ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN ĐỨC ĐĂNG
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
CHO SINH VIÊN Ở CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
THEO TIẾP CẬN QUẢN LÍ CHẤT LƯỢNG TỔNG THỂ
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 62 14 01 14
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2015
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Kim Long
TS. Nguyễn Văn Bạo
Phản biện 1:……………………………………….
Phản biện 2:………………………………………
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ họp tại Trường Đại
học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội
Vào hồi giờ
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: hoạt động GDQPAN cho sinh viên ở các CSGDĐH
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Quản lí hoạt động GDQPAN cho sinh viên ở các các
CSGDĐH theo tiếp cận TQM
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát những vấn đề lí luận về quản lí, hoạt động GDQPAN cho sinh viên,
quản lí chất lượng tổng thể và quản lí hoạt động GDQPAN cho sinh viên. Khảo sát,
đánh giá thực trạng quản lí và đề xuất các nhóm giải pháp quản lí hoạt động
GDQPAN cho sinh viên ở các CSGDĐH theo tiếp cận TQM.
5. Phạm vi nghiên cứu
Quy mô mẫu khảo sát: quản lí hoạt động GDQPAN cho sinh viên ở các
trung tâm GDQPAN thuộc các CSGDĐH; các số liệu khảo sát từ năm 2007 đến
nay; nội dung: xây dựng luận cứ khoa học về quản lí hoạt động GDQPAN cho sinh
viên ở các trung tâm GDQPAN theo tiếp cận TQM; khảo sát, đánh giá thực trạng
quản lí và đề xuất các giải pháp quản lí hoạt động GDQPAN cho sinh viên ở các
trung tâm GDQPAN theo tiếp cận TQM.
1
6. Vấn đề nghiên cứu
- Nguyên nhân cơ bản dẫn đến chất lượng GDQPAN cho sinh viên hiện nay
còn nhiều hạn chế là do công tác quản lí của các trung tâm GDQPAN còn nhiều
bất cập, chưa theo kịp đòi hỏi thực tiễn?
- GDQPAN cho sinh viên hiện nay đã đáp ứng được nhu cầu của sinh viên,
các CSGDĐH và xã hội hay chưa?
- Phương thức quản lí nào có thể vận dụng trong quản lí hoạt động
GDQPAN cho sinh viên ở các trung tâm GDQPAN?
- Những nhóm giải pháp nào có thể nâng cao được chất lượng GDQPAN
cho sinh viên ở các trung tâm GDQPAN?
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận về quản lí, giáo dục, quốc phòng và an ninh,
quản lí chất lượng tổng thể; quản lí hoạt động GDQPAN theo tiếp cận quản lí chất lượng
tổng thể; hệ thống ĐBCL...
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Nghiên cứu cơ chế, tổ chức bộ máy quản lí, hệ thống quản lí chất lượng và
quản lí hoạt động GDQPAN ở các trung tâm GDQPAN.
- Phỏng vấn và khảo sát bằng phiếu hỏi với đối tượng là chuyên gia, cán bộ
quản lí, giảng viên các trung tâm GDQPAN và sinh viên.
8.3. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn hỗ trợ
Sử dụng phương pháp thống kê toán học bằng phần mềm thống kê SPSS để
xử lí số liệu khảo sát thực trạng và kết quả nghiên cứu; phân tích, qui nạp.
9. Đóng góp mới của luận án
Về lí luận, cung cấp những luận cứ khoa học về TQM vào quản lí hoạt động
GDQPAN ở các CSGDĐH. Về thực tiễn, đề xuất những nhóm giải pháp quản hoạt
động GDQPAN ở các CSGDĐH theo tiếp cận TQM.
10. Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận án được trình bày trong 3 chương, 13 tiết.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG
VÀ AN NINH CHO SINH VIÊN Ở CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
THEO TIẾP CẬN QUẢN LÍ CHẤT LƯỢNG TỔNG THỂ
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Giáo dục đại học mỗi nước đều có những điểm khác biệt, theo đó,
GDQPAN cho sinh viên các CSGDĐH cũng khác nhau. Tại Malaixia, GDQP cho
sinh viên cũng được đặc biệt quan tâm, với hệ thống hơn 40 trung tâm GDQP đủ
sức để giảng dạy GDQP cho sinh viên các CSGDĐH. Hàng năm, sinh viên được
tổ chức học tập tập trung tại các trung tâm GDQP với thời gian 3 tháng. Ở
Singapo, hàng năm, thanh niên từ 18 đến 25 tuổi được tập trung tại các trung tâm
pháp luật của Quốc hội, quy định của Nhà nước. Cùng với đó, đã có nhiều công
trình nghiên cứu về GDQPAN, tiêu biểu như: Nguyễn Bá Dương (2009), “Tư duy lí
luận của Đảng ta về đổi mới giáo dục quốc phòng trong tình hình hiện nay”;
Nguyễn Minh Hiển (2008), “Giáo dục quốc phòng-an ninh cho học sinh, sinh viên
-Một nội dung quan trọng của giáo dục, đào tạo trong thời kì mới”; Đức Giang,
Quốc Ân (2010), “Giáo dục quốc phòng một số nước”…. Bên cạnh đó, những năm
gần đây, nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về TQM như Nguyễn Đình
Phan (2005) (chủ biên), “Quản lí chất lượng trong các tổ chức”; các nghiên cứu về
TQM đã bước đầu được triển khai áp dụng, tiêu biểu như công trình nghiên cứu của
GS. Nguyễn Đức Chính và các cộng sự về kiểm định chất lượng và quản lí chất
lượng giáo dục, kết quả nghiên cứu chỉ rõ sự phù hợp của TQM với các điều kiện
đặc thù của giáo dục Việt Nam. Tác giả Nguyễn Lộc với nghiên cứu “TQM hay là
Quản lí chất lượng toàn thể trong giáo dục” đã phân tích quan điểm TQM từ khái
niệm, tên gọi, nội dung đến cơ hội vận dụng vào các cơ sở giáo dục đại học nước ta;
Đề tài nghiên cứu của nhiều nghiên cứu sinh như Bùi Thị Thu Hương với đề tài
4
“Quản lí chất lượng chương trình đào tạo cử nhân chất lượng cao tại Đại học Quốc
gia Hà Nội theo tiếp cận quản lí chất lượng tổng thể”; tác giả Nguyễn Trung Kiên
(2015) với nghiên cứu “Quản lí chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm theo tiếp cận
quản lí chất lượng tổng thể và ứng dụng công nghệ thông tin trong đại học đa
ngành, đa lĩnh vực”…
Qua nghiên cứu cho thấy, đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài
nước về GDQPAN và TQM. Tuy tiếp cận ở các giác độ khác nhau, song các nghiên
cứu đều khẳng định rõ vị trí, vai trò của công tác GDQPAN trong xây dựng tiềm
lực, thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và chiến lược bảo vệ Tổ quốc
trong tình hình mới, qua đó các tác giả đã làm rõ được một số vấn đề cơ bản về lí
luận và thực tiễn của hoạt động GDQPAN, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất
“Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo dùng cho các
trường đại học Việt Nam”, GS. Nguyễn Đức Chính và các cộng sự đã đưa ra khái
niệm “Chất lượng giáo dục đại học được đánh giá qua mức độ trùng khớp với mục
tiêu định sẵn”.
1.2.2.3. Quản lí chất lượng
Nhiều học giả đã đưa ra những khái niệm khác nhau về quản lí chất lượng.
Song, theo quan điểm của tác giả, khái niệm quản lí chất lượng phù hợp hơn cả là
“Quản lí chất lượng là quá trình thiết kế các tiêu chuẩn và duy trì các cơ chế ĐBCL
để sản phẩm hay dịch vụ đạt được các tiêu chuẩn xác định”.
1.2.2.4. Cấp độ quản lí chất lượng
Theo Sallis (1993), có 3 cấp độ của quản lí chất lượng đó là: kiểm soát chất
lượng; bảo đảm chất lượng và quản lí chất lượng tổng thể.
Mức
độ
KIỂM SOÁT CHẤT
LƯỢNG
Quality Control
Phát hiện và
loại bỏ
BẢO ĐẢM CHẤT
LƯỢNG
Quality assurance:
QA
QUẢN LÍ CHẤT
LƯỢNG TỔNG THỂ
Total Quality Management
TQM
trong tổ chức là phải hướng đến phục vụ khách hàng ở mức độ tốt nhất có thể, đó là
cung ứng cho khách hàng những thứ họ cần, đúng lúc họ cần và theo cách thức họ
cần, thỏa mãn và vượt cả những mong đợi của họ. Đặc điểm nổi bật của TQM là
cung cấp một hệ thống toàn diện cho công tác quản lí, cải tiến mọi khía cạnh có
liên quan đến chất lượng và huy động sự tham gia của mọi bộ phận, mọi cá nhân
để đạt được mục tiêu chất lượng đã đặt ra.
1.3. Giáo dục quốc phòng và an ninh
1.3.1. Hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên
Xuất phát từ chủ trương, đường lối của Đảng về công tác giáo dục và đào tạo,
nhiệm vụ QPAN bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và thực tiễn hoạt động
GDQPAN cho sinh viên những năm qua có thể quan niệm “Hoạt động GDQPAN
cho sinh viên là tổng thể những nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục, rèn luyện,
truyền thụ kiến thức quốc phòng và an ninh, kỹ năng quân sự nhằm nâng cao nhận
thức, ý thức trách nhiệm của sinh viên đối với nhiệm vụ QPAN bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam XHCN”.
1.3.2. Vị trí, vai trò hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định “Tăng cường quốc phòng,
an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân”.
Theo đó, học tập nâng cao trình độ kiến thức QPAN là quyền lợi, nghĩa vụ và trách
nhiệm của mỗi sinh viên. GDQPAN, giúp cho mỗi sinh viên xây dựng, củng cố lập
trường tư tưởng, ý thức chính trị, bồi dưỡng lí tưởng sống cao đẹp, phẩm chất đạo
đức trong sáng, lối sống lành mạnh, lòng yêu nước và các kĩ năng quân sự cần thiết.
Sẵn sàng tham gia sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
1.3.3. Tính đặc thù của hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh
Thứ nhất, sự phối hợp: chịu sự chỉ đạo, quản lí của nhiều bộ, ngành.
Thứ hai, tổ chức bộ máy và nhân lực: gồm cả quân sự và dân sự.
Thứ ba, chương trình, nội dung: phải tuân thủ nghiêm ngặt.
Thứ tư, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học: gồm vũ khí, trang bị quân sự.
Thứ năm,phương thức tổ chức thực hiện: khi tổ chức tại các trung tâm
GDQPAN, sinh viên được quản lí 24/24h, thực hiện theo điều lệnh, điều lệ quân đội.
sinh viên thực hiện đủ 11 chế độ trong ngày của quân nhân trong quân đội, qua đó
giúp cho sinh viên có tác phong sinh hoạt, học tập, công tác nhanh nhẹn, dứt khoát, ý
thức tổ chức kỉ luật cao, sức khỏe dẻo dai, bền bỉ, đức tính kiên trì, bình tĩnh, nhẫn
nại. Đây là những phẩm chất cơ bản và cần thiết trong hành trang của mỗi sinh viên
không chỉ trong quá trình học tập tại các CSGDĐH mà còn là những phẩm chất
không thể thiếu trên con đường lập nghiệp trong tương lai.
1.4. Quản lí hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh ở các trung tâm giáo
dục quốc phòng và an ninh theo tiếp cận TQM
1.4.1. Tính khả thi
Có thể coi các CSGDĐH là các đơn vị dịch vụ giáo dục thông qua việc cung
cấp các dịch vụ giáo dục cho sinh viên (khách hàng) để phát triển bản thân. GDQPAN
cho sinh viên là một hoạt động có tính đặc thù, được thực hiện tập trung, riêng biệt tại
các trung tâm GDQPAN, tuân thủ theo quy tắc, điều lệnh, điều lệ của quân đội. Thời
gian thực hiện tuy ngắn (từ 5-6 tuần) nhưng cũng bao gồm các khâu từ tiếp nhận sinh
8
viên (đầu vào), thực hiện hoạt động dạy học (quá trình) và đánh giá kết quả, bàn giao
sinh viên cho các đơn vị đào tạo (đầu ra). Vì vậy, có cơ sở để triển khai áp dụng TQM.
1.4.2. Mục tiêu quản lí
Với tư cách là một đơn vị trực thuôc trong các CSGDĐH, các trung tâm
GDQPAN có sinh viên, phụ huynh sinh viên, các CSGDĐH liên kết đào tạo ... là
khách hàng. Sinh viên có hài lòng về nội dung dạy học, phương pháp dạy học và
môi trường giáo dục, các dịch vụ hậu cần kĩ thuật, CSVC… hay không đều là
những tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng của các trung tâm GDQPAN.
1.4.3. Tiếp cận TQM trong quản lí hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh
cho sinh viên
Thứ nhất, đổi mới quan niệm về quản lí giáo dục, xây dựng quan điểm chất
lượng tổng thể trong GDQPAN: với phương châm “khách hàng là người dẫn dắt” để
và cách tiếp cận TQM trong quản lí, đồng thời đề xuất mô hình quản lí hoạt động
GDQPAN cho sinh viên ở các trung tâm GDQPAN. Hoạt động GDQPAN có tính
đặc thù, có nhiều yếu tố phức tạp ảnh hưởng, đề cập đến nhiều tầng bậc, nhiều bộ phận.
Vì vậy, quản lí hoạt động GDQPAN ở các trung tâm GDQPAN theo tiếp cận TQM là
một công việc hoàn toàn mới và mang tính thách thức. Từ lí luận và thực tiễn có thể
thấy được tính khả thi và hiệu quả, song cũng tồn tại nhiều vấn đề và sự khác biệt,
không thể dập khuôn máy móc, cứng nhắc từ quản lí doanh nghiệp, mà phải vận dụng
linh hoạt, phù hợp với đặc điểm của từng trung tâm GDQPAN ở các CSGDĐH.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN
NINH CHO SINH VIÊN Ở CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
2.1. Tổ chức khảo sát thực trạng
Để đánh giá thực trạng quản lí hoạt động GDQPAN cho sinh viên, tác giả đã
tiến hành khảo sát, phỏng vấn sâu chuyên gia về thực trạng hoạt động và quản lí hoạt
động GDQPAN ở các trung tâm GDQPAN thuộc các CSGDĐH, gồm: 50 phiếu
khảo sát cho cán bộ, giảng viên tại các trung tâm GDQPAN; 480 phiếu khảo sát cho
sinh viên của các CSGDĐH đã và đang học tập tại các trung tâm GDQPAN.
2.2. Khái quát tiến trình phát triển của các trung tâm giáo dục quốc phòng và
an ninh ở các cơ sở giáo dục đại học
Ngày 09.01.2003, Thủ tướng Chính phủ kí Quyết định số 07/2003/QĐ-TTg
về “Phê duyệt Quy hoạch Hệ thống Trung tâm Giáo dục quốc phòng sinh viên giai
đoạn 2001-2010”. Ngày 10.4.2012, Thủ tướng Chính phủ kí Quyết định số 412/QĐTTg về việc “Phê duyệt Quy hoạch Hệ thống Trung tâm Giáo dục quốc phòng - an
ninh sinh viên giai đoạn 2011 - 2015”. Ngày 30.01.2015, Thủ tướng Chính phủ kí
Quyết định số 161/QĐ-TTg về việc “Phê duyệt quy hoạch hệ thống trung tâm giáo
dục quốc phòng và an ninh giai đoạn 2015 - 2020 và những năm tiếp theo”. Theo
Quyết định này, đến năm 2020 có 62 trung tâm, trong đó có 20 trung tâm thuộc các
CSGDĐH.
2.3. Thực trạng hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên ở các
trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh
2.3.1. Công tác phân luồng liên kết đào tạo
chăng chỉ một trong các khâu của cấu trúc hệ thống quá trình dạy học. Bên cạnh đó,
nhận thức của cán bộ, giảng viên về ĐBCL còn hạn chế; hệ thống văn bản pháp lí về
thực hiện các quy định về ĐBCL còn thiếu; chưa thiết lập được hệ thống các tiêu
chuẩn chất lượng để thực hiện kiểm định, do vậy việc đánh giá còn mang nặng tính
chủ quan, hình thức; hệ thống thông tin phục vụ quá trình đánh giá còn yếu và thiếu.
2.4.2. Quản lí đầu vào giáo dục quốc phòng và an ninh
2.4.2.1. Quản lí mục tiêu đào tạo
Mức độ thực hiện mục tiêu GDQPAN cho sinh viên chưa cao là do các điều
đảm bảo chưa tốt như cơ chế, chính sách về GDQPAN, mức độ quan tâm đến chất
lượng của các trung tâm GDQPAN, đặc biệt là các điều kiện đảm bảo về CSVC,
thiết bị dạy học. Theo đó, GDQPAN chưa làm chuyển biến rõ nét về nhận thức,
thái độ trách nhiệm của sinh viên với nhiệm vụ QPAN, ý thức tổ chức kỉ luật có
mặt còn hạn chế. Việc so sánh, đối chiếu kết quả đạt được với mục tiêu cũng chưa
được chú trọng thực hiện, chưa đánh giá được đầy đủ và toàn diện về hoạt động
11
GDQPAN, qua đó tìm ra được mặt mạnh, mặt yếu để không ngừng cải tiến chất
lượng.
2.4.2.2. Quản lí chương trình, nội dung đào tạo
Quản lí chương trình, nội dung GDQPAN còn thiếu đồng bộ, chưa chặt chẽ,
chậm đổi mới, chưa có sự thống nhất chung trong các CSGDĐH, dẫn đến quá trình
tổ chức thực hiện chương trình thiếu chặt chẽ đã dẫn đến tình trạng chất lượng
GDQPAN bị hạn chế, khó kiểm soát.
2.4.2.3. Quản lí cán bộ, giảng viên
Phát triển đội ngũ giảng viên GDQPAN tại các trung tâm GDQPAN chưa
được quan tâm đúng mức, còn thiếu về số lượng, chất lượng chưa tốt, đặc biệt là
cơ cấu giảng viên bất hợp lí. Trong khi đó, chủ trương của Bộ Quốc phòng, từ sau
năm 2020 sẽ giảm dần số lượng SQBP.
Kết quả điều tra cho thấy, khả năng thích ứng của sinh viên với yêu cầu rèn
luyện có tính đặc thù còn chậm, phương pháp tự học chưa tốt, không ít sinh viên
còn lúng túng trong việc tìm ra phương pháp học tập, rèn luyện phù hợp. Bên cạnh
đó, tư tưởng “môn học điều kiện”, học cho xong còn tồn tại ở không ít sinh viên.
Vì vậy, một bộ phận sinh viên chưa tự giác, tích cực, chủ động và phát huy tính
sáng tạo trong học tập, thực hiện kế hoạch học tập mang tính “nghĩa vụ”.
2.4.3.3. Quản lí các hoạt động hỗ trợ, phục vụ
Chất lượng bữa ăn còn chưa đảm bảo về số lượng, chất lượng, cơ cấu thực
phẩm, ... Bên cạnh đó, một số dịch vụ phục vụ nhu cầu thiết yếu của sinh viên còn đắt
đỏ, sinh viên phải thanh toán một số dịch vụ phí cho với giá cao hơn giá thị trường.
2.4.3.4. Quản lí sự phối hợp của các tập thể và cá nhân trong trung tâm
Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự phối hợp của các đơn vị và cá
nhân trong các trung tâm GDQPAN chưa tốt là thiếu cơ chế để phối hợp. Bên
cạnh đó, xu hướng chuyên môn hóa dẫn đến cán bộ, giảng viên và nhân viên thiếu
đi sự bao quát các công việc có liên quan dẫn đế sự hợp tác, hỗ trợ sinh viên, đồng
nghiệp bị hạn chế.
13
2.4.4. Quản lí đầu ra giáo dục quốc phòng và an ninh
2.4.4.1. Quản lí công tác kiểm tra, đánh giá
Nội dung kiểm tra đánh giá chưa phản ánh hết quá trình học tập, rèn luyện
của sinh viên, chưa coi trọng đúng mức và chưa có tiêu chí cụ thể trong đánh giá kết
quả rèn luyện của sinh viên; hệ thống ngân hàng câu hỏi chưa phong phú, chưa
phân loại được chất lượng học tập của sinh viên, thiết kế đề thi chưa khoa học, cách
thức kiểm tra đánh giá chưa thống nhất giữa các trung tâm … , qua đó chưa phát
huy được tính sáng tạo của sinh viên trong quá trình học tập, rèn luyện.
2.4.4.2. Quản lí công tác thanh tra, giám sát và xử lí
Nội dung kiểm tra, giám sát chưa toàn diện, chưa cụ thể, còn mang tính hình
và khả năng cải cách, vừa phải có quyền cải cách. Có nghĩa là, Nhà nước phải trao
quyền tự chủ hơn nữa cho các trung tâm GDQPAN, bao gồm quyền tự chủ về tài
chính, quyền lựa chọn giáo trình và quyền tự về lựa chọn đơn vị liên kết đào tạo để có
thể đáp ứng yêu cầu của “khách hàng” (chủ yếu là sinh viên và đơn vị liên kết đào tạo)
một cách hiệu quả. Tuy nhiên, hiện nay quyền tự chủ của các trung tâm GDQPAN còn
hạn chế.
2.5.3. Điều kiện và nguồn lực thực hiện
Triển khai thực hiện TQM đòi hỏi một khối lượng công việc rất lớn, nhiều yếu
tố, không những phải xây dựng văn bản quy phạm mang tính hệ thống, mà còn phải
chuẩn hóa dưới hình thức văn bản tất cả các khâu trong công tác ĐBCL, trong điều
kiện trình độ quản lí và điều kiện nguồn lực như hiện nay, việc áp dụng TQM không
tránh khỏi những khó khăn.
2.5.4. Môi trường văn hóa thực hiện
Khuynh hướng giá trị, đạo đức, lối sống, tác phong làm việc, sự gương mẫu,
hành vi của giảng viên và chính sách GDQPAN … đều có thể ảnh hưởng đến việc
vận dụng TQM của các trung tâm GDQPAN. Các trung tâm GDQPAN cần có một
không gian văn hóa rộng mở, đây là quy luật giáo dục mà đào tạo nhân lực phải
tuân thủ. Làm việc tập thể và hợp tác nhóm là tôn chỉ của TQM. Ở các trung tâm
GDQPAN đã có sự hợp tác giữa các phòng, ban chức năng, khoa đào tạo, giữa các
bộ phận để cùng thực hiện nhiệm vụ chung là GDQPAN cho sinh viên. Tuy nhiên,
sự hợp tác ấy chưa đáp ứng được yêu cầu hợp tác trong TQM.
Kết luận chương 2
Trên cơ sở kết quả phỏng vấn, khảo sát, tổng hợp và phân tích số liệu cho
thấy, hoạt động GDQPAN cho sinh viên ở các CSGDĐH những năm qua đã có
nhiều chuyển biến tích cực, đặc biệt là tại các trung tâm GDQPAN, theo đó chất
lượng GDQPAN được nâng lên một bước đáng kể. Các trung tâm GDQPAN đã
giảng dạy được số lượng lớn sinh viên tuyển hằng năm của các CSGDĐH trong
môi trường, điều kiện thuận lợi nhất, sát với môi trường quân đội. Tuy nhiên, tiến
độ xây dựng và phát triển các trung tâm GDQPAN còn chậm, hệ thống ĐBCL chưa
CSGDĐH, 42 trung tâm GDQPAN thuộc các học viện, nhà trường quân đội, đảm
bảo trên 90% sinh viên được học tập tập trung tại trung tâm; trên 90% đối tượng 2,
đối tượng 3 bồi dưỡng tại trung tâm; từ năm 2021 trở đi, tiếp tục bổ sung, sửa chữa,
nâng cấp các trung tâm GDQPAN, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới toàn
diện giáo dục và yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
3.1.2. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp
3.1.2.1. Đảm bảo tính khoa học
3.1.2.2. Đảm bảo tính đồng bộ
3.1.2.3. Đảm bảo tính hiệu quả
3.1.2.4. Đảm bảo tính khả thi
3.2. Các nhóm giải pháp quản lí hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh
cho sinh viên ở các cơ sở giáo dục đại học theo TQM
3.2.1. Nhóm giải pháp chung
16
3.2.1.1. Xây dựng ý thức và động lực thực hiện TQM
Để xây dựng ý thức và động lực cho đội ngũ cán bộ, giảng viên trong thực
hiện TQM đòi hỏi các trung tâm GDQPAN phải có sự cam kết và quyết tâm triển
khai thực hiện TQM mà trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lí các trung
tâm, đồng thời phải kiên trì quá trình triển khai thực hiện; xây dựng chiến lược thực
hiện TQM với các kế hoạch thực cụ thể và quán triệt sâu sắc chiến lược đến toàn thể
các thành viên của trung tâm để tổ chức thực hiện. Cùng với đó, cần tiếp tục nghiên
cứu làm rõ một số khái niệm trong lí luận TQM để triển khai vận dụng trong thực
tiễn; tổ chức tốt các buổi hội thảo, tập huấn về TQM, gắn quyền lợi với trách nhiệm
của đơn vị và cán nhân trong thực hiện mọi nhiệm vụ được giao; phát huy động lực tự
thân của mỗi cán bộ, giảng viên và sinh viên trong thực hiện mục tiêu chất lượng.
3.2.1.2. Xây dựng văn hóa chất lượng
Kết quả GDQPAN cho sinh viên góp
và đầu ra của các trung tâm. Hệ thống tiêu chí phải đo và lượng hóa được chất
lượng dạy học, giáo dục và rèn luyện. Xây dựng quy trình cải tiến chất lượng bao
gồm xác định nội dung cần cải tiến, sơ đồ các công việc và sự tác động của các nội
17
dung quản lí; quy trình cải tiến cho từng nội dung quản lí dựa trên quan điểm
TQM gồm đầu vào, quá trình và đầu ra.
3.2.2. Nhóm giải pháp quản lí chất lượng đầu vào
3.2.2.1. Quản lí chương trình đào tạo
Trên cơ sở chương trình khung, không ngừng đổi mới chương trình theo
hướng thiết thực và phù hợp với từng ngành đào tạo, từng CSGDĐH và từng địa
phương. Chương trình, nội dung cần phát triển theo hướng tăng phần thực hành kĩ
năng quân sự và các hoạt động ngoại khóa, rèn luyện khả năng thích ứng trong môi
trường hoạt động quân sự đặc thù cho sinh viên, gắn với các chuyên ngành đào tạo, từ
đó sinh viên có thể vận dụng các kiến thức chuyên ngành đào tạo vào thực hiện nhiệm
vụ QPAN. Cần tạo cơ chế linh hoạt để các CSGDĐH được quyền tự chủ trong lựa
chọn các trung tâm GDQPAN có chất lượng tốt trên địa bàn để thực hiện GDQPAN
cho sinh viên của họ, không thực hiện phân luồng cứng nhắc như hiện nay.
3.2.2.2. Quản lí đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lí
Nội dung quản lí đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lí của các trung tâm
GDQPAN phải đảm bảo tính toàn diện và khả thi, trên tất cả các khâu của công tác
cán bộ, trong đó tập trung quản lí tốt công tác tuyển dụng, công tác đào tạo, bồi
dưỡng, sử dụng cán bộ và công tác đánh giá giảng viên, cán bộ quản lí. Các nội
dung quản lí phải hướng đến đảm bảo được về số lượng, chất lượng và cơ cấu cán
bộ, xây dựng được động cơ phấn đấu, phát huy được năng lực, sở trường, sự sáng
tạo, kinh nghiệm thực tiễn và quản lí giảng dạy của đội ngũ giảng viên và cán bộ
quản lí các cấp. Các trung tâm cần triển khai thực hiện nghiêm túc quy định về tự
đánh giá của giảng viên và thu thập thông tin phản hồi từ các bên liên quan, trong
dưỡng… để nâng cao trình độ toàn diện.
3.2.3.2. Quản lí quá trình học tập, rèn luyện của sinh viên
Để quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên đạt được mục tiêu đề ra, đòi
hỏi công tác quản lí của các trung tâm GDQPAN phải hướng đến phát huy được
tính tích cực, chủ động trong nhận thức, tự giác rèn luyện và chấp hành các chế độ
theo nếp sống quân sự, tránh mệnh lệnh, dập khuôn. Nội dung quản lí cần tập
trung vào những vấn đề chủ yếu như quản lí việc xây dựng mục tiêu, kế hoạch học
tập của sinh viên, việc chấp hành quy chế đào tạo, hoạt động tự học, đổi mới
phương pháp học tập, hoạt động tự kiểm tra đánh giá của sinh viên, việc chấp
hành nội quy, chế độ quy định.
3.2.3.3. Quản lí hoạt động hỗ trợ, phục vụ
Nội dung quản lí cần tập trung vào quản lí tinh thần trách nhiệm, thái độ phục
vụ của đội ngũ nhân viên phục vụ trong hướng dẫn, giúp đỡ, giải quyết những khó
khăn, vướng mắc của sinh viên; công tác chăm sóc sức khỏe cho sinh viên; chất
lượng bữa ăn, giá cả, khẩu phần ăn, vệ sinh an toàn thực phẩm; các dịch vụ cung
cấp nhu cầu thiết yếu cho sinh viên; trang phục, đồ dùng phục vụ sinh hoạt, hoc
tập, thể thao ...
3.2.3.4. Quản lí sự phối hợp của các đơn vị và cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ
Nâng cáo ý thức, thành thần trách nhiệm của cán bộ, giảng viên trong công
tác phối hợp thực hiện mục tiêu chất lượng. Tổ chức các hoạt động, bồi dưỡng, tập
huấn kĩ năng phối hợp, kĩ năng làm việc nhóm giữa các thành viên, các đơn vị
trong trung tâm và giữa các trung tâm với các CSGDĐH. Gắn kết quả hoàn thành
19
nhiệm vụ và lợi ích của từng cá nhân với tập thể để mọi thành viên nỗ lực thực
hiện các công việc chung của trung tâm, của đơn vị mình một cách tốt nhất, loại
bỏ tư tưởng “cha chung không ai khóc” trong giải quyết các nhiệm vụ chung giữa
các phòng, ban, khoa đào tạo.
Biểu đồ 3.1: Tính cấp thiết và khả thi của nhóm giải pháp chung
b) Nhóm giải quản lí chất lượng đầu vào
Biểu đồ 3.2: Tính cấp thiết và khả thi của nhóm giải pháp quản lí chất
lượng đầu vào
c) Nhóm giải pháp quản lí chất lượng quá trình
21
Biểu đồ 3.3: Tính cấp thiết và khả thi của nhóm giải pháp quản lí chất
lượng quá trình
d) Nhóm giải pháp quản lí chất lượng đầu ra
Biểu đồ 3.4: Tính cấp thiết và khả thi của nhóm giải pháp quản lí chất
lượng đầu ra
Kết luận chương 3
Vận dụng TQM trong các CSGDĐH đang là xu thế lớn, nhiều quốc gia có
nền giáo dục tiên tiến đã áp dụng thành công, đem lại hiệu quả thiết thực và to lớn.
Vận dụng TQM trong quản lí hoạt động GDQPAN cho sinh viên ở các trung tâm
GDQPAN tuy còn mới mẻ, song đây được xem là một hướng đi đúng đắn, có lợi
trong nâng cao chất lượng GDQPAN cho sinh viên. Để quản lí hoạt động
GDQPAN cho sinh viên theo tiếp cận TQM, tác giả đã đề xuất 4 nhóm giải pháp
22
gồm nhóm giải pháp chung, nhóm giải pháp quản lí chất lượng đầu vào, nhóm giải
pháp quản lí chất lượng quá trình và nhóm giải pháp quản lí chất lượng đầu ra của
chế … Qua đó, tác giả đã chỉ ra những yếu tố tác động đến quản lí hoạt động
GDQPAN cho sinh viên ở các CSGDĐH theo tiếp cận TQM như chưa tạo được ý
23