MỤC LỤC
1
MỞ ĐẦU
Thực hiện chính sách ngoại giao “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng
thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác, Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy
của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc
tế và khu vực”, hiện nay Việt Nam đang tích cực tham gia đàm phán nhiều hiệp định
thương định thương mại tự do, trong đó có Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái
Bình Dương (TPP), không chỉ là môt hiệp định thương mại tự do khu vực siêu lớn,
bao trùm gần 40% GDP và 30% thương mại toàn cầu, mà còn được xem là khuôn
mẫu liên kết kinh tế của thế kỷ XXI.
Việc đàm phán và đi đến ký kết Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương
chắc chắn sẽ tạo ra những ảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh tế trong nước cả tích cực
lẫn tiêu cực, trong đó cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng mạnh
nhất và cũng là bộ phân quyết định thành công của quá trình hội nhập này.
Vì vậy tôi chọn nghiên cứu đề tài “Doanh nghiệp Việt Nam trước ngưỡng cửa Hiệp
định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương” để xác định rõ những cơ hội, thách
thức của các doanh nghiệp Việt Nam khi hiệp định được ký kết, từ đó có được những
hành động cụ thể để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, chủ động đón đầu
hiệp định quan trọng này.
2
NỘI DUNG
1. Tổng quan về Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Một số khái niệm:
- Hiệp định thương mại tự do (FTA) là một hiệp ước thương mại giữa hai hoặc nhiều
tham gia đàm phán lên thành 12 nước.
1.1.2 Các vấn đề được đàm phán trong TPP
Tháng 11/2011, một bản khung sơ bộ của đàm phán TPP được nguyên thủ 9 nước
thành viên công bố. Theo đó, Hiệp định TPP sẽ bao gồm những cam kết trong lĩnh
vực thương mại và phi thương mại.
Dưới đây là bảng tóm tắt các lĩnh vực và định hướng đàm phán tương ứng theo Bản
khung sơ bộ đàm phán TPP tháng 11/2011:
STT
Lĩnh vực
1
Cạnh trạnh
2
Hợp tác và Xây
dựng năng lực
3
Dịch vụ xuyên biên
giới
4
Hải quan
5
Thương mại điện tử
Dịch vụ tài chính
8
Mua sắm chính phủ
9
Sở hữu trí tuệ
10
Đầu tư
11
Lao động
12
Các vấn đề pháp lý
13
Thương mại hàng
hóa
- Nhấn mạnh việc bảo vệ môi trường và cơ chế giám sát
việc thực thi cũng như hợp tác hỗ trợ
Đang thảo luận về một số vấn đề mới như:
Phạm vi đàm phán:
- Bảo vệ các quyền của người lao động
- Cơ chế đảm bảo hợp tác, phối hợp và đối thoại về các
vấn đề lao động
Các nguyên tắc đảm bảo thực thi Hiệp định:
- Quy tắc giải quyết tranh chấp;
- Các ngoại lệ về vấn đề minh bạch trong quá trình ban
hành pháp luật nội địa
Phạm vi đàm phán
- Lộ trình cắt bỏ thuế quan của tất cả các dòng thuế
- Quy tắc xuất xứ
5
14
Thương mại dịch vụ
- TBT, SPS và Phòng vệ thương mại: Dựa trên nền của
WTO (phát triển theo hướng minh bạch hơn và hợp tác
hơn)
- Dệt may: Một loạt các quy định liên quan, bao gồm cơ
chế hợp tác hải quan, thủ tục thực thi, quy tắc xuất xứ, cơ
chế đàm phán đặc biệt
Các nguyên tắc cơ bản:
- Mở cửa tất cả các ngành dịch vụ (không đề cập đến
cấp độ “phân ngành”);
- Phương pháp đàm phán: Chọn bỏ + Cho phép đàm
phán các ngoại lệ trong một số lĩnh vực
hưởng nó mang lại.
Về phạm vi, so với các hiệp định thương mại tự do song phương (BTA), khu vực
mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và trong WTO, TPP mở rộng hơn, cả về thương mại
hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ. Ngoài ra còn là các vấn đề phi
thương mại như mua sắm chính phủ, môi trường, lao động, công đoàn, hỗ trợ cho các
6
DN vừa và nhỏ... hướng tới mục tiêu là nhằm “tạo nên một hiệp định tiêu chuẩn cao,
phù hợp với thế kỷ 21” như lời công bố của Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ
(USTR). Với phạm vi rộng như vậy, hiệp định sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế
- xã hội của các nước thành viên.
Mặt khác, sự tham gia của nền kinh tế lớn nhất thế giới (Hoa Kỳ), vào một khu vực
có tốc độ phát triển thương mại cũng như tự do hóa thương mại thuộc bậc nhất thế
giới (châu Á – Thái Bình Dương), cùng các cam kết sâu rộng, sẽ làm thay đổi tương
lai trật tự thương mại toàn cầu. Thương mại dịch vụ giữa các nước TPP hiện chiếm
gần 1/3 tổng thương mại dịch vụ toàn cầu. TPP có thể mở đầu xu hướng mới trong
việc đàm phàn các hiệp định thương mại tự do, đó là xu hướng sâu, rộng và toàn
diện. Một số quy tắc mới về kinh tế hoặc liên quan đến kinh tế mà TPP đang phát
triển cũng có triển vọng sẽ thay thế những quy tắc hiện hành lỗi thời của WTO vốn
được thiết lập từ năm 1995.
2. Cơ hội và thách thức với doanh nghiệp Việt Nam
Theo Bộ Công thương, tham gia Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình
Dương - TPP, hiện có các thành viên chiếm tới 70% tổng kim ngạch xuất khẩu và
80% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam, sẽ tạo ra một cú hích mạnh với nền
kinh tế trong nước. GDP của Việt Nam sẽ tăng thêm khoảng 26.2 tỷ USD từ lúc ký
TPP (khoảng nửa đầu năm 2015) cho đến năm 2025 và nếu Nhật Bản tham gia con số
đó sẽ là 37.5 tỷ USD. Không những thế, Việt Nam còn có cơ hội thúc đẩy quá trình
tăng trưởng xuất khẩu, tăng cường thu hút FDI, tận dụng tốt hơn các cơ hội do quá
8
Đối với mặt hàng dệt may, năm 2013, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và nguyên phụ
liệu ngành dệt may vượt qua con số 20 tỷ USD, duy trì tốc độ tăng trưởng 18%.
Không chỉ tăng trưởng cao về tốc độ, xuất khẩu dệt may còn tăng trưởng mạnh tại các
thị trường trọng điểm như: Mỹ tăng 15%, Hàn Quốc tăng gần 30%. Tham gia kí kết
Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) có ý nghĩa quan
9
trọng với ngành dệt may, bởi bởi trong 12 quốc gia tham gia TPP gồm cả Việt Nam,
có tới hai thị trường lớn của ngành dệt may là Mỹ và Nhật: 43% kim ngạch xuất khẩu
dệt may của Việt Nam vào Mỹ, 12% vào Nhật và 4% vào các nước TPP còn lại. Như
vậy, có tới gần 60% kim ngạch xuất khẩu của dệt may Việt Nam được xuất khẩu vào
các nước trong khối TPP. Khi thuế suất giảm còn 0% chắc chắn sẽ tạo động lực mạnh
cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
Tương tự với mặt hàng da giày, năm 2012 Việt Nam xuất khẩu 7,2 tỉ USSD, trong đó
xuất khẩu sang Mỹ chiếm 31%. Nếu hiệp định TPP được ký kết, mặt hàng này cũng
được hưởng thuế suất 0% thay vì mức 12% hiện nay.
Các mặt hàng nông sản của nước ta cũng có cơ hội rất lớn khi tham gia TPP. Bình
thường, thị trường các nước khác tiến hành bảo hộ cho ngành nông nghiệp trong
nước khá mạnh. Nhưng khi TPP có hiệu lực, nông sản Việt nhiều cơ hội sẽ vượt qua
được yếu tố này, có khả năng đẩy lượng xuất khẩu tăng cao, đặc biệt là mặt hàng lúa
gạo, khi mà các nước xuất khẩu gạo lớn như Thái Lan, Ấn Độ... chưa gia nhập TPP.
Hiệp định TPP được nhận định sẽ là cú hích cho nhiều ngành xuất khẩu của Việt
Nam hiện nay, trong đó có những ngành xuất khẩu chủ lực như dệt may, da giày...
2.1.2 Cơ hội tiếp cận các thị trường lớn trong thương mại và đầu tư
Khi nước ta gia nhập TPP, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được tiếp cận với thị
trường thương mại, dịch vụ, đầu tư của các nước thành viên một cách thuận lợi, dễ
Mỹ là thị trường nhập khẩu lớn thứ 8 của Việt Nam, chiếm 4,1% tổng kim ngạch
nhập khẩu của Việt Nam. Trong các mặt hàng nhập khẩu từ Mỹ, có 10 mặt hàng đạt
kim ngạch trên 100 triệu USD, trong đó lớn nhất là máy vi tính, hàng điện tử và linh
kiện; máy móc, thiết bị và dụng cụ, phụ tùng; thức ăn gia súc; bông...
Từ đây chúng ta có thể thấy rằng, trong khi nền kinh tế trong nước chưa đáp ứng
được nhiều sản phẩm và nguồn nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành công nghiệp,
việc ký kết hiệp đinh TPP sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam mua được nhiều sản phẩm,
nguyên liệu với chi phí thấp, giảm chi phí sản xuất, từ đó nâng cao năng lực cạnh
tranh cho doanh nghiệp.
2.1.4 Lợi ích đến từ việc mở cửa thị trường mua sắm công
Mặc dù mức độ mở cửa thị trường mua sắm công trong khuôn khổ TPP hiện vẫn
trong quá trình đàm phán và chưa được xác định cụ thể. Xong nhiều khả năng các
nguyên tắc chính của mua sắm chính phủ trong TPP sẽ tương tự như Hiệp định Mua
sắm chính phủ (GAP) của WTO bao gồm: nguyên tắc đối xử tối huệ quốc nghĩa là
không phân biệt giữa các nhà thầu TPP với nhau và nguyên tắc đối xử quốc gia nghĩa
là dành cho nhà thầu đến từ các quốc gia TPP một sự đối xử tương tự như các nhà
thầu trong nước.
Trong 12 thành viên đàm phán TPP, mới chỉ một số quốc gia đã là thành viên của
Hiệp định Mua sắm chính phủ (GAP) của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), như
Mỹ, Canada, Singapore, Nhật Bản. Một số quốc gia như Chile, Việt Nam, Úc, đang
là quan sát viên còn New Zealand thì đang đàm phán tham gia.
Nếu ký kết TPP, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được tham gia đấu thầu công khai,
minh bạch trong thị trường trị giá hàng tỷ USD này. TPP vì thế có thể là một động
lực tốt để giải quyết những bất cập trong các hợp đồng mua sắm công và hoạt động
đấu thầu xuất phát từ tình trạng thiếu minh bạch, điều này rất có ý nghĩa với những
doanh nghiệp kinh doanh chân chính hiện nay
12
2.2 Thách thức
2.2.1 Nguy cơ mất khả năng cạnh tranh
Việc giảm mạnh thuế suất khi tham gia TPP sẽ gia tăng nhanh chóng các luồng hàng
nhập khẩu vào Việt Nam với chất lượng tốt, giá rẻ. Khi đó, doanh nghiệp Việt Nam
chắc chắn sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt với các thương hiệu ngoại, thị
phần sẽ bị co hẹp lại, thậm chí có nguy cơ mất thị phần, mất khả năng cạnh tranh
ngay trên sân nhà.
Nhóm hàng nông sản được xem là dễ bị tổn thương khi tham gia vào hiệp định
thương mại tự do sâu rộng như TPP. Theo cam kết TPP, Việt Nam phải loại bỏ 100%
dòng thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm nông nghiệp. Các nước thành viên TPP
cũng phải mở cửa cho nông sản Việt Nam. Tuy nhiên, với các quy ước kỹ thuật về vệ
sinh an toàn thực phẩm, dư lượng kháng sinh, nhãn mác bao gói...nhiều sản phẩm
nông sản của Việt Nam có thể sẽ không qua nổi. Vì vậy các doanh nghiệp nông sản
nhỏ rất khó tận dụng các lợi ích từ việc giảm thuế. Trong khi đó, ở thị trường trong
nước, các rào cản kỹ thuật như vậy chưa có, chưa cao hoặc thực hiện còn lỏng lẻo
nên khó bảo hộ được doanh nghiệp, nông dân. Hàng hóa các nước sẽ đổ vào Việt
Nam và nguy cơ mất thị phần nội địa không phải là quá xa vời.
Dịch vụ cũng là ngành chắc chắn sẽ chịu cạnh tranh khốc liệt khi nước ta ký kết TPP.
Hiện nay dịch vụ là mảng hoạt động thương mại mà mức độ mở cửa thị trường của
Việt Nam là hạn chế và dè dặt nhất. Hiệp định TPP sẽ làm thay đổi điều đó, ngành
dịch vụ trong nước sẽ cửa nhiều hơn, doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp bất lợi lớn khi
phải cạnh tranh với những nhà cung cấp có tiềm lực lớn, có kinh nghiệm lâu năm, có
ưu thế về dịch vụ trên thế giới (đặc biệt là các nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ).
Hơn nữa, TPP là một sân chơi bình đẳng, không có sự phân biệt giữa nước phát triển
và đang phát triển. Do đó, những nền kinh tế đi sau như Việt Nam sẽ gặp những bất
lợi không hề nhỏ để có thể cạnh tranh sòng phẳng với các doanh nghiệp đến từ các
nước phát triển như Mỹ, Canada, Australia...
14
15
Việc siết chặt hơn vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ khi tham gia hiệp đinh TPP sẽ
dẫn tới những khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam khi phải bỏ ra nhiều chi phí hơn
cho cùng một loại sản phẩm. Ví dụ, hệ thống máy tính của rất nhiều doanh nghiệp
hiện nay sử dụng hệ điều hành cũng như phần mềm không có bản quyền, khi tham
gia TPP, các doanh nghiệp phải bỏ chi phí khá lớn để mua bản quyền phần mềm. Dẫu
biết việc bảo hộ quyền sỡ hữu trí tuệ chặt chẽ sẽ giúp môi trường kinh doanh lành
mạnh hơn. Nhưng nếu thực hiện gần như lập tức và toàn bộ sẽ gây ra những khó khăn
cho doanh nghiệp Việt Nam.
2.2.4 Thách thức từ việc mở cửa thị trường mua sắm công
Việc đàm phán mở cửa thị trường mua sắm công là một vấn đề phức tạp do có sự
khác biệt giữa hai quan điểm:
Một là, mua sắm công là việc sử dụng tiền thuế của dân để mua sắm hàng hóa,
do đó cần ưu tiên mua hàng hóa trong nước
Hai là, mua sắm công cần mua được sản phẩm tốt với giá tốt để không lãng phí
tiền thuế của dân, do đó cần mở cửa cho các nhà thầu nước ngoài.
Dù vẫn chưa ngũ ngã nhưng với TPP gần như chắc chắn thị trường mua sắm công sẽ
được mở cửa. Tuy nhiên, bên cạnh lợi ích có một sân chơi công bằng, minh bạch, các
doanh nghiệp Việt Nam cũng chịu những tác động bất lợi do sự thâm nhập của các
nhà thầu nước ngoài có thể khiến cho các nhà thầu trong nước không cạnh tranh nổi.
Việc tiếp cận các gói thầu và thắng thầu mua sắm công ở các nước thành viên TPP
cũng rất khó do sự hạn chế về năng lực cạnh tranh.
Trong sân chơi TPP, nơi mà cạnh tranh được dự báo rất gay gắt thì nâng cao năng lực
cạnh trạnh là yếu tố quan trọng nhất để các doanh nghiệp Việt Nam có thể hội nhập
thành công, đủ sức đứng vững ở thị trường trong nước và phát triển ở thị trường nước
ngoài.
Để làm được điều đó, các doanh nghiệp Việt Nam nên thực hiện một số giải pháp
sau:
17
Thứ nhất, cần nâng cao năng lực quản lý điều hành, trình độ tổ chức quản trị kinh
doanh của các doanh nghiệp đáp ứng đòi hỏi của cơ chế thị trường.
Thứ hai, xây dựng chiến lược nghiên cứu khoa học công nghệ, phát triển sản
phẩm mới, khắc phục tình trạng chất lượng sản phẩm thấp, không ổn định và giá
thành cao, khiến cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc lựa chọn mặt hàng
kinh doanh và cạnh tranh bằng giá.
Thứ ba, đầu tư nhiều hơn cho việc xây dựng chiến lược sản phẩm để đáp ứng nhu
cầu của thị trường, tạo ra những sản phẩm đặc thù, có kiểu dáng, tính năng riêng
biệt đáp ứng những nhu cầu mới của khách hàng.
3.3 Chủ động chấp nhận và thực thi những quy định về môi trường, lao động và
sở hữu trí tuệ
Những yêu cầu về bảo vệ môi trường, bảo vệ lao động, bảo hộ sở hữu trí tuệ là những
điều tất yếu để xây dựng một thị trường cạnh tranh minh bạch, hiệu quả và phát triển
bền vững. Vì thế dù có muốn hay không thì trong tương lai gần các doanh nghiệp
Việt Nam đều phải đảm bảo những yêu cầu đó.
Khi TPP được ký kết, các tiêu chuẩn về lao động, môi trường và sở hữu trí tuệ gần
như ngay lập tức được áp dụng. Thay vì để phải thực hiện ngay và toàn bộ, có thể ảnh
hưởng xấu đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp nên chủ động xây
dựng lộ trình đáp ứng các tiêu chuẩn càng sớm càng tốt, phù hợp với xu thế của thời
đại.
3.4 Cộng đồng doanh nghiệp cần có tiếng nói riêng
Việc kí kết Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương hay bất cứ
hiệp định thương mại tự do nào khác đều ảnh hưởng lớn tới cộng đồng doanh nghiệp
Việt Nam. Do vậy, cộng đồng doanh nghiệp cần có tiếng nói của mình, thông qua các
hiệp hội thương mại, các cơ quan chính phủ để góp ý, kiến nghị với Chính phủ những
điều kiện khi đàm phán nhằm tránh bị thua thiệt, bảo vệ lợi ích của mình cũng như
bảo vệ nền kinh tế trong nước trước tác động sâu rộng của việc hội nhập.
19
KẾT LUẬN
Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) đem lại cả những cơ hội và
khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và cộng đồng doanh nghiệp nói riêng.
Đối với các doanh nghiệp, về lợi ích, chúng ta có lợi ích về thuế quan; lợi ích tiếp cận
thị trường; có thể nhập khẩu nguyên liệu với chi phí thấp; lợi ích từ việc mở cửa thị
trường mua sắm công; lợi ích từ việc thay đổi cải cách chính sách, thể chế; lợi ích từ
việc thực thi các tiêu chuẩn về lao động, môi trường.
Về thách thức, chúng ta phải đối mặt với nguy cơ mất thị phần, mất khả năng cạnh
2012
Giáo trình Quan hệ Kinh tế quốc tế, NXB Giáo dục Việt Nam, năm 2009
Tạp chí Phát triển & Hội nhập số 14, tháng 01 - 02/2014
Trang web WTO và các vấn đề về hội nhập kinh tế quốc tế, Đàm phán Hiệp
định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP), truy cập ngày
7/12/2014, />Trang web Bộ Ngoại giao Việt Nam, Giới thiệu chung về Hiệp định TPP, truy
cập ngày 8/12/2014,
/>0923115344
Bình Định Invest, Doanh nghiệp Việt Nam phải làm gì khi tham gia TPP?, truy
cập ngày 9/12/2014, />idTin=1649&idLoaitin=7
Cao Sỹ Kiêm, Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nước ta sau khi
gia nhập tổ chức thương mại thế giới,truy cập ngày 11/12/2014,
/>co_id=30568&cn_id=149988
22