nâng cao khả năng tiếp cận thị trường lao động cho người nghèo ở huyện con cuông tỉnh nghệ an - Pdf 23

Chuyên đề thực tập GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành chuyên đề này, ngoài sự nỗ lực và cố gắng của
bản thân, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình về nhiều mặt của các tổ
chức và cá nhân.
Trước tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Hoàng Ngọc Việt,
người thầy đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
Tôi cũng xin được cảm ơn Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông
nghiệp, nông thôn đã tạo điều kiện để tôi thực tập, nghiên cứu và hoàn thành
chuyên đề.
Hà Nội, tháng 12 năm 2010
Sinh Viên
Đặng Thị Thúy Hằng

SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng Lớp KTNN & PTNT K49
1
Chuyên đề thực tập GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
LỜI MỞ ĐẦU
Sự tăng trưởng một cách ấn tượng (trung bình khoảng 8%/năm), Việt Nam
đang tạo ra sự hấp dẫn và lôi cuốn mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu. Sức hút đối với
các nhà sản xuất và đầu tư quốc tế bắt nguồn từ chính giá trị nội tại và tương lai tươi
sáng của Việt Nam. Với 86.164,5 nghìn người, hiện nay Việt Nam có khoảng
49.301,9 nghìn lao động, trong đó lao động trẻ từ 18 – 34 tuổi chiếm 45% và hàng
năm tiếp tục được bổ sung mới 1,5 triệu lao động. Đây là một thế mạnh của Việt
Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Song, hiện nay khả năng tiếp cận thị
trường lao động của người dân Việt Nam còn nhiều hạn chế, chất lượng lao động
thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ chiếm khoảng 25% trên tổng số lao động. Hầu
hết lao động phổ thông có thu nhập thấp và bất cứ ai cũng đang phải đối mặt với
nguy cơ mất việc làm do tác động của quá trình hội nhập và suy thoái kinh tế. Do
vậy, lao động - việc làm và cơ hội tiếp cận thị trường lao động đang là mối quan
tậm chung của toàn xã hội. Nâng cao năng lực tiếp cận thị trường lao động, giải

lao động đã qua đào tạo nghề, lao động nông nghiệp. Hoàn thiện cơ chế, chính sách
tuyển chọn và sử dụng lao động trong khu vực kinh tế nhà nước và bộ máy công
quyền. Đa dạng hoá các hình thức giao dịch việc làm; phát triển hệ thống thông tin
về thị trường sức lao động trong nước và thế giới. Có chính sách nhập khẩu lao
động có chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ và quản lý ở những ngành, nghề
cần ưu tiên phát triển. Xây dựng hệ thống luật pháp về lao động và thị trường sức
lao động nhằm bảo đảm quyền lựa chọn chỗ làm việc và nơi cư trú của người lao
động; thực hiện rộng rãi chế độ hợp đồng lao động; bảo đảm quyền lợi của cả người
lao động và người sử dụng lao động”.
Huyện Con Cuông là một nằm ở phía tây tỉnh Nghệ An, phía đông nam giáp
huyện Anh Sơn, phía đông bắc giáp huyện Quỳ Hợp và Tân Kỳ, phía tây bắc giáp
huyện Tương Dương, phía tây nam có đường biên giới nước Lào dài 55,5km. Là
huyện vùng cao, lợi thế về vị trí và điều kiện thuận lợi để phát triển nông-lâm
nghiệp và du lịch, thương mại.Mặc dù trong thời gian qua Huyện ủy – HĐND –
UBND – UBMT TQ, các ngành đoàn thể trong toàn huyện đã có nhiều chính sách
nhằm giải quyết việc làm nâng cao thu nhập cho lao động. Song, đến nay tỷ lệ
nghèo của huyện còn ở mức cao 29,3% (cao hơn so với mức trung bình chung của
cả nước), tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp trá hình, lao động tự do thu nhập
thấp trong cộng đồng người nghèo của huyện chiếm tỷ lệ cao, khả năng tiếp cận thị
trường lao động trong và ngoài tỉnh của bộ phận này còn nhiều hạn chế. Để góp
phần giải quyết vấn đề này em mạnh dạn tìm hiểu đề tài “Nâng cao khả năng tiếp
cận thị trường lao động cho người nghèo ở huyện Con Cuông Tỉnh Nghệ An ”
Đề tài gồm 4 Chương
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về thị trường lao động cho người
nghèo
Chương II: Thực trạng về khả năng tiếp cận thị trường lao động cho người
nghèo ở huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An
Chương III: Phương hướng và một số giải pháp Nâng cao khả năng tiếp
cận thị trường lao động cho người nghèo ở huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An
Chương IV: Kết luận và kiến nghị

của con người, lợi ích là một trong những vấn đề nhạy cảm nhất của con người, là
nhân tố thấm sâu, phức tạp trong quan hệ con người với con người, quan hệ cá nhân
với xã hội.
Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần thì lao động được xem xét dưới
góc độ của năng suất, chất lượng, hiệu quả. Đó là tiêu chẩn, thước đo lao động
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng Lớp KTNN & PTNT K49
4
Chuyên đề thực tập GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
không chỉ vì số lượng, chất lượng mà cả về tính tích cực hăng say và trách nhiệm
với công việc.
Bất kỳ một hình thức lao động nào của cá nhân, không phân biệt thành phần
kinh tế nào nếu đáp ứng được nhu cầu xã hội tạo ra sản phẩm hoặc công dụng nào
đó, thực hiện được lợi ích đảm bảo nuôi sống mình không sống nhờ vào người khác
và xã hội lại có thể đóng góp cho xã hội một phần lợi ích thì lao động đó được chấp
nhận là lao động có ích.
• Lực lượng lao động
Theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO): Lực lượng lao động là
một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định thực tế đang có việc làm và những người
thất nghiệp.
Theo kinh tế học David Begg cho rằng: Lực lượng lao động có đăng ký bao
gồm số người có việc làm cộng với số người thất nghiệp có đăng ký.
Từ các khái niệm trên lực lượng lao động có thể được hiểu như sau: Lực
lượng lao động bao gồm toàn bộ những người từ 15 tuổi trở lên đang có việc làm
hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc.
1.1.1.2 Khái niệm về nguồn lao động
Theo giáo trình Kinh tế Lao động -Trường đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội:
Nguồn lao động là toàn bộ dân số trong độ tuổi trừ đi những người trong độ tuổi
này hoàn toàn mất khả năng lao động.
Theo quy định của Tổng cục Thống kê khi tính toán còn cân đối nguồn lao
động xã hội, theo đó: Nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động

tập quán
1.1.1.3 Khái niệm về Năng suất lao động
Năng suất lao động là sức sản xuất của người lao động cụ thể có mục đích
nói lên kết quả hoạt động sản xuất có mục đích của con người trong một đơn vị thời
gian nhất định. Năng suất lao động được đo bằng sản phẩm sản xuất ra trong một
đơn vị thời gian hoặc đo bằng lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản
phẩm.
Năng suất lao động là năng lực của người sản xuất có thể tạo ra một lượng
sản phẩm có ích cho xã hội trong một thời gian nhất định.
1.1.2. Việc làm
1.1.2.1 Khái niệm, vai trò và phân loại việc làm
• Khái niệm việc làm
Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế xã hội và
nhân khẩu nó thuộc những vấn đề chủ yếu của toàn bộ đời sống xã hội. Tùy theo
cách tiếp cận mà người ta có những khái niệm khác nhau về việc làm:
Việc làm là tất cả các hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật ngăn
cấm gọi là việc làm.
Các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm: làm các công việc được
trả công dưới dạng tiền hoặc hiện vật; những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng Lớp KTNN & PTNT K49
6
Chuyên đề thực tập GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
bản thân hoặc tạo ra thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công bằng tiền
hoặc hiện vật cho công việc đó.
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động được
trả công bằng tiền hoặc bằng hiện vật.
Quan điểm xem xét việc làm như một tế bào, một đơn vị nhỏ nhất phân chia
từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thì cho rằng: “Việc làm là một phạm trù để
chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, hoặc những phương
tiện để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội”.

- Việc là đầy đủ: căn cứ trên hai khía cạnh chủ yếu đó là mức độ sử dụng
thời gian lao động và mức năng suất, thu nhập. Một việc làm đầy đủ đòi hỏi người
lao động làm việc theo chế độ thời gian quy định (8 giờ/ngày). Mặt khác, việc làm
đầy đủ phải mang lại thu nhập không thấp hơn mức lương tối thiểu.
Căn cứ vào thời gian có việc làm thường xuyên trong năm:
- Người có việc làm ổn định là những người làm việc từ 6 tháng trở lên trong
năm, hoặc những người làm việc dưới 6 tháng trong 1 năm nhưng công việc đó kéo
dài trong nhiều năm.
- Người có việc làm tạm thời là những người làm việc dưới 6 tháng trong 1
năm, trong 2 tháng trước thời điểm điều tra đang làm một công việc tạm thời, hoặc
không có việc làm dưới một tháng.
1.1.2.2 Thiếu việc làm và thất nghiệp
• Thiếu việc làm
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): người thiếu việc làm là những người
trong tuần lễ tham khảo có số giờ làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người có
đủ việc làm và có nhu cầu làm thêm.
Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội: Người thiếu việc làm bao gồm
những người trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra có tổng số giờ làm việc dưới
40 giờ, hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy định hiện hành của Nhà nước,
có nhu cầu làm thêm giờ và sẳn sàng làm việc nhưng không có việc để làm.
Theo một số chuyên gia về chính sách lao động việc làm thì cho rằng: Người
thiếu việc làm là những người đang tìm việc, có mức thu nhập thấp dưới mức lương
tối thiểu và họ ckó nhu cầu làm thêm.
Từ các quan điểm trên có thể hiểu khái niệm người thiếu việc làm như sau:
Người thiếu việc làm là những người thuộc lực lượng lao động, đang có việc làm
nhưng thời gian làm việc lại ít hơn mức chuẩn theo quy định cho người có đủ việc
làm và mang lại thu nhập thấp hơn mức lương tối thiểu.
• Thất nghiệp
Theo định nghĩa của Aigred Sanvy: “Người thất nghiệp là người khỏe mạnh,
muốn lao động để kiếm sống nhưng không tìm được việc làm”.

liệu sản xuất này. Song, thực tế chỉ một bộ phận dân cư có quyền sử dụng và có thu
nhập còn những người thất nghiệp hoặc thiếu việc làm có quyền sở hữu mà không
có quyền sử dụng và không có thu nhập. Như vậy, thất nghiệp và thiếu việc làm còn
liên quan đến vấn đề công bằng xã hội.
Tóm lại, để lao động tìm được việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng
lao động đều có cơ hội làm việc ngoài trách nhiệm thuộc về bản thân người lao
động thì cần sự quan tâm của nhà nước, các doanh nghiệp và của toàn xã hội.
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng Lớp KTNN & PTNT K49
9
Chuyên đề thực tập GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
1.2. Một số lý luận cơ bản về thị trường lao động, thông tin thị trường lao động
1.2.1. Thị trường lao động
1.2.1.1 Khái niệm
Theo tác phẩm của Adam Smith viết năm 1826: “Thị trường là một không
gian trao đổi hàng hóa dịch vụ”. Như vậy nếu coi sức lao động là hàng hóa hoặc nếu
coi lao động là dịch vụ thì bản chất của khái niệm này là: Thị trường lao động là nơi
diễn ra sự trao đổi hàng hóa sức lao động (hoặc dịch vụ lao động) giữa một bên là
người sử dụng lao động và một bên là người lao động.
Theo tiến sỹ Leo Maglen, chuyên gia tư vấn của dự án Giáo dục kỹ thuật dạy
nghề của Tổng cục dạy nghề do Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) tài trợ, thị
trường lao động được tiếp cận dưới góc độ việc làm và được xác định như sau: “
Thị trường lao động là một hệ thống trao đổi giữa những người có việc làm hoặc
những người đang tìm kiếm việc làm (cung lao động) với những người đang sử
dụng lao động hoặc đang tìm kiếm lao động để sử dụng (cầu lao động)”.
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đưa ra định nghĩa: “Thị trường lao động
là thị trường trong đó các dịch vụ lao động được mua bán thông qua quá trình thỏa
thuận để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công”.
Theo “Đại Từ điển kinh tế thị trường” (xuất bản năm 1988) thì: “Thị trường
lao động là nơi mua bán sức lao động diễn ra giữa người lao động (cung lao động)
và người sử dụng sức lao động (cầu lao động)”.

thúc đẩy sự phát triển thị trường lao động, tạo điều kiện cho người lao động có cơ
hội tiếp cận được thị trường lao động trong nước cũng như quốc tế, nâng cao cơ hội
tìm kiếm việc làm nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống.
1.2.1.3 Đặc điểm của thị trường lao động
Thị trường lao động có sự khác biệt với các thị trường khác ở tính chất đặc
biệt của hàng hóa sức lao động. Đối với tất cả các nền kinh tế thị trường, thị trường
lao động đều có những đặc trưng cơ bản sau đây:
• Một là, hàng hóa trên thị trường lao động là hàng hóa đặc biệt: Sức lao
động trở thành hàng hóa ngay từ khi nền sản xuất hàng hóa nhỏ mới được hình
thành, cho phép có tích lũy tư bản nguyên thủy và sự phát triển của lao động làm
thuê và quan hệ lao động công nghiệp. Trên thị trường lao động, hàng hóa được
đem ra trao đổi là sức lao động, đó là một hàng hóa đặc biệt, có tiềm năng về thể
lực, trí lực, tâm lực. Tính đặc biệt của nó được thể hiện qua các điểm sau:
- Khác với hàng hóa thông thường, hàng hóa sức lao động gắn chặt với
người có sức lao động cả về số lượng và chất lượng.
- Có sự khác biệt giữa “hàng hóa người lao động” và “hàng hóa sức lao
động”.
• Hai là, tính không đồng nhất của hàng hóa sức lao động trên thị trường lao
động: Các loại hàng hóa, dịch vụ đặc biệt là hàng hóa công nghiệp thường được
chuẩn hóa cao, đảm bảo tính đồng nhất về mẫu mã, chất lượng. Nhưng hàng hóa
sức lao động không đồng nhất. Mỗi người lao động khác nhau về tuổi tác, nguồn
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng Lớp KTNN & PTNT K49
11
Chuyên đề thực tập GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
gốc, giới tính, trí thông minh, sự khéo léo, thể lực, động lực làm việc và chúng đều
có ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả lao động. Đồng thời, người lao động còn
có sự khác nhau về trình độ văn hóa, cấp trình độ chuyên môn kỹ thuật, số năm kinh
nghiệm công tác…
• Ba là, giá cả sức lao động trên thị trường lao động do quan hệ cung cầu
xác định: Sự hoạt động của quy luật cung - cầu lao động trên thị trường lao động

lao động tích cực: quá trình mua bán sức lao động giữa người sử dụng sức lao động
và người lao động được thực hiện trong các doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan. Trong
quá trình này hai bên có thể xây dựng mối quan hệ lao động tích cực thông qua cơ
chế vận hành hiệu quả các quy định của Bộ luật Lao động tại doanh nghiệp như:
hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, quy chế trả lương, nội quy doanh
nghiệp…
• Tám là, thị trường lao động và pháp luật nhà nước: Thị trường lao động dù
hoàn hảo hay không đều chịu sự tác động của pháp luật. Các thể chế, quy chế được
luật hóa và các quy định không thành văn bản, có tác động đến hành vi và điều kiện
của hai chủ thể người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình thỏa
thuận các điều kiện và giá cả của dịch vụ lao động.
1.2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường lao động Việt Nam
Nước ta thuộc diện một trong số các nước đang phát triển và có đặc điểm là
trải qua nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp. Do đó, việc đảm bảo các điều
kiện cho sự phát triển của thị trường lao động có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với
giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc của quốc gia trong quá trình phát triển
nền kinh tế thị trường. Xuất phát từ đặc điểm phát triển nền kinh tế thị trường, các
nhân tố chính thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường lao động nước ta được xác
định gồm:
- Đảm bảo tăng trưởng của nền kinh tế: Thông qua tăng trưởng kinh tế cao
mới có khả năng tạo ra mức cầu lao động cao, mới có cơ sở vật chất cho phát triển
chất lượng của cung lao động.
- Thúc đẩy hiệu quả quá trình CNH – HĐH đất nước: Quá trình CNH – HĐH
được thúc đẩy đạt tốc độ càng cao thì thị trường lao động càng có mức độ phát triển hơn.
- Nâng cao chất lượng của cung lao động: Chất lượng lao động có vai trò
quan trọng trong quá trình thúc đẩy thị trường lao động phát triển.
- Thiết lập chính sách thị trường lao động hiện đại.
1.2.1.5 Các yếu tố của thị trường lao động
• Cung, cầu về lao động
* Cung về lao động: Cung về lao động là tổng số lượng lao động đang tham

về lao động trong tương lai.
• Quan hệ cung cầu và giá cả hàng hóa sức lao động
Quan hệ cung cầu lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả sức lao động
(tiền lương, tiền công) trên thị trường, biểu hiện cụ thể qua hình sau:
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng Lớp KTNN & PTNT K49
14
W
W
1
L
D
2
S
2
D
1
D
S
S
1
E
W
0
W
2
L
1
L
0
L

1
chính là khoảng chênh lệch giữa cung và cầu trên thị trường lao động.
Trong trường hợp ngược lại, nếu giá cả sức lao động ở mức thấp W
2
, thì cầu lao
động sẽ tăng lên ở mức L
2
và cung chỉ ở mức S
2
. Khoảng cách D
2
S
2
là sự chênh lệch
giữa cung và cầu lao động, trường hợp này cầu lớn hơn cung. Theo quy luật của thị
trường thì giá cả sức lao động luôn có xu hướng trở về W
0
.
Đối với thị trường lao động nước ta hiện nay, có đặc trưng là cung lớn hơn
cầu, do nguồn nhân lực tăng nhanh, nền kinh tế đang trong quá trình cơ cấu lại, cầu
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng Lớp KTNN & PTNT K49
15
Chuyên đề thực tập GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
lao động của ngành công nghiệp, dịch vụ còn thấp… Vì vậy, để có thể cân bằng
được cung - cầu lao động cần có chính sách tăng cầu lao động trên cơ sở thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, phát triển nhanh các khu vực kinh tế, kích cầu tiêu dùng, hội
nhập quốc tế mạnh mẽ và có cơ chế chính sách nâng cao chất lượng nguồn lao
động.
1.2.2. Thông tin thị trường lao động
1.2.2.1 Khái niệm về thông tin thị trường lao động

lượng lao động, kỹ năng nghề nghiệp, tiền lương và pháp luật lao động.
- Những người dạy nghề cần thông tin thị trường lao động để thiết kế, thực
hiện các chương trình đào tạo theo tín hiệu, yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp, ngành
nghề của lao động trên thị trường.
- Thông tin thị trường thực sự quan trọng cho người tìm việc, qua các kênh
thông tin thị trường người tìm việc có thể biết được nơi nào cần tuyển dụng, yêu
cầu của nhà tuyển dụng như thế nào… Mặt khác dự báo tốt về thị trường lao động
trong tương lai giúp cho người lao động có định hướng về nghề nghiệp của mình từ
đó đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động.
Thông tin thị trường giúp cho người tìm việc và việc tìm người dễ dàng gặp
nhau hơn.
1.3. Một số lý luận về người nghèo
Nghèo là sự diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng
với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên
nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian. Tổ chức Y
tế Thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập. Theo đó một người là nghèo khi thu
nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm
(Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia.
1.3.1 Nghèo tuyệt đối
Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển,
Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm
nghèo tuyệt đối. Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở mức
độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt
đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong
tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh
ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta."
Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương
đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là
chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các trị ranh giới
nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2 đô

và công chúng là 50% hay 60% của thu nhập trung bình. Vì thế từ năm 2001 trong
các nước thành viên của Liên minh châu Âu những người được coi là nghèo khi có
ít hơn 60% trị trung bình của thu nhập ròng tương đương. Lý luận của những người
phê bình cho rằng con số này trên thực tế cho biết rất ít về chuẩn mực cuộc sống
của con người. Những ai hiện tại có ít hơn 50% của thu nhập trung bình thì cũng
vẫn có ít hơn 50% của trung bình khi tất cả các thu nhập đều tăng gấp 10 lần. Vì thế
những người đó vẫn còn là nghèo tương đối. Và khi những người giàu bỏ đi hay
mất tiền của thì sẽ giảm trung bình của thu nhập đi và vì thế làm giảm thiểu nghèo
tương đối trong một nước. Ngược lại nghèo tương đối sẽ tăng lên khi một người
không nghèo có thể tăng được thu nhập ngay cả khi những người có thu nhập khác
vẫn không có thay đổi. Người ta còn phê bình là ranh giới nghèo trộn lẫn vấn đề
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng Lớp KTNN & PTNT K49
18
Chuyên đề thực tập GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
nghèo với vấn đề phân bố thu nhập. Vì một sự phân chia rõ ràng giữa nghèo và giàu
trên thực tế không có nên khái niệm ranh giới nguy cơ nghèo cũng hay được dùng
cho ranh giới nghèo tương đối.
Ngược với ranh giới nghèo tương đối, các phương án tính toán ranh giới
nghèo tuyệt đối đã đứng vững. Các ranh giới nghèo tuyệt đối được tính toán một
cách phức tạp bằng cách lập ra những giỏ hàng cần phải có để có thể tham gia vào
cuộc sống xã hội.
Các ranh giới nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối đều không có thể xác định
được nếu như không có trị số tiêu chuẩn cho trước. Việc chọn lựa một con số phần
trăm nhất định từ thu nhập trung bình và ngay cả việc xác định một giỏ hàng đều
không thể nào có thể được giải thích bằng các giá trị tự do. Vì thế mà chúng được
quyết định qua những quá trình chính trị.
1.3.4 Định nghĩa theo tình trạng sống
Cái gọi là định nghĩa tình trạng sống lưu ý đến những khía cạnh khác ngoài
thu nhập khi định nghĩa "nghèo con người", thí dụ như cơ hội đào tạo, mức sống,
quyền tự quyết định, ổn định về luật lệ, khả năng ảnh hưởng đến những quyết định

kể những công việc ấy có thích hợp với họ hay không, ngay cả trong môi trường
mất an toàn lao động, thiếu thiết bị bảo hộ lao động, không được sự hỗ trợ từ phái
người sử dụng lao động.
Lao động ít chuyên sâu: Hầu hết lao động trong cộng đồng người nghèo hoạt
động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, ngành mà có nhiều laoij công việc mang
tính chất khác nhau. Một lao động có thể làm được nhiều việc và nhiều lao động có
thể làm cùng một việc. Chính vì vây, lao động trong lĩnh vực này ít được chuyên
sâu, công việc lao động phổ thông, lao động ít được đào tạo, chủ yếu sản xuất bằng
kinh nghiệm là chính. Vì thế, hiệu quả lao động thấp, khó khăn trong việc chuyển
giao khao học kỹ thuật.
Hoạt động sản xuất nông nghiệp diến ra trên phạm vi không gian rộng lớn,
chu kỳ sản xuất kéo dài lại phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, các dịch
vụ sản xuất và yếu tố thị trường. Do đó, rủi ro đến với người lao động trong lĩnh
vực này có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Việc làm trong nông nghiệp nông thôn thường là những công việc giải đơn,
thủ công, ít đòi hỏi tay nghề cao, tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai và tư liệu thô sơ,
dễ học hỏi, dễ chia sẻ. Vì vậy, lao động có thể làm được nhiều việc, nhưng sản
phẩm lamg ra chất lượng thấp, mẫu mã còn đơn điệu, tính đồng đều chưa cao, năng
suất lao động thấp đẫ đến thu nhập thấp.
Thị trường sức lao động ở nông thôn đã có từ lâu nhưng kém phát triển. Hình
thức trao đổi sức lao động diễn ra tự phát theo quan hệ truyền thống cộng đồng, thiếu
một cơ chế thống nhất và không được pháp chế hóa, thông tin việc làm chỉ thực hiện
trao đổi miệng với nhau, hợp đồng lao động chủ yếu được thực hiện bằng miệng. Vì
vậy, giá trị ngày công lao động thường được đánh giá theo thỏa thuận dân sự, trực
tiếp. Quan hệ thuê mướn lao động dựa trên mối quan hệ thân quen là chủ yếu.
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng Lớp KTNN & PTNT K49
20
Chuyên đề thực tập GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
Các đặc điểm trên có ảnh hưởng đến chủ trương, chính sách hỗ trợ người
nghèo tìm việc và định hướng phát triển thị trường lao động nông thôn, tạo điều

tiên tiến, đấy là nhờ vào coi trọng giáo dục đào tạo.
Song song với việc định hướng nghề nghiệp, đào tạo nâng cao chất lượng lao
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng Lớp KTNN & PTNT K49
21
Chuyên đề thực tập GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
động, việc hoàn thiện cơ chế chính sách phát triển thị trường lao động và thông tin
thị trường lao động của được Chính phủ nước này đặc biệt quan tâm.
1.4.1.2. Trung Quốc
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng.
Cải cách mở cửa của Trung Quốc và công cuộc đổi mới của Việt Nam đều bắt đầu
từ nông thôn. Với hơn 1,3 tỷ dân, gần 800 triệu người sống ở nông thôn.
Về việc thực hiện những chính sách nhằm giải quyết hiệu quả vấn đề “ tam
nông”, Chính phủ đã triển khai các chính sách như: Giảm phần lớn những khoản
thuế thu cho dân. Đầu những năm cải cách mở cửa, nộp thuế là một gánh nặng đối
với nông dân Trung Quốc. Nhưng hiện nay nông dân vừa được miễn thuế, vừa được
chính phủ hỗ trợ, như hỗ trợ lương thực, hỗ trợ phân bón trong trồng trọt, hoặc hỗ trợ
kỹ thuật khi trồng thử nghiệm….; chính sách giải quyết việc làm, giải quyết khó khăn
cuộc sống hàng ngày cho nông dân; phát triển giáo dục nghĩa vụ ở nông thôn, trình độ
học vấn được nâng cao. Trẻ em ở nông thôn hiện nay đều được miễn học phí.
Chính phủ Trung Quốc rất coi trọng đầu tư cho khoa học - kỹ thuật. Đầu tư
cho khoa học – kỹ thuật đặc biệt chú trọng đến kỹ thuật trong nông nghiệp, công
nghệ phát triển, nghiên cứu ruộng đất Gắn chặt đầu tư với các chương trình tuyên
truyền hướng dẫn và trao đổi kỹ thuật, nhằm thúc đẩy ứng dụng. Ngoài ra, Chính
phủ còn xây dựng hệ thống thông tin công cộng nhằm cung cấp miễn phí thông tin
thị trường cho nông dân. Nông dân có thể thông qua hệ thống này tự tìm thị trường
cho sản phẩm của mình.
Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp trong nông thôn Trung Quốc đang rất cao (khoảng
78 triệu trong số 1,3 tỷ lao động nông thôn), lao động nông thôn làm việc trong các
doanh nghiệp phần lớn đều trở về quê hương, vì nhu cầu tiêu dùng giảm mạnh
khiến các doanh nghiệp đứng trên bờ vực phá sản hoặc cắt giảm nhân công. Nhưng

trường.
• Thứ năm, sắp xếp lại các Trung tâm đào tạo và giới thiệu việc làm nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động của các Trung tâm, nâng cao chất lượng phục vụ.
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng Lớp KTNN & PTNT K49
23
Chuyên đề thực tập GVHD: GS.TS Hoàng Ngọc Việt
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN
THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG CHO NGƯỜI NGHÈO
Ở HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN
2.1. Đặc điểm của địa bàn huyện Con Cuông
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lí
Hình 2.1. Bản đồ hành chính huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
Huyện Con Cuông nằm ở phía tây nam của tỉnh Nghệ An, cách Thành phố
Vinh 130 km về phía Đông Nam, có tọa độ địa lý từ 18
0
46’30” đến 19
0
23’42” vĩ độ
Bắc; từ 104
0
31’57” đến 105
0
30’80” kinh độ Đông, vị trí của huyện tiếp giáp với các
huyện sau:
- Phía Đông Bắc giáp 2 huyện Quỳ Hợp và Tân Kỳ
- Phía Tây Bắc giáp huyện Tương Dương
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng Lớp KTNN & PTNT K49
24

0
C; số giờ nắng trung bình/năm là 1500- 1700 giờ.
+ Chế độ mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm từ 1200 - 2000 mm/ năm,
phân bổ cao dần từ Tây sang Đông và chia làm 2 mùa rõ rệt.
+ Chế độ gió: Có 2 mùa gió chính, gió mùa đông bắc xuất hiện từ tháng
11năm trước đến tháng 3 năm sau thường kèm theo mưa phùn, giá lạnh và có 1
hoặc 2 lần sương muối/ năm; gió Lào xuất hiện từ tháng tư đến tháng tám gây khô
nóng và hạn hán; huyện ít bị ảnh hưởng lốc cục bộ và mưa đá hàng năm.
2.1.1.4 Nguồn nước, thuỷ văn
Sông Cả, sông Giăng là hai con sông cung cấp nguồn nước chủ yếu cho sản
xuất, sinh hoạt của nhân dân; ngoài ra còn có một số con suối lớn như Khe Diêm,
Khe Chai, Khe Choăng, Khe Thơi, Khe Xì Vằng, Khe Khen Phèn, Khe Xan, Khe
Chôm Lôm, và nhiều suối nhỏ khác. Hệ thống sông suối đa dạng, địa hình phức tạp
SVTH: Đặng Thị Thúy Hằng Lớp KTNN & PTNT K49
25

Trích đoạn Trình độ của người lao động còn thấp Hệ thống thông tin thị trường chưa đồng bộ Từ phía các cơ quan chức năng 1 Các trung tâm và trường dạy nghề Hoạt động giới thiệu việc làm của các cơ quan chức năng kém hiệu quả Phương hướng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status