ lợi nhuận của doanh nghiệp đó trong trường hợp doanh nghiệp có
khả năng trang trải các chi phí tăng thêm trong đầu vào. Các nhà cung cấp có thể có
quyền ép giá nếu họ có những lợi thế sau:
- Họ là nhà cung cấp có quyền duy nhất. Nếu doanh nghiệp không có nguồn cung
cấp nào khác thì doanh nghiệp sẽ yếu thế hơn trong mối quan hệ tương quan thế lực
với nhà cung cấp. Một trong những điều cấm kỵ nhất là doanh nghiệp chỉ sử dụng một
công ty duy nhất là nhà cung cấp cho mình.
- Doanh nghiệp không phải là khách hàng quan trọng của nhà cung cấp.
- Loại vật tư của nhà cung cấp là yếu tố quan trọng của doanh nghiệp quyết định đến
quá trình sản xuất, chất lượng sản phẩm.
- Nhà cung cấp có đủ khả năng về nguồn lợi để khép kín sản xuất .
* Sức ép của sản phẩm thay thế : Sự ra đời của sản phẩm thay thế là một tất yếu
nhằm đáp ứng sự biến động của nhu cầu thi trường theo hướng ngày càng đa dạng và
như tao thêm tính ưu việt, độc đáo mới lạ của dịch vụ. Chất lượng nguồn nhân lực còn
được thể hiện ở trình độ quản lý của đội ngũ quản trị viên của doanh nghiệp.
2.5.2.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật.
Hệ thống thiết bị, công nghệ của doanh nghiệp :Tình trạng của hệ thống máy móc,
thiết bị công nghệ của doanh nghiệp có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp đó. Nó là yếu tố quan trọng thể hiện năng lực sản xuất của doanh
nghiệp và tác động trực tiếp tới chất lượng sản phẩm. Một doanh nghiệp có máy móc
thiết bị hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến thì doanh nghiệp đó có thể nâng cao chất
lượng sản phẩm, giảm bớt chi phí nguyên liệu, chi phí nhân công làm cho doanh
nghiệp có lợi thế trong việc sử dụng giá cả làm công cụ cạnh tranh trên thị trường.
2.5.2.3 Quy mô và năng lực sản xuất.
- Quy mô và năng lực sản xuất :
Doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ có lợi thế trong cạnh tranh so với doanh nghiệp
nhỏ như :
+ Số lượng sản phẩm lớn sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp thoả mãn được nhiều
hơn nhu cầu khách hàng, qua đó chiếm được thị phần lớn hơn.
+ Doanh nghiệp có quy mô và năng lực sẽ có ảnh hưởng lớn hơn đối với người
tiêu dùng so với các doanh nghiệp nhỏ.
+ Bộ máy quản lý :
Bộ máy quản lý của doanh nghiệp tác động một các tổng hợp tới hiệu quả hoạt động
sản xuất nói chung cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng. Bộ máy
quản lý doanh nghiệp cũng có tầm quan trọng như bộ óc con người, muốn chiến thắng
được đối thủ trong cuộc cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải nhạy bén, chủ động trước
tình huống thị trường, phải đi trước các đối thủ trong việc đáp ứng các nhu cầu mới...Tất
cả những hoạt động đó đều phụ thuộc vào bộ máy quản lý của doanh nghiệp.
SV: Phạm Thị Thiện
14
15571
2015
220.004
18884
tuyệt đối
Tốc độ tăng(%)
Số tuyệt đối
Mức tăng tuyệt
8
89.672
8924
11
94.248
4576
9
99.356
5108
đối
Tốc độ tăng(%)
Hàng nhập Số tuyệt đối
Mức tăng tuyệt
11
95.879
15
Lớp: K48E5
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa: Thương mại quốc tế
ưu thế xuất khẩu của Viêt Nam như: Hàng giày dép,hàng dệt may,hàng thủ công mỹ
nghệ,than đá……các thị trường chính của Sotrans Hà Nội chủ yếu là
Mỹ,EU,Nhật….đó là những bạn hàng lâu đời truyền thống trung thành với Sotrans
trong việc giao nhận vận tải hàng hóa.
Bảng 3.2: Tình hình giao nhận cơ cấu theo mặt hàng(Hàng XK)
ĐVT: Triệu tấn.
Năm
2013
2014
Hàng công trình
17.984
20.589
24.982
Tỉ trọng(%)
10
8.2
(Nguồn : Báo cáo kế toán của Sotrans Hà Nội )
Bảng 3.3: Tình hình giao nhận theo cơ cấu mặt hàng(Hàng NK)
ĐVT: Triệu tấn
Năm
2013
2014
2015
Hàng giày dép
10.210
14.452
15.632
Tỉ trọng(%)
Hàng dệt may
12.5
12.010
13.9
14.210
Năm 2014,2015 do lượng hàng hóa xuất-nhập khẩu lớn hơn rất nhiều đòi hỏi
việc giao nhận nhiều hơn.Lượng hàng hóa giao nhận của Sotrans Hà Nội vì thế cũng
tăng lên một cách nhanh chóng.Cứ theo cái đà này thì trong năm nay và trong mấy
SV: Phạm Thị Thiện
16
Lớp: K48E5
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa: Thương mại quốc tế
năm tới lượng hàng hóa từ các nước về cũng nhiều mà lượng hàng từ Việt Nam xuất
khẩu đi cũng không kém.Để đáp ứng được nhu cầu đó và để cạnh tranh được với
những doanh nghiệp khác.Đòi hỏi Sotrans Hà Nội phải nâng cao chất lượng giao
nhận,từ trang thiết bị,phương tiện vận chuyển,thủ tục pháp lý,hệ thống kho bãi….sao
cho hàng được giao nhận phải được nhanh chóng,không tổn thất mất mát mà vẫn giữ
được chất lượng hàng hóa.
3.2 Thực trạng các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của dịch vụ giao nhận
hàng hóa bằng đường biển so với các đối thủ canh tranh.
3.2.1 Doanh thu của công ty so với các đối thủ canh tranh.
Doanh thu là một trong những chỉ tiêu có thể đánh giá một cách đơn giản khả
năng cạnh tranh của một công ty. Nếu doanh thu của công ty từ một sản phẩm hoặc
một dịch vụ nào đó là lớn thì chứng tỏ sản phẩm và dịch vụ mà công ty cung cấp đáp
ứng được nhu cầu của khách hàng và ngược lại. Trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ
giao nhận quốc tế thì doanh thu đem lại càng cao thì chứng tỏ khối lượng hàng hoá
giao nhận của công ty đó càng lớn, điều đó cũng có nghĩa là khả năng cạnh tranh của
công ty đó với các công ty cùng ngành là càng mạnh.
càng khẳng định vị thế của mình và tăng đều đặn qua các năm.Điều đó cho thấy tiềm
năng của công ty ngày càng một lớn mạnh hơn trên thị trường giao nhận vận tải hàng
hóa.
3.2.2 Thị phần của công ty so với các đối thủ canh tranh.
SV: Phạm Thị Thiện
17
Lớp: K48E5
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa: Thương mại quốc tế
Bảng 3.5 So sánh thị phần của Sotrans với các đối thủ cạnh tranh.
( ĐV : %)
Công ty
Sotrans Hà Nội
Vinatrans
Gemadept
Vosa
2013
2014
2015
7%
8%
8%
10%
* Chi phí thông quan cho hàng hoá.
Chi phí mở tờ khai hải quan cho mọi doanh nghiệp theo quy định của nhà nước là
như nhau. Tuy nhiên do nhiều lý do nhạy cảm, nên ngoài chi phí mở tờ khai thì các
doanh nghiệp phải chi thêm nhiều khoản phí khác. Ví dụ: khi có một lô hàng khẩn cần
phải nhập kho ngay trong đêm mà giờ làm việc của đơn vị Hải Quan sắp hết thì các
SV: Phạm Thị Thiện
18
Lớp: K48E5
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa: Thương mại quốc tế
doanh nghiệp có thể phải gửi công văn cho Hải quan để được xin mở tờ khai ngoài
giờ. Bên cạnh đó, để được ưu tiên giải quyết sớm thì các doanh nghiệp có thể còn phải
bỏ ra thêm một số khoản phụ phí khác. Điều này phụ thuộc vào mối quan hệ của các
doanh nghiệp với đơn vị Hải quan nên rất khó để có thể so sánh.
Với mối quan hệ khá tốt mà công ty đã chú trọng xây dựng với các đơn vị hải
quan, mà nhờ đó thủ tục khai hải quan cho hàng hoá của công ty Sotrans cũng khá
nhanh, chuyên nghiệp và chính xác. Từ đó giảm được những chi phí , thời gian , giúp
tạo được thế mạnh cho công ty trong khâu này .Đây cũng chính là một trong nhưng ưu
điểm mà công ty cần phải phát huy, tạo cơ sở cho việc nâng cao sức cạnh tranh.
* Chi phí vận chuyển hàng hoá.
Trong dịch vụ giao nhận hàng hoá thì chi phí vận chuyển hàng hoá là loại chi phí
chính, chiếm tới hơn 64% tổng chi phí của dịch vụ giao nhận. Chi phí vận chuyển
hàng hoá lại do nhiều loại chi phí khác cấu thành lên như chi phí bốc xếp hàng hoá, chi
phí vận chuyển hàng hoá từ cảng về kho, chi phí nhân công quản lý…
Vinatrans
Từ 01 – 03 m3
Từ 03 – 08 m3
850.000 VNĐ
920.000 VNĐ
55.000 VNĐ
720.000 VNĐ
Vosa
SV: Phạm Thị Thiện
Trên 08 m3
1.050.000 VNĐ
820.000 VNĐ
Từ 01 – 03 m3
840.000 VNĐ
45.000 VNĐ
Từ 03 – 08 m3
930.000 VNĐ
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa: Thương mại quốc tế
Bảng 3.7 So sánh phí dịch vụ hàng xuất-nhập khẩu hàng container đường biển:
ĐV : VNĐ
Hàn Container 20’
Công ty
g container
Sotra
ns Hà Nội
Vin
atrans
Vosa
Nhập
Container 40’
Xuất
Nhập
Xuất
VNĐ
750.000 950.000
Container
Từ 01-03
VNĐ
VNĐ
VNĐ
VNĐ
1.030.000 830.000 1.120.000 930.000
Container
Từ 03-05
VNĐ
940.000
Container
Trên 05
VNĐ
VNĐ
VNĐ
VNĐ
800.000
700.000 900.000
700.000
Container
VNĐ
VNĐ
750.000
VNĐ
VNĐ
VNĐ
760.000 1.080.000 860.000
VNĐ
VNĐ
VNĐ
(Nguồn : Vietship )
Như chúng ta đã biết thì vận chuyển hàng hóa bằng đường biển đóng vai trò quan
trọng nhất,trên ¾ tổng khối lượng hàng hóa chuyên chở trong buôn bán quốc tế được
thực hiện bằng phương thức vận tải đường biển.Vận tải đường biển có rất nhiều ưu
điểm :có năng lực vận chuyển khối lượng hàng hóa lớn,hơn nữa có thể chạy nhiều tàu
trong cùng một thời gian trên cùng một tuyến đường.Không những thế vận tải đường
biển còn có một sức hút đó là chi phí cho việc vận chuyển không quá tốn kém.Qua
bảng số liệu trên ta thấy phí dịch vụ hàng hóa của Sotrans so với các đối thủ canh
tranh là tương đối ổn định và hợp lý,không có sự chênh lệch quá lớn giữa các doanh
SV: Phạm Thị Thiện
21