TÓM LƯỢC
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay, hoạt động tín
dụng đóng vai trò hết sức quan trọng. Thực hiện tốt các vấn đề liên quan đến hoạt
động tín dụng, đặc biệt là giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng sẽ tạo lợi thế cho
nước ta trong việc thu hút đầu tư, tăng vốn cho nền kinh tế qua đó tạo tiền đề vững
chắc cho sự phát triển nền kinh tế nước nhà. Chính vì vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra là
phải có một hành lang pháp lý vững chắc để điều chỉnh vấn đề giao kết và thực hiện
hợp đồng tín dụng.
Hiện nay mặc dù hệ thống pháp luật về hợp đồng Việt Nam đã có nhiều tiến bộ,
khá hoàn chỉnh và khá phù hợp với các tiêu chuẩn của các điều ước quốc tế liên quan
đến hợp đồng tín dụng mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia, tạo hành lang pháp lý an
toàn cho hoạt động tín dụng ở Việt Nam, song vẫn cần thiết phải tiếp tục được hoàn
thiện cả về nội dung và hình thức để bảo đảm hơn nữa tính thống nhất, đồng bộ, minh
bạch, công bằng khả thi, đầy đủ và hiệu quả của hệ thống pháp luật về hợp đồng tín
dụng Việt Nam, phù hợp hơn với thực tiễn ở Việt Nam cũng như phù hợp với tiêu
chuẩn quốc tế.
Trong khóa luận, tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu một số vấn đề cơ bản nhất của
pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng- một trong những vấn đề được
quan tâm nhất của pháp luật về hợp đồng tín dụng hiện nay- để góp phần nhỏ bé vào
việc hoàn thiện pháp luật.
1
LỜI CẢM ƠN
Để hiểu rõ hơn về vấn đề nghiên cứu, em đã có cơ hội thực tập tai: NGÂN
HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH PHỦ DIỄN.
Em xin gửi lời cám ơn tới các cán bộ, nhân viên trong công ty đã tạo điều kiện để em
thực tập, hoàn thành tốt nhất có thể khóa luận tốt nghiệp của mình.
Em cũng xin gửi lời cám ơn tới các Thầy, Cô giáo Khoa Kinh tế- Luật, Khoa và
Nhà trường đã tạo điều kiện để em có cơ hội thực tập, nghiên cứu chuyên sâu. Đặc
Diễn giải
1
BIDV
Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
2
BLDS
Bộ luật Dân Sự
3
HĐTD
Hợp đồng tín dụng
4
NHNN
Ngân hàng nhà nước
5
NĐ-CP
Tổ chức Thương Mại Thế giới
5
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài khóa luận
Ngày nay, cùng với sự vươn mình trỗi dậy của mình trên con đường hội nhập
nền kinh tế quốc tế, nền kinh tế Việt Nam đã gặt hái được những bước tiến đáng mừng
kể từ sau khi trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại quốc tế WTO. Sự
hội nhập này đã, đang và sẽ tạo ra cho các doanh nghiệp Việt Nam những cơ hội to lớn
để phát triển kinh doanh, mở rộng thị trường trong và ngoài nước. Song đứng trước
thời cơ, vận hội này cũng đặt ra không ít những thách thức cho các doanh nghiệp bởi
họ đang phải cạnh tranh gay gắt với nhau và với các doanh nghiệp nước ngoài. Ngân
hàng là một trong những lĩnh vực nhạy cảm chịu nhiều ảnh hưởng nhất.
Trong các hoạt động ngân hàng thì cho vay là hoạt động truyền thống mang lại
nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng nhưng cũng là hoạt động tiềm ẩn những rủi ro
vô cùng to lớn, thậm chí có thể gây sụp đổ hệ thống ngân hàng tác động nghiêm trọng
đến nền kinh tế đất nước. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế đang diễn ra sâu rộng ở Việt
Nam thì nguy cơ rủi ro tín dụng ngày càng cao. Hơn nữa, cuộc khủng hoảng tín dụng ở
Mỹ, một số nước Châu Âu, Nhật Bản... là một bài học đắt giá cho Việt Nam trong việc
nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng, kiểm soát rủi ro. Điều đó đã và đang đặt ra cho
chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hơn nữa pháp luật về ngân hàng nói
chung và pháp luật về HĐTD nói riêng đặc biệt là về giao kết và thực hiện hợp đồng.
Những năm gần đây, pháp luật về ngân hàng nói chung và pháp luật về HĐTD
nói riêng đã được Nhà nước ta quan tâm và không ngừng hoàn thiện như: Bộ luật Dân
sự 2015, Luật Ngân hàng nhà nước, Luật các TCTD và nhiều văn bản hướng dẫn thi
hành. Những văn bản pháp luật trên đã tạo ra một khung pháp lý quan trọng, tạo đà
cho hoạt động cho vay của các ngân hàng phát triển, thực hiện chính sách tiền tệ quốc
một số vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật khi sử dụng các biện pháp bảo
đảm cho HĐTD.
- “Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng tín dụng và thời hiệu khởi kiện vụ án kinh tế về
tranh chấp hợp đồng tín dụng” – Hoàng Quỳnh Chi – Kiểm sát. Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, số 4/2002. Bài viết đã đề cập đến nhũng quy định của pháp luật về chủ
thể, đối tượng, vấn đề giao kết và thực hiện HĐTD, thời hiệu khởi kiện vụ án kinh tế
về tranh chấp HĐTD của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam.
- “Các biện pháp pháp lý bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng” – Phạm Văn Đàm –
Dân chủ và Pháp luật. Bộ Tư pháp, số 11/2011. Bài viết trình bày khái niệm, bản chất
và đặc điểm sự cần thiết phải áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện HĐTD. Đối
với các khoản tiền vay bằng tài sản: cầm cố, thế chấp, bảo lãnh... Trong trường hợp
cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: tổ chức, đoàn thể chính trị xã hội tại cơ sở
bằng uy tín của mình có thể bảo lãnh cho cá nhân và hộ gia đình nghèo vay một khoản
tiền nhỏ tại các ngân hàng và tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ.
- “Vận dụng quy định của pháp luật về lãi suất để giải quyết tranh chấp hợp đồng tín
dụng ngân hàng tại Tòa án” – Lương Khải An – Tạp chí Kiểm sát, số 12/2012. Bài
viết chỉ ra việc vận dụng các quy định về lãi suất quá hạn, lãi suất chậm thi hành án
vẫn còn những quan điểm khác nhau; bên cạnh đó, hướng dẫn của ngành Ngân hàng
còn chồng chéo với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; các
cơ quan liên ngành cũng chưa kịp thời phối kết hợp để cùng giải quyết vướng mắc nên
việc giải quyểt tranh chấp còn thiếu thống nhất, chưa thỏa đáng.
7
- “Bàn về chủ thể của luật dân sự qua quy định về bảo hiểm tiền gửi của cá nhân ở
các tổ chức tín dụng” – Đinh Dũng Sỹ – Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 02/2005.
Tác giả đã nêu lên cái nhìn tổng quát về các chủ thể được quy định còn chung chung,
chưa rõ ràng trong Bộ luật dân sự 2005 gây ra không ít khó khăn, phức tạp trong thực
tiễn điều chỉnh pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của các cá nhân ở các tổ chức tín dụng
8
và thực hiện HĐTD tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam - chi nhánh
Phủ Diễn.
Đồng thời, qua việc nghiên cứu thực trạng pháp luật pháp luật điều chỉnh
HĐTD, đề tài sẽ chỉ ra một số vấn đề bất cập còn tồn đọng. Từ đó, tác giả đề xuất một
số quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện HĐTD,
nâng cao hiệu quả và tính khả thi của việc áp dụng pháp luật về hoạt động tín dụng vào
thực tiễn tại Việt Nam.
• Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:
Thứ nhất là, nghiên cứu được một cách có hệ thống những vấn đề lý luận cơ
bản pháp luật về giao kết và thực hiện HĐTD.
Thứ hai là, phân tích được thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật
về giao kết và thực hiện HĐTD ở nước ta hiện nay, đặc biệt là tại Ngân hàng TMCP
Đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh Phủ Diễn.
Thứ ba là, đề xuất được một số giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý về
giao kết và thực hiện HĐTD đối để nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng ở nước
ta nói chung và Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh Phủ
Diễn nói riêng.
• Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Pháp luật về HĐTD ngân hàng có phạm vi nghiên cứu rất rộng, nội dung phức
tạp, bao hàm nhiều lĩnh vực pháp luật như dân sự, hành chính, hình sự… Do đó, để
nghiên cứu một cách toàn diện thì đòi hỏi sự đầu tư nghiên cứu rất nhiều kiến thức có
liên quan đến nhiều ngành luật khác nhau. Vì vậy, với việc nghiên cứu dừng lại ở mức
đề tài khóa luận tốt nghiệp cấp trường, tác giả chỉ giới hạn phạm vi nội dung nghiên
cứu là pháp luật về HĐTD với hai nội dung chính là giao kết và thực hiện HĐTD tại
ngân hàng.
mục đích nghiên cứu. Thêm nữa để có cái nhìn toàn diện, khách quan, đa chiều hơn về
vấn đề nghiên cứu, tác giả cũng tiến hành nghiên cứu thông qua sách báo, tạp chí và
internet.
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu
của đề tài bao gồm:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh hợp đồng tín dụng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về hợp đồng tín dụng và thực tiễn thực
hiện tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Phủ Diễn.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng
tín dụng.
10
CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP
ĐỒNG TÍN DỤNG
1.1. Khái niệm và đặc trưng cơ bản của hợp đồng tín dụng
1.1.1. Định nghĩa hợp đồng tín dụng
Đã từ lâu pháp luật về hợp đồng chiếm một vị trí quan trọng trong pháp luật
Việt Nam, hầu hết các giao dịch trong xã hội, dù có mục đích kinh doanh hay nhằm
đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thông thường đều liên quan đến hợp đồng. Chính vì
vậy, các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 liên quan đến hợp đồng dân sự nói chung
chiếm một phần không nhỏ. Mục đích của pháp luật về hợp đồng nhằm bảo vệ quyền
tự do ý chí của các bên.
Hợp đồng hiểu theo nghĩa rộng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về một
vấn đề nhất định trong xã hội nhằm làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quyền
hay nghĩa vụ của các bên đó. Bộ luật Dân sự 2015 đã đưa ra khái niệm về hợp đồng
dân sự một cách khái quát như sau: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc
xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ đối với nhau.” (Điều 385, Bộ luật
nhưng vẫn trở thành bên thụ động.
Hợp đồng tín dụng có vai trò không nhỏ trong nền kinh tế lẫn hệ thống ngân
hàng, vì thế việc xây dựng chế định pháp lý chặt chẽ cho HĐTD là vấn đề không chỉ ở
Việt Nam mà còn được nhiều nước quan tâm.
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng mang khá đầy đủ bản chất của hợp đồng vay tài sản theo
quy định tại điều 463 BLDS 2015 “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các
bên, theo đó bên vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải trả cho
bên vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chi trả lãi nếu có thỏa
thuận hoặc pháp luật có quy định”. Ngoài ra, HĐTD còn có một số đặc trưng riêng
biệt sau:
Thứ nhất là, một bên chủ thể của HĐTD luôn là TCTD.
TCTD muốn thực hiện hoạt động cho vay phải hội đủ các điều kiện về thành
lập, vốn pháp định, có điều lệ được Ngân hàng Nhà nước chuẩn y và có đại diện hợp
pháp khi tham gia ký kết hợp đồng theo quy định của pháp luật. Những điều kiện trên
đây không những góp phần hạn chế, loại trừ những TCTD không đủ tiêu chuẩn kinh
doanh trên thị trường tài chính mà còn góp phần lành mạnh hóa các quan hệ tín dụng.
Ngoài ra, khi TCTD hội đủ các điều kiện trên sẽ góp phần bảo vệ lợi ích hợp pháp của
nhà đầu tư, là căn cứ để các thẩm phán, các trọng tài viên tiến hành thẩm định và đánh
giá vấn đề hiệu lực của HĐTD.
Để thực hiện hoạt động cho vay, TCTD phải tiến hành ký kết hợp đồng nhằm
xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Trong HĐTD, TCTD luôn tham gia ký kết với
tư cách là chủ thể cho vay nhằm phân phối lại nguồn vốn đã huy động từ tổ chức và cá
nhân khác trong xã hội. Với tư cách là chủ thể cho vay, TCTD phải thẩm định được
phương án vay vốn, tính hiệu quả của việc sử dụng vốn vay. Điều này là vô cùng cần
thiết vì nó có khả nẳng hoàn trả nợ vay của bên đi vay. Các TCTD tham gia vào quan
hệ tín dụng ngân hàng chủ yếu để thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ vào mục tiêu
lợi nhuận, trừ trường hợp các TCTD chính sách thực hiện hoạt động tín dụng vì mục
đích xã hội là chính.
Thứ hai là, HĐTD phải luôn được ký kết dưới hình thức văn bản.
Thứ ba là, đối tượng của HĐTD là vốn tiền tệ.
Vốn tiền tệ trong HĐTD có thể là tiền đồng Việt Nam, vàng hoặc ngoại tệ. Đối
tượng này có thể tồn tại ở vật hiện hữu là tiền mặt hoặc bút tệ. Đây là đặc điểm rất
quan trọng trong quan hệ cho vay đối với ngân hàng. Chính đặc điểm này đã giúp cho
hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của TCTD và trở thanh một hình
thức tín dụng phổ biến trong nền kinh tế thị trường. Từ vốn tiền tệ, bên đi vay họ có
thể thỏa mãn bất kì nhu cầu nào của họ kể cả số lượng vốn vay và mục đích vay vốn.
Cũng cần lưu ý rằng, bên cho vay là công ty cho thuê tài chính nhưng đối tượng của nó
là tài sản thì đây chính là quan hệ cho thuê tài chính (chứ không phải là hoạt động cho
13
vay theo quy định của pháp luật) và các bên phải ký hợp đồng thuê mua tài chính. Như
vậy, yếu tố đối tượng vốn tiền tệ là một đặc điểm không thể thiếu được của HĐTD.
Thứ tư là, HĐTD luôn nhằm mục đích sinh lợi.
Tính chất sinh lợi của HĐTD luôn được biểu hiện qua tỷ số chênh lệch giữa lãi
suất cho vay và lãi suất huy động vốn của TCTD. Lãi suất cho vay luôn cao hơn lãi
suất huy động vốn và sự chênh lệch này luôn phụ thuộc vào cung cầu về vốn trên thị
trường tùy thuộc vào từng thời điểm cụ thể, hiện nay mức lãi suất trong HĐTD ngân
hàng do các bên thỏa thuận. Ngân hàng hoạt động theo các quy định của Luật các tổ
chức tín dụng và các quy định của pháp luật có liên quan nên mục đích tìm kiếm lợi
nhuận không chỉ là điều tất yếu mà còn là động lực giúp TCTD duy trì hoạt động kinh
doanh của mình. Khách hàng càng nhiều, hợp đồng càng tăng thì lợi nhuận của TCTD
càng sinh sôi, phát triển. Vì vậy, vận mệnh của TCTD luôn gắn với khả năng tạo ra giá
trị thặng dư của đồng tiền thông qua việc huy động vốn và kí kết HĐTD. Trong trường
hợp này, trừ trường hợp các ngân hàng chính sách thực hiện hoạt động tín dụng vì mục
đích xã hội là chính.
Thứ năm là, HĐTD có độ rủi ro cao.
Tính rủi ro của HĐTD xuất phát từ đặc thù của nó, theo đó bên cho vay chỉ có
• Căn cứ vào thời hạn vay vốn có:
- HĐTD ngắn hạn: là loại hợp đồng được ký kết giữa TCTD và khách hàng mà có thời
hạn vay vốn dưới một năm.
- HĐTD trung hạn: là loại hợp đồng được ký kết giữa TCTD và khách hàng mà có thời
hạn vay vốn từ 12 tháng đến 60 tháng (khoản 2 Điều 8 Quyết định 1627/2001/QĐNHNN về quy chế cho vay).
- HĐTD dài hạn: là loại hợp đồng được ký kết giữa TCTD và khách hàng mà có thời
hạn vay vốn trên 60 tháng nhưng thời hạn này không được quá thời hạn hoạt dộng còn
lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân Việt Nam và
nước ngoài.
• Căn cứ vào mục đích vay vốn có:
- HĐTD có mục đích sản xuất kinh doanh, dịch vụ: là loại hợp đồng theo đó bên đi
vay vốn nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh, dịch vụ và thường có giá trị lớn.
- Hợp đồng có mục đích tiêu dùng, học tập: là loại HĐTD trong đó vốn được vay
nhằm giải quyết các nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng hoặc mục đích học tập và thường có
giá tị nhỏ.
• Căn cứ vào mức độ đảm bảo khoản vay có:
- HĐTD có bảo đảm bằng tài sản: là loại hợp đồng mà trong đó các khoản vay được
đảm bảo bằng tài sản của bên đi vay hoặc tài sản của bên thứ ba trả nợ thay. Trên thực
tế thì phần lớn các hợp đồng tồn tại dưới dạng này bởi lẽ bảo toàn vốn vay là một
trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của TCTD.
- HĐTD không có bảo đảm bằng tài sản: là loại hợp dồng tín dụng mà trong đó các
khoản vay của khách hàng không được đảm bảo trả nợ bằng bất kỳ một tài sản nào
hoặc bất kỳ một sự bảo đảm trả nợ nào của bên thứ ba.
Với sự phát triển của nền kinh tế thì trường, với xu thế hội nhập quốc tế thì
HĐTD ngân hàng có thể sẽ còn được chia làm nhiều loại khác nhau. Do đó, sự phân
loại HĐTD ngân hàng trên chỉ mang tính tương đối.
15
• Nguồn luật điều chỉnh HĐTD
HĐTD là một loại hợp đồng đặc thù không chỉ mang đặc trưng của hợp đồng
dân sự nói chung mà nội dung của nó còn phải phù hợp với những quy định về cho
vay tài sản. Những quy định của pháp luật điều chỉnh HĐTD được thể hiện cụ thể và
chi tiết trong các văn bản pháp luật sau:
16
Thứ nhất là, Bộ luật Dân sự 2015 được coi là luật gốc quy định các vấn đề
chung về hợp đồng, là nền tảng cho pháp luật về hợp đồng, điều chỉnh các quan hệ hợp
đồng được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách
nhiệm. Trên cơ sở các quy định chung về hợp đồng trong BLDS năm 2015, tuỳ vào
tính chất đặc thù của các mối quan hệ hoặc các giao dịch, các luật chuyên ngành có thể
có những quy định riêng về hợp đồng để điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vực đó,
ví dụ như các quy định về hợp đồng mua bán hàng hoá trong Luật thương mại, hợp
đồng bảo hiểm trong Luật kinh doanh bảo hiểm ...
Thứ hai là, Luật các TCTD năm 2010 quy định về việc thành lập, tổ chức, hoạt
động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể TCTD; việc thành lập, tổ chức, hoạt động
của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của TCTD nước ngoài, tổ
chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng.
Ngoài BLDS 2015 và Luật các TCTD 2010, các văn bản pháp luật hướng dẫn
thi hành HĐTD còn có:
- Nghị định 59/2009/NĐ-CP về Tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại.
- Nghị định 57/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 7 năm 2012 quy định về Chế độ tài chính
đối với TCTD, chi nhành ngân hàng nước ngoài.
- Nghị định số 53/2013/NĐ-CP của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của
Công ty Quản lý tài sản của TCTD.
- Nghị định 59/2009/NĐ-CP về Tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại.
- Nghị định 57/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 7 năm 2012 quy định về Chế độ tài chính
dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn khi phát hiện khách hàng
cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm HĐTD; khởi kiện khách hàng vi phạm HĐTD
hoặc khởi kiện bên thứ ba cầm cố, thế chấp, bảo lãnh theo quy định của pháp luật; khi
đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ, nếu các bên không có thoả thuận khác thì
ngân hàng có quyền bán tài sản bảo đảm tiền vay theo sự thoả thuận trong HĐTD và
hợp đồng bảo đảm tiền vay để thu nợ theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu người
thứ ba thực hiện nghĩa vụ cầm cố, thế chấp, bảo lãnh cho khách hàng vay vốn; miễn,
giảm lãi tiền vay theo quy định của ngân hàng; gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ theo
quy định; mua bán nợ, đảo nợ, khoanh nợ, xoá nợ và cơ cấu lại nợ theo quy định của
Chính phủ và hướng dẫn của NHNN Việt Nam.
Bên nhận đề nghị giao kết HĐTD có nghĩa vụ giải ngân cho bên vay theo đúng
thoả thuận trong HĐTD; thực hiện đúng các thoả thuận trong HĐTD; lưu giữ hồ sơ tín
dụng phù hợp với quy định của pháp luật. Trong số các nghĩa vụ của bên cho vay, thì
nghĩa vụ giải ngân là quan trọng nhất. Nếu nghĩa vụ này không được thực hiện, thì sẽ
không phát sinh quyền và nghĩa vụ khác của hai bên.
• Quyền và nghĩa vụ của bên đề nghị giao kết HĐTD
Bên đề nghị giao kết (bên đi vay) bao gồm 3 nhóm khách hàng:
- Pháp nhân: doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn(01
thành viên; từ 02-50 thành viên), công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức khác.
- Cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân.
- Cả pháp nhân và cá nhân nước ngoài.
Bên đề nghị giao kết hợp đồng (bên đi vay) phải thỏa mãn các điều kiện liên
quan đến năng lực chủ thể, mục đích sử dụng vốn vay, khả năng thanh toán khoản vay.
Về điều kiện năng lực chủ thể:
18
- Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân Việt Nam phải có năng lực pháp
vay, Luật các TCTD 2010 quy định, ngân hàng có trách nhiệm và có quyền kiểm tra,
giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của bên vay (khoản 3 Điều 94).
Về điều kiện khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết:
- Cơ sở xác định khả năng tài chính: báo cáo tài chính có kiểm toán, vốn tự có...
- Trách nhiệm cung cấp các thông tin về tình hình và năng lực tài chính.
19
Bên đề nghị giao kết có quyền từ chối các yêu cầu của ngân hàng không đúng
với các thoả thuận trong HĐTD; khiếu nại, khởi kiện việc vi phạm HĐTD của ngân
hàng theo quy định của pháp luật.
Bên đề nghị giao kết có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin, tài
liệu liên quan đến việc vay vốn đồng thời chịu trách nhiệm về tính chính xác và hợp
pháp của các thông tin, tài liệu cung cấp cho ngân hàng; sử dụng tiền vay đúng mục
đích, thực hiện đúng các nội dung đã thoả thuận trong HĐTD và các cam kết khác với
ngân hàng; trả nợ gốc và lãi vốn vay theo thoả thuận trong HĐTD; chịu trách nhiệm
trước pháp luật khi không thực hiện đúng những thoả thuận về việc trả nợ và thực hiện
các nghĩa vụ bảo đảm nợ vay đã cam kết trong HĐTD. Trong số các nghĩa vụ của bên
vay, thì nghĩa vụ trả nợ là quan trọng nhất. Nghĩa vụ này chỉ được miễn trừ nếu bên
cho vay đồng ý, còn lại thì sẽ không bao giờ được miễn trừ, kể cả xảy ra tình trạng bất
khả kháng.
Thứ hai là, nguyên tắc giao kết hợp đồng gồm đề nghị giao kết HĐTD và chấp
nhận đề nghị giao kết HĐTD
Đầu tiên, đề nghị giao kết HĐTD là việc một bên biểu hiện ý chí của mình
trước người khác bằng cách bày tỏ cho phía bên kia biết ý muốn tham gia giao kết với
người đó một HĐTD. Bên đề nghị phải đưa ra những điều khoản của hợp đồng một
cách cụ thể và rõ ràng. Việc đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện bằng nhiều cách
khác nhau. Người đề nghị có thể trực tiếp (đối mặt) với người được đề nghị trao đổi,
thỏa thuận hoặc có thể thông qua điện thoại. Ngoài ra, đề nghị giao kết còn có hể được
• Về thực hiện lãi suất trong HĐTD
Lãi suất trong HĐTD là tỉ lệ nhất định mà bên vay phải trả thêm vào số tiền đã
vay tính theo đơn vị thời gian. Lãi suất thường được tính theo tuần, tháng hoặc năm do
các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định.
Lãi suất được áp dụng trong HĐTD theo hai phương thức cơ bản là lãi suất cố
định và lãi suất thay đổi (hay còn được gọi là lãi suất thả nổi). Nếu các bên thoả thuận
áp dụng lãi suất cố định, thì lãi suất sẽ không thay đổi trong suốt thời hạn vay, bất kể
lãi suất thị trường có tăng lên hay giảm xuống. Nếu các bên thoả thuận áp dụng lãi suất
thay đổi thì sẽ điều chỉnh lãi suất lên, xuống dựa vào lãi suất thị trường. Tuy nhiên với
tình hình nền kinh tế lạm phát như hiện nay, chỉ số tiều dùng thường lên xuống thất
thường, lãi suất ngân hàng thường bị động trước những biến đổi ấy. Vì vậy, hầu hết
các TCTD đều áp dụng quy định một lãi suất biến đổi theo từng thời kỳ. Trong thời
gian vừa qua, trước sự phát triển nhanh của nền kinh tế, nhu cầu vốn cũng theo đó mà
càng tăng lên. Các TCTD thường tiến hành hàng loạt các biện pháp để thu hút vốn. Từ
đó diễn ra cuộc chạy đua tăng lãi suất huy động vốn giữa các TCTD, đặc biệt là giữa
các ngân hàng thương mại.
BLDS 2015 quy định lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được
vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay (khoản 1 Điều 468). Trường hợp ngân hàng cho
vay từ trên 20%/năm lãi suất cơ bản của khoản là vi phạm điều cấm của pháp luật. Nếu
tranh chấp đưa ra Toà án xét xử, thì phần lãi suất vượt quá 20%/năm lãi suất cơ bản sẽ
không được công nhận. Ngoài ra, thì chưa có chế tài xử lý đối với loại vi phạm này.
Nghị định số 202/2004/NĐ-CP ngày 10-12-2004 của Chính phủ về Xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng không có quy định về việc
xử phát đối với việc cho vay vượt quá trần lãi suất.
21
• Về thực hiện HĐTD khi có thỏa thuận phạt vi phạm
chỉ có thể là đối tượng của cầm cố như thẻ tiết kiệm, cổ phiếu, trái phiếu, giấy tờ có
giá khác.
Trong số các điều kiện đối với tài sản bảo đảm, đặc biệt cần lưu ý khách hàng
phải có quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản đó. Đối với tài sản có giá trị lớn, có thể
đưa ra bảo đảm cho nhiều khoản vay ở các ngân hàng khác nhau, tuy nhiên trong
22
trường hợp này, các bên nhận bảo đảm (các TCTD) phải đăng ký giao dịch bảo đảm và
phải cử ra một TCTD làm đầu mối giữ các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản
bảo đảm nói trên.
• Về xử lý tài sản bảo đảm
Hiện nay có hai phương thức xử lý tài sản bảo đảm sau: do các bên thoả thuận
và bán đấu giá. Việc thoả thuận của các bên cũng có thể xảy ra theo các cách thức (tự
bán, hoặc uỷ quyền cho người thứ ba bán), bên bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm,
bên bảo đảm nhận tiền hoặc tài sản (trường hợp thế chấp quyền đòi nợ); phương thức
khác do các bên thỏa thuận. Vấn đề là sự thoả thuận của các bên được xác định tại thời
điểm nào: thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm hay thời điểm xử lý tài sản bảo đảm?
Trường hợp một tài sản dùng để bảo đảm nhiều nghĩa vụ trả nợ và phương thức xử lý
tài sản được thoả thuận khác nhau thì vấn đề lại trở nên phức tạp.
- Bảo đảm tiền vay bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay bảo hoặc
bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Điều kiện của tài sản dụng để bảo đảm này là: tài
sản phải thuộc sở hữu hoặc quyền sử dụng, quản lý của khách hàng vay, bên bảo lãnh
và tài sản phải được phép giao dịch.
- Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay: Tài sản hình thành từ
vốn vay được hiển là tài sản của khách hàng vay mà giá trị tài sản được tạo nên bởi
một phần hoặc toàn bộ khoản vay của TCTD. Tức là tài sản này sẽ được hình thành
trong tương lai, theo đó tài sản này thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa
vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết.
cho các bên.
Nguyên tắc này đòi hỏi các bên phải chấp hành đúng, đầy đủ và trung thực các
điều khoản đã cam kết trong HĐTD; đồng thời cho phép mỗi bên có quyền yêu cầu
bên kia thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của họ. Các bên phải thực hiện đầy đủ các nghĩa
vụ phát sinh từ quan hệ HĐTD. Nó đòi hỏi các bên phải hợp tác chặt chẽ với nhau
trong quá trình thực hiện nghĩa vụ. Các bên hợp tác với nhau để tương trợ, giúp đỡ lẫn
nhau để thực hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh những điều khoản của HĐTD, để đáp ứng
nhu cầu và bảo đảm lợi ích cho các bên trong quan hệ nghĩa vụ. Nếu thấy HĐTD có
thể bị vi phạm phải kịp thời thông báo cho nhau biết để hạn chế thiệt hại có thể xảy ra
hoặc khi đã có vi phạm hợp đồng, phải tìm mọi cách để hạn chế thiệt hại. Nếu bên nào
có điều kiện mà không thực hiện các biện pháp ngăn chặn sẽ bị coi là có lỗi và phải
gánh chịu thiệt hại.
1.3.4. Nguyên tắc đảm bảo sự an toàn cho vốn vay cho tổ chức tín dụng
Khi tham gia quan hệ hợp đồng các bên phải trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản
với nhau. Các bên có thể dùng tài sản của mình để cầm cố, thế chấp hoặc nhờ nguời
khác bảo lãnh bằng tài sản để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng. Nguyên tắc này có ý
nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo lợi ích kinh tế của các bên trong quan hệ hợp
đồng.
Vốn vay phải luôn được giá trị vật tư, hàng hóa tương đương làm bảo đảm dựa
trên cơ sở yêu cầu của quy luật lưu thông và trong phạm vi của cả nền kinh tế trong
từng thời điểm cụ thể, khối luợng tiền tệ trong lưu thông phải tương ứng với giá trị
khối lựợng hàng hóa trong lưu thông. Nó đòi hỏi khi vay vốn tổ chức tín dụng, phải có
một khối luợng vật tư, hàng hóa tương đương thuộc sở hữu của khách hàng để làm bảo
đảm bảo cho vốn vay. Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo sử dụng
24
vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong HĐTD tránh tình trạng đầu tư sai mục
đích, thất thoát và lãng phí vốn.