1
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu
Danh mục biểu đồ, sơ đồ
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TM-DV
Thương mại dịch vụ
BV&PTR
Bảo vệ và phát triển rừng
Bộ NN&PTNT
Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
CNH – HĐH
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
PCCCR
Phòng cháy chữa cháy rừng
UBND
Ủy ban nhân dân
BVR
Bảo vệ rừng
SPSS Statistical Package For Social Sciences
R Recreational Mathematics
1
2
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.23: Nhận thức về các hoạt động gây ô nhiễm 92
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
đông trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp (Lê Thị Quý, 2008), thời gian
dành cho lĩnh vực hoạt động sản xuất nhiều nên họ ít được tiếp cận với các
nguồn lực, không có thời gian để tham gia vào hoạt động của cộng đồng, trao
đổi thông tin điều đó càng làm cho khả năng tham gia vào thị trường, nắm bắt
thông tin thay đổi từng ngày là rất hạn chế.
Nhưng với kiến thức thị trường hạn chế và nhiều nguyên nhân khác có
thể làm cho những quyết định trong tham gia thị trường không được chính
xác hoặc lúng túng, và họ chính là những người chịu thiệt thòi trong nền kinh
tế thị trường ngày càng phát triển. Huyện Cao Lộc là một huyện có vị trí địa
lý rất gần với Thành phố Lạng sơn, ở đây có nền sản xuất nông sản phát triển
khá toàn diện như nông nghiệp, TM-DV, trồng trọt, chăn nuôi. Vì vậy những
người dân nơi đây đã rất quen thuộc với công việc buôn bán và trao đổi trong
điều kiện sản xuất hàng hoá hiện nay. Tuy nhiên họ vẫn là những người nông
dân chất phác,chịu thương chịu khó,chịu ảnh hưởng của nền kinh tế nhỏ lẻ
nên khả năng tiếp cận và thích nghi với nền kinh tế thị trường sản xuất hàng
3
4
hoá vẫn chưa được phát huy có hiệu quả. Vậy tính cấp thiết của đề tài này là
đi tìm hiểu và trả lời câu hỏi: Người dân họ đang cần gì khi tham gia vào thị
trường?người dân ở nơi đây họ đang tham gia vào thị trường ở mức độ nào?
Những người dân ở vùng sâu vùng xa thì khả năng tiếp cận thị trường của họ
có gì khác so với người dân ở gần trung tâm? Mức độ thu nhập, cơ hội tìm
việc làm như thế nào? Hiệu quả ra sao? khả năng tham gia vào thị trường của
họ là đến đâu và họ chịu những tác động nào? Và chúng ta cần làm gì để giúp
họ tham gia tốt vào thị trường? Đứng trước những yêu cầu cần được giải đáp
nêu trên nhằm góp phần giải quyết mục tiêu nghiên cứu. Tác giả quyết định
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khả năng tiếp cận thị trường của người dân về
việc quản lý, bảo vệ rừng Mẫu Sơn Tỉnh Lạng sơn”. Với mong muốn tìm
hiểu, đánh giá, phân tích những tập quán canh tác, phương thức sản xuất và
phát triển kinh tế hộ gia đình cùng một số nét văn hóa đời sống, văn hóa sản
Về không gian: Nghiên cứu trên phạm vi là 3 xã: Xã Công sơn, Hải Yến,
Hợp Thành thuộc huyện Cao Lộc Tỉnh Lạng sơn.
Về thời gian: Nghiên cứu từ ngày 01/08/2009 đến ngày 30/08/2010
4. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng tiếp cận thị trường của người dân về quản lý, bảo
vệ rừng và những nhân tố ảnh hưởng đến sự tiếp cận đó của người dân xã
Công Sơn.
Xem xét khả năng duy trì và phát triển các nguồn lực: Nguồn lực tự
nhiên, nguồn lực về con người, nguồn lực về xã hội, nguồn lực về vật chất,
nguồn lực tài chính của các hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu. Từ việc
5
6
nghiên cứu đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng khả năng tiếp cận
thị trường của hộ về việc quản lý, bảo vệ rừng bền vững.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo luận văn được
chia thành 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng quản lý, bảo vệ rừng và tiếp cận thị trường của
người dân
Chương 3:Những giải pháp chủ yếu nhằm khai thác tốt mối quan hệ
tiếp cận thị trường và quản lý, bảo vệ rừng Mẫu sơn.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở khoa học về đề tài
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm, định nghĩa trong đề tài
* Khái niệm về Thị trường: Thị trường ra đời và phát triển gắn với sự
phát triển của nền sản xuất hàng hoá. Từ đó đến nay, nền sản xuất hàng hoá
đã phát triển và trải qua nhiều thế kỷ, có nhiều thay đổi mang tính hiện đại và
7
8
Thị trường là một phạm trù của nền kinh tế hàng hoá và được nhiều nhà
kinh tế định nghĩa khác nhau.
- Thứ nhất: Thị trường là tổng hợp các lực lượng và điều kiện trong đó
người mua và người bán thực hiện các quyết định chuyển hàng hoá dịch vụ từ
người bán sang người mua.
+ Theo Davi begg: “thị trường là tổng hợp các sự thoả thuận mà thông qua
đó người mua và người bán tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá dịch vụ”.
Một định nghĩa khác cho biết: Thị trường là nơi mua bán hàng hoá, là
quá trình trong đó người mua và bán một thứ hàng hoá tác động qua lại nhau
để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, là nơi diễn ra các hoạt động mua bán
bằng tiền trong một khoảng thời gian không gian nhất định. Theo Ngân hàng
phát triển châu Á: Thị trường là một thể chế (hay là tập hợp các nguyên tắc)
tồn tại để phục vụ việc trao đổi: đó là chúng tồn tại để giảm giá thành của việc
thực hiện giao dịch. Một thị trường vận động tốt sẽ giảm giá giao dịch giữa
người mua và người bán đến mức thấp nhất. Một thị trường làm việc gồm có
4 phần:
+ Một nền tảng thể chế: gồm quy luật, quy tắc, quy định và năng lực bắt
buộc điều chỉnh tạo nên và giữ vững thị trường.
+ Tổ chức dịch vụ cung cấp dịch vụ trung gian cho người tham gia và
điều khiển thị trường: Những dịch vụ này bao gồm từ những dịch vụ cơ bản
đến việc nghiên cứu thị trường.
+ Người tiêu dùng là những người muốn mua sản phẩm và dịch vụ và có
tiền để làm việc đó.
8
9
+ Người sản xuất là người cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong thị
trường: Mặc dù cơ cấu thị trường và số lượng quy mô, loại hình tổ chức đa
dạng trong các lĩnh vực thị trường dựa vào lịch sử, giai đoạn tăng trưởng và
+ Thị trường các yếu tố đầu ra: là sản phẩm dùng cho tiêu dùng cá nhân
của con người như: Lương thực, thực phẩm, quần áo,…
Căn cứ vào nguồn gốc sản xuất ra hàng hoá:
+ Thị trường hàng công nghiệp: Là các loại sản phẩm do xí nghiệp công
nghiệp khai thác, chế biến sản xuất ra.
+ Thị trường hàng nông nghiệp (nông, lâm, thuỷ sản): Là các hàng hoá
có nguồn gốc từ sinh vật.
* Tiếp cận thị trường: Tiếp cận thị trường cho hàng hoá được
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) định nghĩa là các điều kiện về thuế
quan và các biện pháp phi thuế quan, theo sự thoả thuận của các thành viên
của tổ chức cho sự xâm nhập của một loại hàng hóa cụ thể vào thị trường
của họ.
Tiếp cận thị trường nông sản phẩm là việc người nông dân có đầy đủ
thông tin, tiềm lực xã hội, tài chính, vật chất để mua vật tư đầu vào và bán sản
10
11
phẩm nông nghiệp làm ra ở các khu vực có lợi cho họ. Nghĩa là người nông
dân có đủ nguồn lực để có thể giao thiệp với người bán vật tư đầu vào phục
vụ cho quá trình sản xuất của nông hộ, đồng thời họ cũng có đủ khả năng để
tiếp cận và đàm phán với các nhà cơ sở thu mua để bán sản phẩm họ làm ra ở
một mức có lợi (Kleih, 1999). Điều này cho thấy điều kiện cơ bản nhất để tiếp
cận thị trường nông nghiệp là có sự tồn tại của cầu cho các loại sản phẩm tiềm
năng từ khu vực nông thôn. Quy luật tự nhiên của sản phẩm đầu vào và đầu
ra, phương thức tiếp cận thị trường của người dân và những yêu cầu phải
được thực hiện nhằm nâng cao khả năng tiếp cận thị trường.
Tiếp cận thị trường không thể thực hiện như một lĩnh vực riêng lẻ. Tiếp
cận thị trường phải được nhìn nhận như một phần đầy đủ, trọn vẹn, không thể
thiếu của hệ thống hàng hoá. Một mặt, người nông dân phải biết đâu là nơi họ
bán sản phẩm trước khi hoạt động sản xuất. Mặt khác, nguồn cung cấp đầy
đủ, thích hợp và thoả đáng các khía cạnh vật chất chất lượng và số lượng là
Còn ở Việt nam, theo thống kê cho thấy tỷ lệ lao động không qua đào tạo rất
cao ( chiếm gần 80% tổng số lao động không qua đào tạo trong cả nước); nữ
chiếm 0,63% công nhân kỹ thuật, nam chiếm là 3,46%. Tỷ lệ lao động nữ có
trình độ trên đại học 0,016%, tỷ lệ này của nam là 0,077% ( Bùi Đình Hoà,
1998). Vì trình độ học vấn tương đối thấp nên bị hạn chế về kỹ thuật, chuyên
môn sự hiểu biết nên gặp khó khăn về tiếp nhận thông tin và kết quả là tiến bộ
khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất còn yếu kém dẫn đến hiệu quả năng
suất thu nhập kém, thấp.
12
13
+ Vốn đầu tư:Vốn cho sản xuất ảnh hưởng rất nhiều đến vai trò của chủ
hộ trong phát triển kinh tế. Nhìn chung người dân muốn đầu tư cho sản xuất,
kinh doanh đều gặp phải khó khăn về vốn. Vốn tích luỹ trong các hộ gia đình
thường không nhiều nên họ phải vay vốn từ các tổ chức, cá nhân bên ngoài. Ở
nước ta thị trường vốn, nhất là nông thôn vùng sâu, vùng xa, thủ tục vay vốn
còn khó khăn và rườm rà. Do đó người dân nông thôn đặc biệt là các hộ
nghèo không có điều kiện mở rộng sản xuất phát triển kinh tế.
b. Yếu tố về thời gian và kinh phí
+ Thời gian: Do đặc thù ở các vùng nông thôn thời gian lao động tạo thu
nhập của họ chiếm thời gian rất nhiều. Do vậy, đều đó ảnh hưởng xấu đến sức
khoẻ và gia đình họ, thiếu thời gian nghỉ ngơi, giải trí tham gia các hoạt động
xã hội cộng đồng cũng như các cơ hội tham gia đảm nhận các vị trí quản lý và
lãnh đạo, có rất ít thời gian để tham gia vào các khoá đào tạo, bồi dưỡng nâng
cao trình độ, kỹ năng và sự tự tin. Thời gian là điều kiện bắt buộc để họ tiến
hành các hoạt động nâng cao trình độ của mình, có nhiều thời gian thì họ mới
có điều kiện tham gia các hoạt động, các lớp bồi dưỡng kiến thức như: đi tập
huấn học các lớp bồi dưỡng, đi khảo sát xung quanh để có thông tin về cầu và
giá để tiếp cận thị trường tốt hơn. Vậy thời gian cũng là yếu tố quan trọng tạo
nên kinh nghiệm cũng như năng lực tiếp cận thị truờng tốt hơn.
+ Kinh phí: Là điều kiện trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ
Cùng trong một khối thương mại +330
Có quan hệ thực dân - thuộc địa trong quá khứ +900
Cùng là nước thực dân trong quá khứ +190
14
15
Có thể chế chính trị giống nhau +300
Sử dụng một đồng tiền chung +340
Nguồn: “Dự báo tác động của liên minh tiền tệ đối với tăng trưởng”,
bản thảo chưa công bố, tháng 5/2000, tác giả Jeffrey Frankel vàAndrew Rose.
Như vậy có thể thấy khoảng cách là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng
lớn đến khả năng tiếp cận thị trường, vận dụng vào thực tiễn những khu vực
gần các trung tâm đô thị có khoảng cách gần, giao thông thuận tiện dẫn đến
chi phí vận chuyển thấp, thói quen và sở thích cơ bản giống nhau, thông tin
trao đổi nhanh … do vậy khi có sản phẩm người ta dễ giao dịch trao đổi hơn.
Uche M. Nwankwo và Bokelmann Wolfgang trong báo cáo “The Effect
of Information and Market Access on Adopters’ Income Level” chỉ ra rằng
khi thông tin được cung cấp đầy đủ sẽ làm tăng khả năng tiếp cận thị trường
và qua đó giúp tăng thu nhập cho người dân.
1.1.3 Những vấn đề sản xuất nông lâm nghiệp của hộ nông dân
a. Dịch vụ khuyến nông
Mặc dù khuyến nông giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ,
kiến thức cho nông dân, tăng hiệu quả sản xuất tuy nhiên vẫn còn một số hộ
nông dân vẫn chưa tiếp cận được hoặc khó tiếp cận khuyến nông.
Tiếp cận các dịch vụ khuyến nông hay gọi tắt là tiếp cận khuyến nông là
quá trình hoạt động trong hệ thống khuyến nông được diễn ra từ hai phía
ngược chiều, một là các tổ chức cung cấp dịch vụ khuyến nông, hai là hộ
nông dân - người có nhu cầu sử dụng các dịch vụ khuyến nông. Vì vậy, một
số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông
của nông dân như:
- Điều kiện kinh tế của hộ: Người nghèo khó tiếp cận khuyến nông. Hiện
16
17
những hộ nông dân còn hạn chế về trình độ văn hóa thì họ sẽ khó khăn trong
việc tiếp cận dịch vụ khuyến nông chính vì tính bảo thủ của mình, sợ và
không muốn tiếp cận với những cái mới. Ngoài ra, các hộ có trình độ văn hóa
thấp thường không tự tin, không dám mạo hiểm đầu tư sản xuất, họ sợ rủi ro
(rủi ro thời tiết, giá cả…).
- Giới tính của chủ hộ cũng ảnh hưởng phần nào đến tiếp cận dịch vụ
khuyến nông. Nhìn chung, những chủ hộ là nam giới thì thường mạnh dạn
hơn những hộ là nữ, nam giới thường quyết đoán và mạo hiểm hơn, dám làm,
dám chịu… Nữ giới thường thận trọng hơn, không dám mạo hiểm. Như vậy,
chủ hộ là nữ thường khó khăn trong việc tiếp cận khuyến nông, đặc biệt là
việc áp dụng các mô hình sản xuất mới.
- Nội dung và chất lượng của các dịch vụ khuyến nông. Các chương
trình, dự án, hoạt động khuyến nông phải xuất phát từ nhu cầu của nông dân,
phù hợp với khả năng của họ, các nguồn hỗ trợ tuy ít nhưng có chất lượng
mới đảm bảo uy tín và khích lệ nông dân tham gia.
- Cơ chế chính sách: Đây là nhóm nhân tố ảnh hưởng ở tầm vĩ mô, ngoài
các chính sách về khuyến nông thì các chính sách khác có liên quan như,
chính sách đất đai, chính sách tín dụng, chính sách thuế cũng có những tác
động ảnh hưởng đến họat động khuyến nông [VUFO – Trung tâm tư liệu
NGO (11/2004), các vấn đề về giới và dân tộc thiểu số trong khuyến nông.
NXB Hà Nội].
- Điều kiện tự nhiên: Các vùng miền núi, trung du do điều kiện địa hình
khó khăn, nông dân ở đây trình độ thấp, khả năng tiếp cận thấp hơn ở các
vùng đồng bằng. Điều kiện tự nhiên là yếu tố mang tình chất khách quan, các
hoạt động sản xuất nông nghiệp đều chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện thời
tiết, khí hậu, do đó các chương trình dự án khuyến nông có đạt hiệu quả cao
hay không cũng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết tốt hay xấu.
17
bảo chất lượng dịch vụ được tốt hơn, người dân sẽ được tiếp cận với dịch vụ
thủy lợi dễ dàng hơn. Ngược lại nếu cơ sở vật chất kém, máy bơm công suất
kém, hệ thống mương máng chưa được bê tông hóa… sẽ làm cho chất lượng
dịch vụ kém hiệu quả, người dân không được cấp đủ và thoát nước không
đúng lúc gây ảnh hưởng đến việc sản xuất của người dân.
c. Dịch vụ cung cấp thông tin
Khả năng tiếp cận thông tin của hộ nông dân là mức độ nông dân có thể
có những khả năng nào hay cách nào để đến gần nắm bắt và luận giải các
thông tin đó. Hiện nay nông dân có rất nhiều khả năng để tiếp cận thông tin
thông qua các dịch vụ cung cấp thông tin như: Tiếp cận qua báo chí, tiếp cận
qua các kênh truyền thanh, truyền hình, qua Internet…Tuy nhiên, không phải
hộ nông dân nào cũng tiếp cận được với các dịch vụ cung cấp thông tin và sử
dụng những thông tin có hiệu quả nhất. Sau đây là một số yếu tố ảnh hưởng
đến khả năng tiếp cận dịch vụ cung cấp thông tin của hộ nông dân:
- Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn: Đây là yếu tố rất quan trọng
đánh giá trình độ của nông dân và mức độ tiếp cận cũng như xử lý các thông
tin. Thông thường những người có trình độ học vấn cao thường sẽ quan tâm
nhiều hơn đến các hệ thống thông tin hơn là những người có trình độ thấp.
Những người có trình độ học vấn cao sẽ có cơ hội tiếp cận được với các
nguồn thông tin từ sách báo, đài, ti vi…và các kênh thông tin khác.
Đặc biệt những người có trình độ chuyên môn cao thì thường có xu
hướng sản xuất lớn theo hướng hàng hóa. Có thể họ sản xuất trang trại hoặc
kinh doanh lớn. Những người này thường có xu hướng tìm hiểu về thông tin
thị trường sản phẩm của mình hơn những người khác. Họ có điều kiện tiếp
xúc về trình độ chuyên môn cùng với thông tin thị trường mà họ tìm hiểu giúp
họ có những quyết định đúng đắn trước, trong và sau quá trình sản xuất sản
phẩm.
19
20
- Cơ sở vật chất và điều kiện kinh tế xã hội của địa phương và gia đình:
nhiên, đối với nông dân nói chung thì khâu này không đạt lợi ích tối ưu nhất.
Người nông dân thông thường sản xuất nhỏ lẻ, thường chỉ sản xuất những sản
phẩm mà gia đình cần cho tiêu dùng, nếu thừa mới đem bán. Nếu sản xuất
hàng hóa thì cũng chỉ là sản xuất theo nhau hoặc theo chỉ đạo của Hợp tác xã
mà không có sự chủ động. Chính cách sản xuất này của nông dân đã dẫn đến
tình trạng tiêu thụ ồ ạt theo mùa vụ, không có người mua, giá cả thấp, bán cho
thương lái, gặp mua thì bán rất ít có hợp đồng, bị ép giá… Chính vì vậy, việc
nâng cao khả năng tiếp cận thông tin cho nông dân là việc rất quan trọng, nó
có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh của hộ nông dân.
d. Bảo vệ và quản lý rừng
Bảo vệ có hiệu quả tài nguyên rừng chính là để nâng cao chất lượng cuộc
sống cho các cộng đồng dân cư thôn bản. Công tác bảo vệ rừng phải được tiến
hành đồng thời với sự phát triển kinh tế - xã hội và góp phần nâng cao thu
nhập cho cộng đồng dân cư thôn bản trên địa bàn. Mấu chốt của vấn đề bảo
vệ rừng vừa là bảo vệ tài nguyên rừng vùa giải quyết tốt vấn đề nâng cao chất
lượng cuộc sống cho cộng đồng.
Bảo vệ tài nguyên rừng nếu không có sự tham gia của cộng đồng dân cư
thôn bản thì sẽ không thành công. Vì vậy, đề xuất các giải pháp để nâng cao
trách nhiệm và quyền hưởng lợi của cộng đồng dân cư thôn bản trong bảo vệ
rừng là rất cần thiết. Để công tác bảo vệ rừng đạt hiệu quả cao thì phải có
chính sách khuyến khích, thu hút sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cư
thôn, bản.
Tính cộng đồng của các dân tộc Việt Nam đã là yếu tố quan trọng tạo
nên cơ sở cho những thành quả đã đạt được trong công cuộc bảo vệ tài
21
22
nguyên thiên nhiên. Vì vậy, vấn đề phát huy vai trò của các cộng đồng để
quản lý nguồn tài nguyên này là vấn đề vừa mang ý nghĩa phát huy truyền
thống, vừa có thể tạo ra một cách quản lý tài nguyên có hiệu quả hơn, bền
vững hơn, phù hợp với những xu hướng phát triển của thế giới [14].
lâm nghiệp) để xây dựng và phát triển rừng, trong đó: 1.916.169,2 ha đất có
rừng (chiếm 68,6%) và 876.777,1 ha đất trống đồi trọc (chiếm 31,4%). Diện
tích đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý nêu trên chiếm 17,20% diện tích đất
quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp trên toàn quốc (16,24 triệu ha); diện tích
đất lâm nghiệp có rừng do cộng đồng quản lý chiếm 15% tổng diện tích rừng
của cả nước (12.873.815 ha). Trong diện tích đất lâm nghiệp có rừng do cộng
đồng quản lý và sử dụng thì rừng tự nhiên chiếm tuyệt đại đa số lên đến 96%,
rừng trồng chỉ chiếm có 4%. Cộng đồng quản lý chủ yếu rừng phòng hộ, đặc
dụng (71%), rừng sản xuất chỉ chiếm 29%. Cộng đồng quản lý và sử dụng đất
lâm nghiệp nêu trên với 3 hình thức sau:
- Thứ nhất, rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp được cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định
lâu dài (có quyết định hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và rừng, sau
đây gọi tắt là giao) với diện tích 1.643.251,2 ha tương đương 58,8% diện tích
đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý và sử dụng.
- Thứ hai, rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý từ lâu
đời nhưng chưa được Nhà nước giao (chưa có bất kỳ một loại giấy tờ hợp
pháp nào, gọi tắt là chưa giao) với diện tích 247.029,5 ha tương đương 8,9%.
Đó là các khu rừng thiêng, rừng ma, rừng mó nước, những khu rừng cung cấp
lâm sản truyền thống cho cộng đồng.
- Thứ ba, rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp của các tổ
chức nhà nước (Lâm trường, Ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng
23
24
hộ…) được các cộng đồng nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi và trồng mới theo
hợp đồng khoán rừng lâu năm, 50 năm, gọi tắt là nhận khoán với diện tích
902.662,7 ha tương đương 32,3%
Ngoài ra, hiện nay còn có một hình thức hình thành rừng và đất rừng
cộng đồng ở Việt Nam khác nữa đó là các hộ gia đình trong một thôn tự
nguyện góp rừng và đất lâm nghiệp đã được giao của hộ gia đình trở thành
gia đình ở vùng núi. Kết quả cho thấy đa số các hộ dân đều mong muốn được
Nhà nước hỗ trợ vốn để sản xuất nông - lâm nghiệp. Hiện nay nhiều gia đình
trong xã có đất đai và mong muốn phát triển một số loại cây trồng, vật nuôi
có hiệu quả kinh tế cao như trồng cây hồi, cây ăn quả nhưng do thiếu vốn
nên không thực hiện được. Để góp phần khắc phục tình trạng thiếu việc làm
dẫn đến gia tăng các hoạt động xâm hại đến tài nguyên rừng, cần hỗ trợ vốn
cho người dân phát triển kinh tế xã hội như: mở rộng mức tín dụng, tăng vốn
vay trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu vốn cho nhân dân trong phát triển
nông - lâm nghiệp; nâng mức đầu tư cho các hoạt động về các lĩnh vực trồng
rừng khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ rừng nhằm nâng cao mức thu nhập cho
người lao động lâm nghiệp, khuyến khích người dân tích cực tham gia vào
các hoạt động phát triển lâm nghiệp.
Lồng ghép công tác bảo tồn với các hoạt động phát triển kinh tế. Hiện
nay Rừng Mẫu sơn mới chỉ tập trung vào quản lý bảo vệ rừng chưa chú ý đến
khai thác tiềm năng du lịch để cải thiện đời sống người dân.
Đối với xây dựng cơ sở hạ tầng, ngoài vốn hỗ tợ của Nhà nước, xã cần
có các hoạt động nhằm tại ra các nguồn kinh phí để xây dựng cơ sở hạ tầng,
trước mắt ưu tiên phát triển giao thông và thông tin liên lạc.
25