1
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Vũ Thị Thu Hằng
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VỐN HỖ TRỢ
PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) TRONG XÂY DỰNG
KẾT CẤU HẠ TẦNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 62 31 01 06
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI, 2016
Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học Xã hội
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
1. PGS.TS Đỗ Đức Định
2. PGS.TS Nguyễn Thanh Đức
Phản biện 1: PGS.TS. TRỊNH THỊ HOA MAI
Phản biện 2: PGS.TS. NGUYỄN DUY DŨNG
Phản biện 3: PGS.TS. NGÔ XUÂN BÌNH
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Học viện họp tại…
phát triển chính thức (ODA) tại Việt Nam, Tạp chí Quản lý nhà nước,
số 198 tháng 7/2012.
5.
Th.S Vũ Thị Thu Hằng, (2012), Xóa đói giảm nghèo – Đóng góp tích
cực từ nguồn vốn ODA, Tạp chí Thanh tra số tháng 9/2012.
6.
Th.S Vũ Thị Thu Hằng, (2015), Quản lý nhà nước về vốn ODA trong
xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – những nỗ lực hoàn thiện, Tạp chí
Châu Á – Thái Bình Dương số 451 tháng 8/2015.
7.
Th.S Vũ Thị Thu Hằng, (2015), ODA phục vụ xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế ở Việt Nam, Tạp chí Châu Phi và Trung Đông số 08 (120)
tháng 8/2015.
8.
Th.S Vũ Thị Thu Hằng, (2015), Nguồn vốn ODA với việc hỗ trợ phát
triển chính sách, thể chế và cải cách hành chính, Tạp chí Quản lý nhà
nước, số 236 tháng 9/2015.
9.
Th.S Vũ Thị Thu Hằng, (2016), Thay đổi quan điểm tiếp nhận ODA
trong thời kỳ hội nhập ở Việt Nam, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 242
luận án là đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện QLNN về vốn
ODA trong xây dựng KCHTKT ở Việt Nam.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là công tác QLNN về vốn ODA trong
lĩnh vực xây dựng KCHTKT tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
2
tiễn QLNN đối với vốn ODA trong phạm vi xây dựng KCHTKT ở Việt
Nam trong giai đoạn từ năm 1993 (khi Việt Nam nối lại quan hệ với cộng
đồng các nhà tài trợ quốc tế) cho đến năm 2015. Phương hướng và giải
pháp đề xuất đến năm 2025.
4. Phương pháp nghiên cứu của luận án là phương pháp định tính, bao
gồm: Phương pháp biện chứng duy vật, tổng hợp, thống kê, so sánh và phân
tích hệ thống, logic, lịch sử; phương pháp nghiên cứu tài liệu, khảo sát thực
tế, thu thập thông tin, số liệu...
5. Những đóng góp của luận án
- Luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận QLNN đối với vốn ODA trong xây
dựng KCHTKT, trong đó, làm rõ thêm khái niệm, tầm quan trọng, nội dung
của quản lý nhà nước đối với vốn ODA, cụ thể, trong xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế.
- Tác giả có đưa ra và phân tích 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng và các tiêu chí
đánh giá QLNN đối với vốn ODA trong xây dựng KCHTKT.
- Luận án phân tích, đánh giá thực trạng QLNN đối với vốn ODA trong
xây dựng KCHTKT, chỉ ra nguyên nhân của các hạn chế.
- Luận án phân tích bối cảnh tác động, định hướng cũng như quan điểm
quản lý nhà nước đối với vốn ODA trong xây dựng KCHTKT. Luận án đề
xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với vốn ODA trong xây
dựng KCHTKT tại Việt Nam và điều kiện bảo đảm thực hiện các giải pháp
Một số công trình nghiên cứu về thu hút và sử dụng ODA trong lĩnh vực
KCHTKT, nhưng lại chưa tiếp cận ở góc độ QLNN như luận án của Phạm
Thị Túy năm 2008, Thu hút và sử dụng ODA vào phát triển hạ tầng ở Việt
Nam; hoặc có những công trình chỉ tiếp cận ở góc độ quản lý của một địa
phương như luận án của Nguyễn Thị Hoàng Oanh: Những giải pháp chủ
yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn ODA trong lĩnh vực xây dựng kết
cấu hạ tầng trên địa bàn Hà nội…
Nghiên cứu QLNN về vốn ODA trong xây dựng KCHTKT tại Việt Nam
cũng có nhiều công trình, bài viết nhưng chỉ dừng lại ở việc đề cập được
những khía cạnh, những mặt riêng lẻ như phân cấp quản lý ODA, theo dõi
đánh giá dự án ODA, hài hòa thủ tục quản lý ODA... Luận án của Lê Ngọc
Mỹ: Hoàn thiện Quản lý nhà nước về vốn ODA tại Việt Nam, Trường Đại
học Kinh tế quốc dân, Hà nội vào năm 2005 đã nghiên cứu QLNN về ODA
4
nhưng đã hơn 10 năm và cũng chưa đi sâu nghiên cứu cho KCHTKT.
Nhìn chung, các công trình đã có những đóng góp nhất định ở các khía
cạnh khác nhau nhưng chưa giải quyết thấu đáo và cũng chưa xem xét đi
sâu vào lĩnh vực KCHTKT. Nghiên cứu toàn diện mọi khía cạnh của
QLNN về vốn ODA trong xây dựng KCHTKT về cả lý luận và thực tiễn tại
Việt Nam là vấn đề còn đang bỏ trống.
Luận án đưa ra khung phân tích dựa trên các nội dung của công tác
QLNN đối với vốn ODA trong xây dựng KCHTKT như sau:
Lập quy hoạch,
kế hoạch, vận
động vốn ODA
Ban hành
2.1. Cơ sở lý luận QLNN đối với vốn ODA trong xây dựng KCHTKT
2.1.1. Tổng quan về vốn ODA và Kết cấu hạ tầng kinh tế
Phần 2.1.1 đề cập một số lý luận về vốn ODA, lý luận về KCHTKT.
Trong đó:
Khái niệm vốn ODA trong luận án được xác định theo quy định hiện
hành của pháp luật Việt nam. Hiện nay, vốn ODA được điều chỉnh bởi
Nghị định số 38/2013/NĐ-CP.
Kết cấu hạ tầng kinh tế gồm các công trình hạ tầng kinh tế kỹ thuật như
năng lượng (điện, than, dầu khí), các công trình giao thông vận tải (đường
bộ, đường sắt, đường biển, đường sông, đường hàng không, đường ống),
bưu chính viễn thông, các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất nông lâm
ngư nghiệp [81, tr.3].
2.1.2. Khái niệm QLNN đối với vốn ODA trong xây dựng KCHTKT
QLNN về vốn ODA trong xây dựng KCHTKT là sự tác động có tổ chức,
bằng pháp quyền của nhà nước lên quá trình thu hút và sử dụng vốn ODA
trong xây dựng KCHTKT nhằm đạt được các mục tiêu xác định trong điều
kiện kinh tế xã hội của quốc gia và tình hình quốc tế.
Cụ thể hơn, QLNN đối với vốn ODA trong xây dựng KCHTKT là quá
trình nhà nước lập quy hoạch, kế hoạch, tổ chức, điều hành, kiểm tra việc thu
hút và sử dụng ODA trong lĩnh vực KCHTKT nhằm đạt được các mục tiêu
đặt ra trong điều kiện kinh tế xã hội trong và ngoài nước.
2.1.3. Sự cần thiết của QLNN đối với vốn ODA trong xây dựng KCHTKT
Sự cần thiết QLNN đối với vốn ODA trong xây dựng KCHTKT thể hiện
ở các lý do: do tầm quan trọng và đặc tính của KCHTKT; vai trò của vốn
6
ODA đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước tiếp nhận, đặc biệt
trong xây dựng KCHTKT; việc thu hút và sử dụng vốn ODA, đặc biệt ODA
trong xây dựng KCHTKT chứa đựng nhiều vấn đề phức tạp, liên quan đến
nước quan tâm vì đây là khâu quan trọng quyết định hiệu quả trong sử
dụng ODA của quốc gia.
2.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng tới QLNN đối với vốn ODA trong xây dựng
KCHTKT
2.1.5.1. Nhóm các nhân tố đến từ cộng đồng nhà tài trợ quốc tế: bao gồm,
mục tiêu và chiến lược cung cấp ODA của nhà tài trợ; quy mô của nguồn
ODA hàng năm của nhà tài trợ, quy mô này phụ thuộc nhiều vào tình hình
kinh tế, chính trị cũng như các biến động bất thường có thể xảy ra đối với các
nhà tài trợ; chính sách và các quy định về quản lý ODA của nhà tài trợ;
bầu không khí quốc tế và các mối quan hệ kinh tế, chính trị giữa bên tài trợ
với nước tiếp nhận.
2.1.5.2. Nhóm các nhân tố từ phía nước tiếp nhận: bao gồm sự ổn định chính
trị; trình độ phát triển kinh tế; hiệu quả sử dụng vốn ODA trong xây dựng
KCHTKT cũng ảnh hưởng đến uy tín nhà nước và công tác QLNN trong
tương lai; trình độ khoa học công nghệ hay mặt bằng đất đai; trình độ văn
hóa, ý thức và thái độ của cộng đồng dân cư cũng ảnh hưởng đến QLNN đối
với vốn ODA trong xây dựng KCHTKT.
2.1.6. Tiêu chí đánh giá QLNN đối với vốn ODA trong xây dựng KCHTKT
- Tiêu chí đánh giá công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch, vận động
ODA trong xây dựng KCHTKT gồm tính phù hợp, chủ động, khả thi, hiệu
quả, tiên liệu; kịp thời;
- Tiêu chí đánh giá việc ban hành hệ thống pháp luật, chính sách gồm tính
8
toàn diện, đồng bộ và ổn định, phù hợp, hài hoà với nhà tài trợ, minh bạch,
hiệu quả và khả thi;
- Tiêu chí đánh giá công tác xây dựng, tổ chức và vận hành bộ máy gồm
tính hệ thống, hiệu quả, hiệu lực, chuyên môn hoá và cân đối, linh hoạt;
- Tiêu chí đánh giá công tác bố trí vốn đối ứng gồm tính đầy đủ và kịp thời,
lớn nhất khoảng 60%, với hàng loạt các đường quốc lộ 3,5,10,18, cầu Cần
Thơ, Mỹ Thuận, Nhật Tân, cảng Hải Phòng, Đà Nẵng, sân bay Tân Sơn
Nhất, Nội Bài...; ngành năng lượng với các nhà máy điện Phú Mỹ, Đa
Nhim, Phả Lại, hệ thống lưới điện, trạm biến thế...và nhiều công trình thủy
lợi, hệ thống cấp thoát nước.
3.211,12
4,64%
2.733,55
3,95%
9.728,27
14,06%
9.634,09
13,92%
13.269,35
19,18%
9.598,53
13,87%
21.014,41
30,37%
1. Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Xóa đói giảm nghèo
2. Năng lượng và công nghiệp
3. Giao thông vận tải và Bưu chính viễn thông
4. Môi trường (cấp, thoát nước, đối phó với biến đổi khí hậu,…) và phát triển đô thị
5. Giáo dục và đào tạo
6. Y tế - Xã hội
phương và các chủ dự án, các PMU. QLNN đối với vốn ODA còn tính đến
vai trò của nhà tài trợ. Năm 2013, thành lập Ban chỉ đạo quốc gia về ODA
và vốn vay ưu đãi.
11
Vốn ODA do một cơ quan quản lý tập trung, có phân cấp. Ở Trung
ương, Bộ KH&ĐT đảm trách vai trò cơ quan đầu mối. Phối hợp với Bộ
KH&ĐT có các Bộ liên quan. Các Bộ thực hiện chức năng QLNN về ODA
ở cấp ngành; trong KCHTKT, việc quản lý thuộc về các bộ như Bộ Giao
thông Vận tải, Bộ Xây dựng, Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền
thông, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; các tỉnh và thành phố trực
thuộc Trung ương chịu trách nhiệm QLNN về ODA trên lãnh thổ địa
phương. Các cơ quan chủ quản cấp ngành và địa phương chỉ định cơ quan
đầu mối quản lý và điều phối ODA của mình như các Vụ Kế hoạch - Tài
chính của các Bộ và Sở KH&ĐT của các tỉnh và thành phố trực thuộc
Trung ương.
Việc phân cấp đã được thực hiện trong những năm qua, tuy nhiên
trình độ và sự chủ động của các địa phương khác nhau và nhiệm vụ quyền
hạn cũng chưa phân rõ, nhất là các PMU nên chưa hiệu quả.
3.2.3. Công tác lập quy hoạch, kế hoạch và vận động vốn ODA trong xây
dựng KCHTKT
Vận động ODA trong xây dựng KCHTKT được thực hiện trên cơ sở
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của
các ngành, các vùng và địa phương có công trình dự án KCHTKT. Trong
vận động ODA, nổi bật nhất là hội nghị thường niên giữa Việt Nam và các
nhà tài trợ CG. Năm 2012, Hội nghị CG được đổi thành Diễn đàn Đối tác
Phát triển Việt Nam thường niên (VPDF) với thành phần tham dự mở rộng
hơn và nâng cao trách nhiệm của bên Việt Nam. Bên cạnh đó, cũng có các
hội nghị điều phối, hội nghị xúc tiến đầu tư nhằm vận động ODA trong
Công tác theo dõi và đánh giá ODA thời gian gần đây đã được chú trọng
13
và tăng cường, đặc biệt sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 131/2006 đã
quy định thiết lập hệ thống theo dõi và đánh giá ODA. Hiện nay, công tác
giám sát và theo dõi dự án được triển khai ở mọi cấp từ Trung ương, các bộ,
địa phương chủ quản cho đến các PMU và bởi chính các nhà tài trợ.
Tuy nhiên trên thực tế các thông tin về tình hình thực hiện dự án thường
không được các cấp thông báo kịp thời, các thông tin thường không đầy đủ.
Công tác đánh giá sau khi dự án kết thúc hiện còn mang tính hình thức và
xem nhẹ. Vai trò của thanh tra giám sát, chưa được chú trọng đúng mức.
Trong khi đó, các vụ thất thoát, lãng phí, tham nhũng liên quan đến lĩnh vực
sử dụng ODA trong xây dựng KCHTKT xảy ra, gây chấn động dư luận như
tiêu cực tại Ban quản lý dự án Đại lộ Đông - Tây và Môi trường nước TP
Hồ Chí Minh (PCI); vụ nghi vấn tiêu cực tại dự án Danida (Đan Mạch) năm
2012; vụ nghi vấn Công ty Tư vấn giao thông Nhật Bản hối lộ quan chức
đường sắt Việt Nam để được nhận thầu dự án sử dụng nguồn vốn ODA của
Nhật (JTC) gần đây. Vì những vụ việc này mà Nhật Bản, Đan Mạch cũng
đã từng tuyên bố tạm ngừng cung cấp ODA cho Việt Nam trong một thời
gian. Các cơ quan chức năng bị động trong việc phát hiện những tiêu cực
này, các vụ việc được chỉ phát hiện bởi các nhà tài trợ.
3.3. Đánh giá thực trạng QLNN đối với vốn ODA trong xây dựng
KCHTKT tại Việt Nam
3.3.1. Những thành tựu đạt được
Thứ nhất, chính phủ đã rất nỗ lực trong việc thực thi đường lối đổi mới,
tạo lập môi trường chính trị, kinh tế, xã hội thuận lợi cho việc thu hút và sử
dụng ODA trong xây dựng KCHTKT nói riêng.
Thứ hai, môi trường pháp lý được quan tâm và thường xuyên bổ sung
theo hướng ngày càng đồng bộ và phù hợp với tình hình thu hút và sử dụng
chưa đáp ứng được yêu cầu hài hoà thủ tục với các nhà tài trợ, gây khó
15
khăn cho cả cấp quản lý và cấp thực hiện.
Nội dung của các văn bản pháp luật mới chỉ tập trung nhiều vào việc thu
hút và sử dụng vốn ODA mà chưa đi sâu vào nội dung vận hành dự án, mà
đây mới là phần quyết định tính hiệu quả của việc thu hút và sử dụng vốn
ODA.
Mặt khác, mặc dù Nghị định số 38/2013/NĐ-CP đã đề cập đến cơ chế
tạo điều kiện cho khu vực tư nhân tiếp cận nguồn vốn ODA nhưng chưa
xây dựng mô hình cũng như thể chế pháp luật, chính sách khuyến khích và
giải pháp hạn chế rủi ro để thu hút vốn từ thành phần kinh tế tư nhân tham
gia.
Ngoài ra, các văn bản pháp luật cũng chưa có cơ chế, chế tài xử lý và
chế độ khen thưởng cụ thể đối với các cơ quan QLNN, các PMU dẫn đến
việc thực thi những quy định chưa nghiêm túc.
Thứ hai, các cơ quan QLNN chưa chủ động, phân cấp quản lý còn nhiều
hạn chế
Cơ quan quản lý các cấp chưa thể hiện vai trò làm chủ trong công tác
quy hoạch, kế hoạch và điều phối, chưa đủ năng lực và làm chủ trong việc
chuẩn bị và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án ODA trong xây dựng
KCHTKT và bị động và phụ thuộc vào nhà tài trợ. Tâm lý các ngành các
cấp đều muốn có nhiều dự án được thực hiện trong phạm vi quyền quản lý
của mình nên họ thẩm định dự án không thấu đáo, có khi chấp nhận cả
những ràng buộc bất lợi hoặc lựa chọn những dự án không có hiệu quả cao
xét trên tổng thể nền kinh tế.
Thứ ba, thiếu quy hoạch huy động và sử dụng vốn ODA, không có tầm
nhìn dài hạn, thường là theo yêu cầu của các địa phương mà chưa đặt trong
mối quan hệ với khả năng trả nợ dẫn đến phân bổ vốn dàn trải.
không đáp ứng đủ và kịp thời cho các dự án ODA trong xây dựng
17
KCHTKT, gây ách tắc, chậm tiến độ dự án.
Thứ bảy, theo dõi đánh giá dự án trong một thời gian dài bị buông lỏng,
kiểm tra giám sát còn yếu.
Kinh nghiệm của hầu hết các nước thành công trong sử dụng ODA đều
cho thấy, họ hết sức coi trọng và sát sao trong khâu theo dõi đánh giá. Tuy
nhiên, công tác này ở nước ta còn rất yếu, dẫn đến tình trạng chất lượng
công trình KCHTKT bằng vốn ODA chưa đạt yêu cầu, còn xảy ra thất
thoát, lãng phí. Mặt khác, vai trò phản biện, giám sát độc lập trong quy trình
thực hiện ODA chưa được quy định, đặc biệt là vai trò giám sát của tổ chức
quần chúng và báo chí.
Thứ tám, các vấn đề tài chính chưa có được chính sách nhất quán đối
với ODA nói chung, ODA trong xây dựng KCHTKT nói riêng. Các chính
sách tài chính trong nước (thuế, cơ chế cho vay lại, các định mức chi phí
về chuyên gia và PMU...) nặng về xử lý theo vụ việc mà chưa có chính
sách nhất quán, được công bố trước làm cơ sở cho việc tính toán lựa chọn
phương án thực hiện dự án.
3.3.3. Nguyên nhân của các hạn chế của QLNN đối với vốn ODA trong
xây dựng KCHTKT
3.3.3.1. Nguyên nhân khách quan
- Thứ nhất, trình độ phát triển kinh tế, khoa học công nghệ của nước ta
còn thấp.
- Thứ hai, tình hình tài chính của các nhà tài trợ gặp khó khăn, các chính
sách, quy trình và thủ tục của các nhà tài trợ rất đa dạng và khác nhau, có
khi phức tạp, có những điểm chưa phù hợp với quy trình của Việt Nam.
- Thứ ba, năng lực nhà thầu kém, kể cả nhà thầu trong nước và nhà thầu
nước ngoài.
cung cấp ODA.
Việt Nam đã từ một nước nghèo vươn lên trở thành nước có thu nhập
trung bình. Đây là thành công lớn nhưng cũng đặt ra thách thức. Với tình
hình kinh tế thế giới như hiện nay, Việt Nam không còn nhận được ODA
dồi dào như trước. Chúng ta phải tiếp cận, huy động cả các nguồn vốn đắt
hơn với các điều kiện khắt khe hơn. Luận án cũng đưa ra những ảnh hưởng
về chính sách viện trợ, cơ cấu nguồn vốn, phương thức hợp tác trong tình
hình mới.
4.2. Quan điểm, định hướng hoàn thiện QLNN đối với vốn ODA trong
xây dựng KCHTKT của Việt Nam
Từ quan điểm, mục tiêu xây dựng và phát triển KCHTKT ở Việt Nam và
định hướng thu hút và sử dụng ODA trong xây dựng KCHTKT, luận án đưa
ra các quan điểm trong công tác QLNN đối với vốn ODA trong xây dựng
KCHTKT như sau:
Thứ nhất, tranh thủ vốn ODA cho xây dựng KCHTKT với quan điểm
giảm tối đa các ràng buộc chính trị; phù hợp với chủ trương đa phương hoá,
đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam.
Thứ hai, sử dụng vốn ODA trong xây dựng KCHTKT cần phối hợp với
20
các nguồn vốn khác.
Thứ ba, sử dụng vốn ODA để phát triển KCHTKT có trọng tâm, trọng
điểm.
Thứ tư, cần gắn liền chức năng, quyền hạn, trách nhiệm và lợi ích của
các bộ phận trong QLNN về vốn ODA trong xây dựng KCHTKT.
Thứ năm, cần quán triệt quan điểm tiết kiệm và hiệu quả trong QLNN về
vốn ODA.
4.3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với vốn ODA trong
xây dựng KCHTKT
chương trình, hạn chế tối đa các dự án đơn lẻ, đặc biệt các dự án quan trọng
như giao thông, năng lượng, cấp thoát nước... Tăng cường các chế tài xử lý
vi phạm khi sử dụng ODA trong xây dựng KCHTKT, đặc biệt các trường
hợp tham nhũng lãng phí thất thoát vốn cần có hình thức xử lý nghiêm
minh.
4.3.4. Bố trí kịp thời vốn đối ứng cho các dự án ODA trong xây dựng
KCHTKT
Trước hết, vấn đề xác định nhu cầu vốn đối ứng cần phải được quan tâm
từ giai đoạn xây dựng dự án và đàm phán với từng nhà tài trợ. Để làm được
điều này cần xem xét kỹ, có những tính toán cụ thể, đảm bảo tin cậy trong
kế hoạch để sát với khả năng thực hiện khối lượng công việc, tránh các
chênh lệch lớn, trên nguyên tắc phải cân đối được đủ nguồn vốn đối ứng
mới ký kết chương trình, dự án với các nhà tài trợ.
Mặt khác, tăng cường thu hút các nguồn lực của xã hội để bổ sung
nguồn vốn đối ứng cho các dự án ODA như hình thức xây dựng kinh
doanh chuyển giao (BOT), xây dựng chuyển giao (BT) hay đối tác công tư
(PPP), qua đó giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.
4.3.5. Nâng cao chất lượng quá trình chuẩn bị, thẩm định, phê duyệt dự
22
án ODA cho KCHTKT
Quá trình chọn lựa và phê duyệt dự án phải được thực hiện theo một trật
tự thống nhất và hiệu quả, có thể dùng những chuyên gia tư vấn có đủ kiến
thức, kinh nghiệm. Hiện nay việc phân cấp phải gắn với nâng cao trình độ
thẩm định cho bộ địa phương thì mới có hiệu quả. Mặt khác, tiếp tục đơn
giản hoá thủ tục hành chính, công khai qui trình, thời hạn trách nhiệm xử lý
các thủ tục liên quan để đẩy nhanh thời gian phê duyệt thầm định và tiếp tục
hài hòa thủ tục với các nhà tài trợ.
4.4.6. Xây dựng cơ chế cho địa phương vay lại và tạo điều kiện để khu