Nghiên cứu tình hình và khả năng tiếp cận thị trường lao động của người lao động nông thôn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa”. - Pdf 35

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khoá luận này
là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học hàm học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khoá luận đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khoá luận đều được trích rõ nguồn
gốc.

Hà nội, ngày 20 tháng 5 năm 2010
Người cam đoan

i


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả các thầy, cô giáo thuộc khoa Kinh tế
và Phát triển nông thôn Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này. Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng
biết ơn chân thành nhất đến cô giáo TS. Vũ Thị Phương Thụy thuộc bộ môn
Kinh tế Tài nguyên và môi trường đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Thiệu Hoá, các phòng ban,
UBND xã Thiệu Phú, Thiệu Đô, Thiệu Ngọc, các hộ nông dân, người lao động
trong huyện đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra về tình hình lao
động việc làm tại địa phương.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã động
viên, giúp đỡ tôi suốt quá trình học tập và thời gian thực hiện khoá luận này.
Hà nội, ngày 20 tháng 5 năm 2010
Người cảm ơn

ii


+ Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, phỏng vấn điều tra trực tiếp 90 hộ
trong 3 xã được chọn.
+ Số liệu thu thập được tổng hợp xử lý bằng các phương pháp thống kê
mô tả, phương pháp so sánh đối chiếu đồng thời sử dụng một số phương pháp
đánh giá nông thôn (PRA,RRA, chuyên gia chuyên khảo).
Qua quá trình nghiên cứu rút ra một số kết quả như sau:
1, Về lao động, việc làm của người lao động huyện
Thiệu Hóa là huyện thuần nông có dân số đông và lực lượng lao động
trong tuổi khá dồi dào biến động tăng qua 3 năm, năm 2007 lực lượng lao động
của huyện là 79.395 lao động, năm 2009 tăng lên 81.649 lao động, bình quân 3
năm tăng 1,41%. Lực lượng lao động trẻ chiếm tỷ lệ lớn trong lực lượng lao
động, tập trung nhiều nhất trong độ tuổi từ 25- 44 tuổi song phần lớn lao động
trong huyện là những lao động nông nghiệp gắn bó với đồng ruộng và nông thôn.
Lao động thiếu việc làm thừa thời gian lao động chiếm tỷ lệ cao bình
quân 3 năm số lao động thiếu việc làm tăng 1,60%, số lao động đủ việc làm, có
việc làm ổn định còn thấp, lao động thất nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ song rải rác ở tất
cả các xã.
2, Tình hình tiếp cận thị trường lao động của người lao động huyện
Số lượng lao động tham gia thị trường trong và ngoài huyện hàng năm
tăng lên trong đó bao gồm lao động đủ việc làm, bình quân 3 năm tăng 3,79%.
Xét về trình độ chuyên môn thì hầu hết lao động ở nông thôn có trình độ
chuyên môn thấp, tỷ lệ lao động được đào tạo có xu hướng tăng lên, tỷ lệ lao
động chưa qua đào tạo giảm, bình quân 3 năm giảm 1,99%.
Đa số lao động trên địa bàn huyện tham gia thị trường lao động chủ yếu
dựa vào các mối quan hệ anh em, bạn bè,…Qua những mối quan hệ này họ có
được các công việc phổ thông, tính ổn định không cao. Trong tổng số 60/113 lao
động điều tra có 4 lao động tìm được việc làm thông qua các mối quan hệ anh
iv



5, Định hướng và giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận thị trường lao động
Dự kiến trong giai đoạn 2010 – 2012 huyện sẽ phấn đấu tạo việc làm cho
hơn 44 nghìn lao động nông thôn bao gồm việc làm trong các trang trại và việc
làm trong các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Ngoài ra
huyện dự kiến tạo việc làm cho lao động ngoài thị trường huyện qua hình thức
xuất khẩu lao động và làm việc tại các khu đô thị. Để đạt được dự kiến trong
tương lai thì có một số giải pháp được đặt ra:
Giải pháp nâng cao trình độ người lao động:
+ Đa dạng các hình thức đào tạo nghề.
+ Phát triển các hình thức vừa học, vừa làm.
+ Triển khai hình thức dạy nghề gắn với việc làm tại chỗ.
Giải pháp tạo tính kỷ luật của người lao động:
+ Tăng cường giáo dục nhân cách, đạo đức, tác phong tính tổ chức kỷ
luật cho người lao động .
+ Xây dựng và thực hiện nghiêm túc các quy định của đơn vị, của các
doanh nghiệp về giờ giấc làm việc và nội quy lao động.
+ Có hình thức động viên khen thưởng kịp thời để tạo động cơ phấn đấu
trong công việc.
Giải pháp về hoạt động giới thiệu việc làm cho lao động nông thôn:
+ Đa dạng hoá các hình thức giới thiệu việc làm, hình thức giới thiệu việc
làm công và hình thức giới thiệu việc làm tư nhân.
+ Cần liên kết các trung tâm giới thiệu việc làm với các doanh nghiệp
trong việc tuyển dụng lao động.
+ Thông tin về việc tuyển dụng lao động cần được phổ biến rộng rãi đến
người lao động qua các kênh thông tin phổ biến nhất.

vi


MỤC LỤC

4.2 Đánh giá tình hình và khả năng tiếp cận thị trường lao động của người lao
động huyện........................................................................................................52
4.2.1 Đánh giá tình hình tiếp cận thị trường lao động của người lao động..52
4.2.2 Đánh giá khả năng tiếp cận thị trường lao động của người lao động. 63
4.2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thị trường lao động. 72

vii


4.3 Định hướng tạo việc làm và một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận
thị trường lao động cho người lao động...........................................................77
4.3.1 Định hướng tạo việc làm cho người lao động.....................................77
4.3.2 Giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận thị trường lao động.................79
4.3.2. Giải pháp nâng cao tính kỷ luật của người lao động..........................81
4.3.3 Giải pháp về hoạt động giới thiệu việc làm cho lao động nông thôn 82
PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.............................................................84
5.1 Kết luận.......................................................................................................84
5.2 Kiến nghị....................................................................................................85
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................86

viii


PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp với trên 70% dân số sống ở khu vực
nông thôn. Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động nông nghiệp nông
thôn là vấn đề bức thiết được Đảng và Nhà nước quan tâm chú trọng giải quyết.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định: “ Giải quyết việc
làm là yếu tố quyết định phát huy yếu tố con người, ổn định và phát triển kinh tế,

thiếu việc làm, thất nghiệp trá hình, lao động tự do vẫn chiếm tỷ lệ cao, khả năng
tiếp cận của thị trường lao động của người lao động nông thôn còn nhiều hạn chế.
Từ những lý do trên tôi xin tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu
tình hình và khả năng tiếp cận thị trường lao động của người lao động nông
thôn huyện Thiệu Hóa – tỉnh Thanh Hóa”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu tổng quát của đề tài là đánh giá tình hình và khả năng tiếp cận
thị trường lao động của người lao động nông thôn, các yếu tố ảnh hưởng đến khả
năng tiếp cận thị trường lao động của người dân, từ đó đề ra các giải pháp nhằm
nâng cao khả năng tiếp cận thị trường lao động cho người dân trên địa bàn
huyện.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về lao động việc làm và vấn
đề tiếp cận thị trường lao động của người dân nông thôn hiện nay.
Đánh giá thực trạng lao động việc làm và tình hình tiếp cận thị trường lao
động của người lao động nông thôn trong huyện trong thời gian qua từ đó thấy
được mức độ tham gia thị trường lao động của người lao động.
Nghiên cứu khả năng tiếp cận thị trường lao động và tìm việc làm của
người dân trên địa bàn huyện.
2


Đề xuất một số các giải pháp kinh tế xã hội chủ yếu nhằm nâng cao khả
năng tiếp cận thị trường lao động và tìm việc làm của người dân trong huyện.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
1, Cơ sở lý luận và thực tiễn về thị trường lao động và tiếp cận thị trường
lao động của người lao động nông thôn là gì?
2, Thực trạng lao động - việc làm của người lao động nông thôn huyện
Thiệu Hoá như thế nào?


4


PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số lý luận về lao động, việc làm và thị trường lao động
2.1.1.1 Lý luận về lao động
a, Khái niệm về lao động
Lao động là hoạt động có mục đích của con người thong qua hoạt động
đó con người tác động vào giới tự nhiên cải biến thành những vật có ích nhằm
đáp ứng nhu cầu nào đó của con người.
Ngày nay khái niệm lao động đã được mở rộng, lao động là hoạt động có
mục đích của con người. Bất cứ ai làm việc gì cũng đều phải tiêu hao một năng
lượng nhất định tuy nhiên chỉ có tiêu hao năng lượng có mục đích mới được gọi
là lao động. Vì vậy, lao động là điều kiện không thể thiếu được của đời sống con
người, là sự tất yếu vĩnh viễn. Lao động làm cho con người ta ngày càng phát
triển toàn diện và mang tính sáng tạo cao. Bất kỳ một xã hội nào muốn tồn tại và
phát triển đều phải không ngừng phát triển sản xuất, điều đó có nghĩa là lao động
sản xuất là hoạt động có ý thức của con người nhằm tạo ra của cải vật chất và giá
trị tinh thần phục vụ cho nhu cầu bản thân và xã hội. Lao động mãi là nguồn gốc
và động lực phát triển của xã hội. Bởi vậy ,xã hội càng văn minh thì tính chất,
hình thức và phương thức tổ chức lao động càng tiến bộ
Việt Nam bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nền kinh tế
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước thì lý luận lao động
lại được đánh giá ở nhiều khí cạnh, cụ thể là:
Lao động vẫn được coi là phương thức tồn tại của con người nhưng vấn
đề đặt ra là lợi ích của con người vẫn được coi trọng bởi lao động biểu hiện bản
chất của con người, lợi ích là một trong những vấn đề nhạy cảm nhất của con
người, là nhân tố thấm sâu, phức tạp trong quan hệ con người với con người,

6


c, Nguồn lao động
Theo quy định của tổng cục Thống kê thì: nguồn lao động bao gồm
những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và những người ngoài
độ tuổi lao động đang tìm việc làm trong các ngành kinh tế quốc dân. Nguồn lao
động bao gồm số lượng và chất lượng lao động.
Số lượng lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động ( theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam: người trong độ
tuổi lao động từ 15 đến 60 tuổi đối với nam, 15 đến 55 tuổi đối với nữ).
Chất lượng lao động: Khi lao động con người sử dụng chính sức lao động
của mình để tác động vào đối tượng lao động, sức lao động hay năng lực lao
động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể,
trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản
xuất ra một gí trị sử dụng nào đó. Như vậy, theo C.Mac sức lao động chính là
năng lực lao động tồn tại dưới dạng năng lực thể chất - sức khoẻ, sức cơ bắp và
năng lực tinh thần - sức thần kinh, trí óc. Chất lượng lao động xét theo cá nhân
chính là trạng thái sức lao động bởi con người khi tham gia lao động suy cho
cùng họ thực hiện công việc tốt đến mức độ nào là do năng lực thể chất, năng lực
tinh thần của họ.
Chất lượng lao động là khả năng lao động của người lao động. Vì vậy
chúng ta có thể hiểu: chất lượng lao động là trạng thái nhất định của nguồn lao
động, nó được thể hiện qua mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành bản chất bên
trong của nguồn lao động.
Như vậy, có thể nói chất lượng lao động là tổng thể những đặc tính biểu
hiện ở từng người lao động và trên phạm vi từng vùng, từng đơn vị sản xuất kinh
doanh về các mặt: sức khoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, trình độ tổ
chức, phẩm chất, đạo đức, ý thức pháp luật, kỷ luật của bản thân, phong tục tập
quán,..

8


Như vậy, việc làm có thể hiểu: hoạt động lao động của con người, hoạt
động có mục đích tạo ra thu nhập, là hoạt động lao động không bị pháp luật ngăn
cấm. Từ khái niệm trên có thể hiểu việc làm là sự tác động qua lại giữa các hoạt
động của con người với những điều kiện vật chất kỹ thuật và môi trường tự
nhiên tạo ra giá trị vật chất và tinh thần mới cho bản thân và xã hội, đồng thời
những hoạt động lao động phải trong khuôn khổ cho phép. Nói cách khác, việc
làm là tổng thể những hoạt động kinh tế có liên quan đến thu nhập và đời sống
dân cư.
Theo Michael P.Todaro: Thiếu việc làm là những người làm việc ít hơn
mức mà mình mong muốn.
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): Người thiếu việc làm là những
người trong tuần lễ tham khảo có số giờ làm việc dưới mức quy định chuẩn cho
người có đủ việc làm và có nhu cầu làm thêm.
Theo Bộ lao động - Thương binh và xã hội: Người thiếu việc làm gồm
những người trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra có tổng số giờ làm việc
dưới 40 giờ hoặc số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy định hiện hành của Nhà
nước có nhu cầu làm thêm giờ và sẵn sàng làm việc nhưng không có việc để làm.
Theo một số chuyên gia về chính sách lao động việc làm: Người thiếu
việc làm là những người đang tìm việc làm, có mức thu nhập dưới mức lương tối
thiểu và họ có nhu cầu làm thêm.
Từ các quan điểm trên có thể hiểu khái niệm thiếu việc làm như sau:
Người thiếu việc làm là những người thuộc lực lượng lao động, đang có việc làm
nhưng thời gian làm việc ít hơn chuẩn quy định chho người có đủ việc làm và
mang lại thu nhập thấp hơn mức lương tối thiểu.
b, Vai trò của việc làm
Việc làm là vấn đề mang tính xã hội, mỗi con người khi trưởng thành đều
mong muốn có việc làm. Việc làm có ý nghĩa rất quan trọng đem đến thu nhập

10


và chất lượng cung ứng việc làm (bán) và sử dụng việc làm (mua) về cơ bản là
tương ứng với nhau.
Theo Elliontt Robert, trong hệ thống các thị trường thị trường lao động là
thị trường lớn nhất và quan trọng nhất là do:
- Lao động là hoạt động có ích và là nguồn gốc của đại bộ phận của cải
trong xã hội. Do vậy, thu nhập do lao động là thu nhập lớn nhất trong tổng thu
nhập của tầng lớp dân cư trong xã hội.
- Thời gian tham gia vào các hoạt động kinh tế, tham gia vào thị trường
lao động chiếm phần lớn nhất thời gian của con người, quyết định tham gia thị
trường lao động do vậy là quyết định có tính chất quan trọng nhất của con người
trong toàn bộ cuộc sống của mình.
- Lao động không thể tách riêng khỏi người cung cấp lao động. Đối với
các loại hàng hoá bình thường quyền bán hàng hoá của mình sẽ chấm dứt khi đã
thanh toán. Trái lại, người lao động còn tham gia một cách tích cực và chủ động
trong quá trình khai thác và sử dụng lao động, quyết định hiệu quả sử dụng các
yếu tố khác (công nghệ và vốn), tức là quyết định số lượng và chất lượng sản
phẩm hàng hoá và dịch vụ do họ sản xuất ra.
Qua các quan điểm trên có thể nêu lên một định nghĩa khái quát về thị
trường lao động như sau: Thị trường lao động là nơi mà có nhu cầu tìm việc làm
và người có nhu cầu sử dụng lao động trao đổi với nhau, mua bán dịch vụ lao
động thông qua các hình thức xác định giá cả (tiền công , tiền lương) và các điều
kiện thoả thuận khác (thời gian làm việc, điều kiện lao động, bảo hiểm xã hội...)
trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng hoặc thông qua
các dạng hợp đồng hay thỏa thuận khác.
b, Sự hình thành thị trường lao động
Sự hình thành thị trường lao động ở Việt Nam cũng như nhiều nước đang
phát triển gắn với quá trình phân hoá tự nhiên của nền sản xuất nhỏ, hình thức



Theo tổ chức FAO năm 1989 thì: Tiếp cận thị trường lao động bao gồm
việc tìm hiểu xem các khách hàng của bạn cần gì và cung cấp cái đó cho họ mà
vẫn có lãi.
Theo Nutilus Consultants 1987 thì: Tiếp cận thị trường là các hoạt động
thương mại liên quan đến việc chuyển sản phẩm từ người sản xuất tới người tiêu
dùng hoặc người sử dụng cuối cùng.
Ngoài ra còn một số khái niệm khác về tiếp cận thị trường như:
- Tiếp cận thị trường là một quá trình hoặc một hệ thống, một loạt các
hoạt động và sự việc có liên quan móc xích và toàn bộ nhằm mang lại sự thoả
mãn cho khách hàng.
- Tiếp cận thị trường là việc xác định nhu cầu của khách hàng và cung
cấp một hoặc nhiều sản phẩm thoả mãn các nhu cầu đó với giá cả có thể chấp
nhận được đối với khách hàng mà đồng thời người bán vẫn có lãi.
- Tiếp cận thị trường là một hệ thống các hoạt động và phân hệ ảnh
hưởng lẫn nhau và ăn khớp vào nhau được thiết kế và vận hành nhằm mục đích
mang lại sự thoả mãn cho khách hàng.
Như vậy, tiếp cận thị trường là một khái niệm rất rộng nó bao gồm những
hoạt động chủ yếu sau:
+ Xác định thị trường và thị phần mong đợi
+ Phát triển ý tưởng về các sản phẩm bán hoặc dịch vụ cung cấp
+ Tìm kiếm, lựa chọn và phối hợp các yếu tố đầu vào cho sản xuất sản
phẩm
+ Tìm ra những đối thủ cạnh tranh đang hoạt động
+ Quyết định các phương pháp đóng gói và phân phối
+ Bảo đảm nguồn cung cấp sản phẩm
+ Định giá
+ Nhận đơn hàng
13


+ Tiếp cận thị trường lao động thông qua hệ thống thông tin: thông tin thị
trường lao động không những đóng vai trò quan trọng đối với Chính phủ và cộng
đồng xã hội, các nhà hoạch định chính sách, các trung tâm dạy nghề và giới thiệu
việc làm, các nhà đầu tư trong phân tích cung - cầu lao động và các vấn đề liên
quan đến lao động, định hướng công tác dạy nghề, giải quyết việc làm và các
quyết định tuyển dụng và phát triển nguồn nhân lực mà thông tin thị trường lao
động tìm được những công việc phù hợp với bản thân mình.
Các hệ thống thông tin có thể tiếp cận đó là hệ thống thông tin chính
thống và hệ thống thông tin không chính thống. Hệ thống thông tin chính thống
như thông tin đại chúng như đài, báo, ti vi, thông báo của các cơ quan tổ chức và
chính quyền ở địa phương. Hệ thống thông tin không chính thống như qua bạn
bè, họ hàng, làng xóm.
+ Tiếp cận thị trường lao động thông qua các trung tâm giới thiệu việc
làm: Với chức năng hoạt động để phục vụ cho việc tạo việc làm, tăng thu nhập
đồng thời hỗ trợ hình thành thị trường lao động, các trung tâm tạo điều kiện cho
người tìm việc và việc tìm người dễ dàng gặp nhau hơn. bằng hình thức đến trực
tiếp hoặc thông qua các dịch vụ mà người lao động nhận được các thông tin về
các khoá đào tạo, các chỗ làm trống cũng như chi phí dịch vụ và điều kiện đáp
ứng.
+ Tiếp cận thị trường lao động thông qua tổ chức tuyển dụng: tuyển dụng
là kênh giao dịch đang được áp dụng khá phổ biến, từ việc bổ nhiệm trực tiếp
đến thi tuyển, thông báo qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua các kênh
cá nhân, trường lớp,...Trong đó việc tuyển chọn và thi tuyển là hình thức được áp
dụng nhiều trong các cơ quan hành chính sự nghiệp nhà nước. Hình thức tuyển
dụng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng thường được sử dụng trong
các đơn vị sản xuất kinh doanh.

15



lượng, chất lượng lao động, kỹ năng nghề nghiệp, tiền lương và pháp luật lao
động.
Những người dạy nghề cần thông tin để thiết kế, thực hhiện những
chương trình đào tạo theo nhu cầu thị trường, yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp,
ngành nghề của lao động trên thị trường.
Thông tin thị trường cực kỳ quan trọng cho người tìm việc, qua các kênh
thông tin thị trường người tìm việc có thể biết được nơi nào cần tuyển dụng, yêu
cầu của nhà tuyển dụng như thế nào. Mặt khác còn dự báo tốt về thị trường loa
động trong tương lai giúp cho người lao động có định hướng về nghề nghiệp của
mình từ đó đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động.
Tóm lại, thông tin thị trường lao động rất có ích đối với cả người lao
động và người sử dụng lao động, giúp cho họ gặp nhau dễ dàng hơn.
Để phát huy được hiệu quả hệ thống thông tin thị trường lao động của
một quốc gia phải được xây dựng với các yêu cầu kỹ thuật sau đây:
Thông tin thị trường lao động phải đảm bảo tính hệ thống: hệ thống
thông tin thị trường lao động phải được triển khai ở tất cả các đầu mối quản lý
các cấp của ngành Lao động- thương binh và xã hội và các cơ quan, tổ chức liên
quan, qua đó tạo dựng môi trường đồng nhất để cung ứng, trao đổi thông tin, tra
cứu thông tin, xử lý thông tin.
Mức độ chính xác của thông tin thị trường lao động: Thông tin thị trường
lao động phải bảo đảm độ tin cậy thì hiệu quả thông tin mới đi vào được cuộc
sống, mới đáp ứng được việc ra quyết định một cách đúng đắn.
Tính sử dụng thông tin thị trường lao động: Hệ thống thông tin thị trường
lao động phải bao gồm các thông tin thiết thực, phục vụ trực tiếp công tác quản
lý, nghiên cứu, giới thiệu việc làm, tuyển dụng đào tạo lao động kỹ năng và điều
chỉnh các khuyết tật của thị trường lao động.

17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status