I. Đặt vấn đề
Việt Nam chính thức là thành viên của WTO.
Ngày 12/12/2007 tại Geneva, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã tuyên bố
Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 vào ngày 11/1/2007. Đây
chính là thời điểm các nội dung thỏa thuận bắt đầu có hiệu lực.
Quá trình gia nhập WTO của Việt Nam đã bắt đầu từ năm 1995 khi Việt Nam
gửi đơn gia nhập. Trong quá trình 11 năm, Việt Nam đã vượt qua các đàm phán
với WTO cũng như đàm phán song phương với tất cả các thành viên của tổ chức
này.
Đến cuối tháng 11/2006 thì toàn bộ các văn kiện thỏa thuận được thống nhất. Lễ
ký kết văn kiện thỏa thuận đã được tổ chức ngày 7/11 tại Geneva.
Ngày 29/11, Quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn kết quả thỏa thuận, và đã ủy
quyền cho Chính phủ gửi đến WTO bản Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành
lập WTO của Việt Nam.
Ngày 6/12/2006, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký Lệnh công bố Nghị
quyết phê chuẩn Nghị định thư.
Ngày 11/12/2006, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Gia Khiêm
đã gửi Ban thư ký WTO thư thông báo Việt Nam hoàn thành thủ tục phê chuẩn
Nghị định thư nêu trên. Thư thông báo này đã được đại diện Phái đoàn thường
trực của Việt Nam bên cạnh Cơ quan Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác
tại Giơ-ne-vơ (Thụy Sỹ) chuyển cho Chủ tịch Đại hội đồng WTO, Đại sứ Eirik
Glenn, nguyên Chủ tịch Ban công tác gia nhập WTO của Việt Nam. Cùng có
mặt trong buổi lễ tiếp nhận thư thông báo của Việt Nam còn có Phó Tổng Giám
đốc WTO Rufus Yerxa.
Chủ tịch Đại hội đồng và Phó Tổng Giám đốc WTO một lần nữa chúc mừng
Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO và đánh giá cao việc Quốc hội
Việt Nam đã nhanh chóng phê chuẩn Nghị định thư gia nhập.
1
Căn cứ theo qui định của WTO, một tháng sau khi nhận được văn bản này,
Việt Nam sẽ chính thức trở thành một thành viên WTO, và đây cũng là thời
điểm các nội dung trong thỏa thuận gia nhập bắt đầu có hiệu lực
đăng ký của các dự án FDI năm 2007 đạt khoảng 16 - 17 tỷ USD, tăng 33,3 -
42% so với năm 2006 (12 tỷ USD); nguồn vốn ODA cam kết 4,4 tỷ USD,
nguồn vốn thực hiện ODA đạt khoảng 2 tỷ USD; đầu tư gián tiếp của nước
ngoài vào thị trường tài chính, ngân hàng, chứng khoán bùng nổ, ước đạt 12 tỷ
USD. Nhìn chung, giới DN, thương nhân nước ngoài đã thể hiện sự hồ hởi, sự
quan tâm đáng kể, chưa từng thấy từ trước tới nay vào việc nghiên cứu, tìm
hiểu, đầu tư vào thị trường Việt Nam.
2
Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và của các DN Việt Nam đã được
nâng cao. Các DNđã tự nhận thức sâu sắc hơn sự cạnh tranh gay gắt trên thị
trường thế giới và ngay cả trên thị trường nội địa, tự điều chỉnh chiến lược, đổi
mới công nghệ của mình nhằm khắc phục khó khăn để thích nghi với thực tiễn
khách quan của thị trường thế giới. Nhiều DN đã đa dạng hóa các sản phẩm, thị
trường; đồng thời người tiêu dùng Việt Nam đã có cơ hội lựa chọn nhiều nhiều
hàng hóa với chất lượng cao hơn, mẫu mã phong phú, đa dạng hơn. Theo Diễn
đàn kinh tế thế giới, năm 2007, Việt Nam chúng ta được xếp hạng 68 trong số
131 nền kinh tế được xếp hạng về chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp và được
xếp hạng 76 trong số 127 nền kinh tế được xếp hạng về chỉ số năng lực cạnh
tranh DN .
Công tác xây dựng pháp luật cũng đạt được nhiều thành tựu to lớn. Chưa
bao giờ Việt Nam lại có một hệ thống pháp luật tương đối minh bạch, hoàn thiện
và đầy đủ như hiện nay.
1.2 . Thành tựu Thương mại trên các lĩnh vực xuất nhập khẩu , thị trường nội
địa và hội nhập kinh tế quốc tế
Trong năm 2007, tình hình thế giới diễn biến phức tạp, sự bất ổn chính trị
kéo dài tại khu vực Trung Đông, giá nguyên nhiên vật liệu như xăng dầu, sắt
thép, phân bón, chất dẻo, giấy, bông, sợi.v.v. liên tục thay đổi ở mức cao; đồng
đô la Mỹ giảm giá mạnh, gây áp lực làm tăng giá đầu vào của sản xuất trong
nước, tăng giá tiêu dùng và có tác động tương đối lớn đến XK. Trong nước, nền
so với năm 2006.
So với năm 2006, trong năm 2007, nhịp độ tăng trưởng kim ngạch XK tiếp
tục được duy trì ở mức cao, nhiều mặt hàng nông sản gặp thuận lợi về giá và thị
trường XK. Nhịp độ tăng kim ngạch XK của khu vực các DN có vốn đầu tư
nước ngoài vẫn tiếp tục tăng cao hơn so với mức tăng trưởng bình quân chung
của cả nước và mức tăng trưởng của khu vực các DN 100% vốn trong nước và
trở thành động lực quan trọng đối với tăng trưởng XK chung của cả nước.
Nhóm hàng có nhịp độ tăng trưởng XK cao và có giá trị XK lớn là nhóm
hàng công nghiệp và chế biến như: thuỷ sản, dệt may, giầy dép, hàng điện tử và
linh kiện điện tử, sản phẩm gỗ... Nhóm hàng cà phê, hạt tiêu, sản phẩm nhựa có
nhịp độ tăng trưởng XK cao hơn mục tiêu mà Nhà nước đã đề ra từ đầu năm.
Bên cạnh đó, tuy từ đầu năm Nhà nước đặt mục tiêu giảm nhịp độ tăng trưởng,
nhưng trong thực hiện nhóm hàng nguyên liệu và khoáng sản vẫn duy trì tốc độ
tăng trưởng cao.
Thị trường XK hàng hóa của nước ta có sự tăng trưởng không đều, trong
khi thị trường ASEAN, EU, Mỹ đạt nhịp độ tăng trưởng khá cao thì một số thị
trường quan trọng khác có nhịp độ tăng trưởng chậm hoặc giảm như Trung
Quốc, Nhật Bản và Ôxtrâylia.
1.2.2 Về thị trường nội địa
Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ toàn
xã hội năm 2007 ước đạt 708.480 tỷ đồng, tương đương 44 tỷ USD, tăng trên
22% so với năm 2006. Giá nhiều mặt hàng tiêu dùng ở thị trường nội địa chịu
ảnh hưởng của diễn biến tăng giá trên thị trường thế giới. Chỉ số giá tiêu dùng
CPI cả năm 2007 ước tăng trên 10 - 10,5%, cao hơn nhịp độ tăng trưởng kinh tế.
Có thể nói, thị trường trong nước năm 2007 phát triển sôi động với nhiều
chủng loại hàng hoá đa dạng, phong phú, phương thức mua bán ngày càng phát
triển theo hướng văn minh, hiện đại, đang trở thành nguồn động lực quan trọng
thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế nước ta. Các mặt hàng trọng yếu bảo đảm
cân đối cung cầu, hệ thống phân phối phát triển khá.
1.2.3 . Về hội nhập kinh tế
yếu, dự báo sai, điều hành chính sách tiền tệ chưa tốt. "Việc lúng túng trong điều
hành thị trường tiền tệ cũng là một lý do khiến tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI)
vượt quá tốc độ tăng GDP" (đánh giá của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại hội
nghị Kế hoạch và Đầu tư năm 2007, ngày 30-11-2007. Theo đánh giá của
chuyên gia kinh tế WB tại Hà Nội: Lượng tiền lưu thông quá lớn, tỷ lệ tăng tín
dụng trên 38%, so với tốc độ tăng GDP khoảng 8% thì con số đó là rất nhiều, dù
cho các ngân hàng thương mại phải tăng tỷ lệ dự trữ, nhưng lượng tiền lưu thông
vẫn rất nhiều. Do dòng vốn đổ vào thị trường mạnh nhưng chưa có cơ quan điều
tiết đủ năng lực, chính sách ngoại hối, ngoại tệ chưa phát huy tác dụng vì chính
sách của Chính phủ trong thị trường tiền tệ và hối đoái không nhất quán. Chính
5