HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC THƯƠNG MẠI XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT NAM - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

TIỂU LUẬN KINH TẾ QUỐC TẾ 2
HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC THƯƠNG MẠI XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP)
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:

Hà Nội, 04/2014

MỤC LỤC


Tiểu luận Kinh tế quốc tế 2

Hiệp định đối tác Thương Mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
2


Tiểu luận Kinh tế quốc tế 2

MỞ ĐẦU
Nếu như việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 được xem
như là bước hội nhập theo chiều rộng của Việt Nam vào kinh tế thế giới, thì việc ký kết
các thỏa thuận thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam với các đối tác là hình thức hội
nhập theo chiều sâu với các cam kết mạnh mẽ hơn, ở nhiều lĩnh vực hơn và do đó mức độ
tác động tới tương lai của nền kinh tế, cũng như của mỗi ngành cũng lớn hơn và phức tạp
hơn. Chính vì vậy, việc đàm phán để gia nhập Hiệp định Hợp tác Kinh tế chiến lược
xuyên Thái Bình Dương (TPP) của Việt Nam trong thời gian qua là vấn đề nhận được sự

Strategic Partnership Agreement – còn gọi là P4) – một Hiệp định thương mại tự
do được ký kết ngày 3/6/2005, có hiệu lực từ 28/5/2006 giữa 4 nước Singapore,

-

Chile, New Zealand và Brunei.
Năm 2007, các nước thành viên P4 quyết định mở rộng phạm vi đàm phán của
Hiệp định này ra các vấn đề dịch vụ tài chính và đầu tư và trao đổi với Mỹ về khả
năng nước này tham gia vào đàm phán mở rộng của P4. Phía Mỹ cũng bắt đầu tiến
hành nghiên cứu vấn đề, tham vấn nội bộ với các nhóm lợi ích và Nghị viện về

-

vấn đề này.
Tháng 9/2008, USTR thông báo quyết định của Mỹ tham gia đàm phán P4 mở
rộng và chính thức tham gia một số cuộc thảo luận về mở cửa thị trường dịch vụ
tài chính với các nước P4. Tháng 11/2008, các nước Úc, Peru và Việt Nam cũng
bày tỏ sự quan tâm và tham gia đàm phán TPP, nâng tổng số thành viên tham gia
lên 8 nước ( trừ Việt Nam đến 13/11/2010 mới tuyên bố tham gia đàm phán với tư
cách thành viên đầy đủ, các nước khác quyết định tham gia chính thức ngay từ

Hiệp định đối tác Thương Mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
4


Tiểu luận Kinh tế quốc tế 2

đầu). Cũng từ thời điểm này, đàm phán mở rộng P4 được đặt tên lại là đàm phán
-

9.512,1

313,9

14.991

2.094

2.662

2. Nhật Bản

377,5

127,6

5.867

893

947

3. Canada

11.633,3

34,9

1.736


7.333,3

22

1.379

294

273

7. Malaysia

329,5

20,9

288

264

218

8. Chile

756,5

17,4

249


5,6

0,4

16

12

3

12.Việt Nam

331,3 (8)

88,8 (4)

133 (11)

115 (8)

114

Cộng

33.831,3

781,8

26.389


tỷ USD, đứng thứ 7; Malaysia 10,20 tỷ USD, đứng thứ 8; Australia 1,38 tỷ USD, đứng
thứ 15. Chỉ với 5 đối tác này tổng lượng vốn FDI đăng ký đã đạt trên 80 tỷ USD, chiếm
khoảng 30% tổng lượng vốn FDI ở Việt Nam.

4, Nội dung đàm phán
Hiện hơn 20 nhóm đàm phán đã bước vào giai đoạn thảo luận thực chất trên cơ sở các
đề xuất và văn bản thể hiện quan điểm của mỗi quốc gia thành viên trong từng lĩnh vực
cụ thể thuộc phạm vi của Hiệp định. Một số nhóm đã đạt được những tiến bộ nhất định
Hiệp định đối tác Thương Mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
6


Tiểu luận Kinh tế quốc tế 2

trong việc thu hẹp khoảng cách về quan điểm trong các lĩnh vực như mở cửa thị trường
đối với hàng công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, đầu tư,v.v...
Ngoài các nội dung đàm phán mang tính truyền thống trong các FTA trên, các quốc gia
thành viên còn tập trung thảo luận nhiều đề xuất và biện pháp để thúc đẩy hợp tác trong
các vấn đề liên quan tới hoạch định chính sách, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, phát
triển chuỗi cung cấp và sản xuất giữa các nước thành viên, nâng cao sự tham gia của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ vào quá trình lưu thông hàng hóa giữa các quốc gia thành viên
TPP, cũng như thúc đẩy sự phát triển chung của các quốc gia thành viên.

Với mục tiêu duy trì tính “mở” của Hiệp định TPP, tức là có cơ chế kết nạp thêm thành
viên mới trong tương lai và các bên có thể tiếp tục đàm phán những vấn đề phát sinh sau
khi Hiệp định có hiệu lực, các nhóm đàm phán cũng đang nỗ lực đưa ra nhiều đề xuất và
biện pháp liên quan để bảo đảm Hiệp định sẽ mang lại lợi ích nhiều nhất cho tất cả những
nước đang và sẽ tham gia Hiệp định.


- Công bằng
- Mở
- Minh bạch
- Thủ tục hải quan có thể dự đoán trước, minh bạch,
nhanh chóng và thuận lợi cho hoạt động thương mại
(hướng tới việc liên kết các doanh nghiệp TPP trong
chuỗi cung cấp và sản xuất khu vực)

Hiệp định đối tác Thương Mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
7


Tiểu luận Kinh tế quốc tế 2

5

Thương mại điện
tử

6

Môi trường

7

Dịch vụ tài chính

8


- Bảo tồn đa dạng sinh học
- Chống sinh vật ngoại lai
- Biến đổi khí hậu
- Các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ môi trường
- Minh bạch, không phân biệt đối xử
- Đối xử công bằng đối với các dịch vụ tài chính mới
- Bảo hộ đầu tư và cơ chế giải quyết tranh chấp
- Đảm bảo chủ quyền của các nước, đặc biệt trong
trường hợp có khủng hoảng tài chính
Những nguyên tắc cơ bản và thủ tục đấu thầu công:
- Công bằng
- Minh bạch
- Không phân biệt đối xử
- Dựa trên và phát triển tử TRIPS
- Phản ánh các cam kết đã nêu trong Tuyên bố Doha về
TRIPS và Y tế cộng đồng
Phạm vi vấn đề đàm phán:
- Không phân biệt đối xử
- Chuẩn đối xử tối thiểu
- Quy tắc về tịch thu tài sản
- Các quy định cấm các yêu cầu cụ thể về hoạt động
kinh doanh của nhà đầu tư
- Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước-nhà đầu
tư nhanh chóng, hiệu quả và minh bạch
- Quyền của nhà nước nhận đầu tư trong việc bảo vệ lợi
ích công cộng
Phạm vi đàm phán:
- Bảo vệ các quyền của người lao động
- Cơ chế đảm bảo hợp tác, phối hợp và đối thoại về các
vấn đề lao động

chết hợp tác hải quan, thủ tục thực thi, quy tắc xuất xứ,
cơ chế đàm phán đặc biệt.
Các nguyên tắc cơ bản:
- Mở cửa cho tất cả các ngành dịch vụ
- Phương pháp đàm phán: Chọn bỏ + Cho phép đàm
phán các ngoại lệ trong một số lĩnh vực.

*** TBT(Technical Barriers to Trade): Hàng rào kỹ thuật đối với Thương Mại
SPS ( Sanitary and Phytosanitary Measures): Biện pháp kiểm dịch động thực vật

Hiệp định đối tác Thương Mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
9


Tiểu luận Kinh tế quốc tế 2

II, Quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước TPP
Bảng A1 và hình A1 cho thấy trong năm 2010, giá trị thương mại với các nước TPP
chiếm khoảng 22.2% tổng kim ngạch thương mại hàng hóa toàn cầu của Việt Nam, trong
đó xuất khẩu chiếm 30%, nhập khẩu chiếm 16%. Tuy nhiên, cường độ thương mại của
Việt nam với các nước TPP không giống nhau. Đối tác thương mại chủ yếu của Việt nam
trong số các nước TPP là Hoa Kỳ, Úc và hai đối tác truyền thống trong ASEAN là
Singapore và Malaysia. Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam với các nước
này năm 2010 chiếm đến 97% tổng kim ngạch với các nước TPP.
Bảng A1. Trị giá xuất nhập khẩu củaViệt Nam với các nước TPP, 2010
Đơn vị: Trị giá 1.000 USD; Tỷ lệ: %

Brunei
Malaysia

0
0,00

Nhập khẩu
Tỷ lệ so với tổng
Trị giá
trị giá XNK với
thế giới
10006
0,01
3413392
4,03
4101144
4,84
291230
0,34
3766911
4,44
352967
0,42
1443641
1,70
68959
0,08

21387546

30

13448252


Về nhập khẩu (hình A3), các nước TPP cũng là thị trường nhập khẩu quan trọng
của Việt Nam. Năm 2010, trong tổng kim ngạch nhập khẩu từ TPP, nhập khẩu của Việt
Nam từ Singapore chiếm 30,5%, từ Hoa Kỳ chiếm 28%, từ Malaysia chiếm 25,3% và từ
Úc chiếm 10,7%. Những mặt hàng chủ yếu được nhập khẩu là máy móc thiết bị, dụng cụ,
phụ tùng, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, bông, nguyên phụ liệu dệt may, da
giày, sữa và các sản phẩm sữa…
Hình A2. Việt Nam xuất khẩu sang các nước TPP (%)

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2010)
Điểm đáng chú ý là TPP là một trong số ít khu vực tạo ra thặng dư thương mại cho
Việt Nam. Cụ thể, trong số các nước TPP, Việt Nam có thặng dư thương mại với 3 nước:
Hoa Kỳ, Úc và Brunei. Năm 2010, thặng dư thương mại củaViệt Nam sang Hoa Kỳ là
10,47 tỷ USD, chiếm 132% thặng dư của các nước TPP. Con số này với Úc là 1.26 tỷ
USD, chiếm 16%, và với Brunei là 4,2 triệu USD, chiếm 0,05%. Kết quả là tổng thặng dư
thương mại của 3 nước, đặc biệt là của Hoa Kỳ đã bù đắp toàn bộ thâm hụt thương mại
của Việt Nam với 5 nước TPP còn lại, làm cho cán cân thương mại của Việt Nam với khu
vực TPP là thặng dư
Hình A3. Việt Nam nhập khẩu từ các nước TPP (%)

Hiệp định đối tác Thương Mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
11


Tiểu luận Kinh tế quốc tế 2

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2010)

Hiệp định đối tác Thương Mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)

tính cạnh tranh với các nước, (đặc biệt là Trung Quốc) do những ưu đãi thuế quan dành
cho các quốc gia thành viên. Nhìn tổng thể khi Việt Nam đã tham gia khu vực thương mại
tự do, phần lớn hàng xuất khẩu đã và sẽ được hưởng thuế xuất nhập khẩu ưu đãi, thậm chí
tới 0%, mang lại lợi thế cạnh tranh lớn và triển vọng sáng sủa cho nhiều ngành hàng, đặc
Hiệp định đối tác Thương Mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
13


Tiểu luận Kinh tế quốc tế 2

biệt là dệt may, da giày, thủy sản, đồ gỗ là các ngành xuất khẩu quan trọng hiện nằm trong
nhóm 10 sản phẩm xuất khẩu chủ lực.
Ví dụ, TPP có thể sẽ giúp ngành dệt may Việt Nam tiếp cận thị trường Hoa Kỳ với mức
thuế suất 0% so với mức thuế trên 7% hiện nay và như vậy mức kim ngạch sang thị
trường này sẽ không dừng lại ở mức 5,2 tỷ đô như năm 2009; Kim ngạch ngành da giầy
sẽ không phải chỉ là trên 1,3 tỷ đô năm 2009 nếu TPP đạt mức thuế suất là 0% thay vì trên
12% như hiện nay. Theo nghiên cứu của các tổ chức kinh tế thế giới, việc gia nhập TPP sẽ
giúp GDP của Việt Nam tăng 46 tỷ USD, tức khoảng 13,6%. Ngoài ra, khi TPP được ký
kết, GDP của Việt Nam sẽ tăng thêm khoảng 26,2 tỷ USD và sẽ tăng lên 37,5 tỷ USD nếu
Nhật Bản tham gia TPP.


Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) gia tăng

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam của các nước thành viên TPP và các
nước khác ngoài TPP sẽ gia tăng để tận dụng cơ hội gia tăng xuất khẩu vào khu vực TPP,
nhất là các thị trường lớn, như Mỹ, Nhật Bản, Canada… Nếu Hiệp định TPP được ký,
Việt Nam trở thành địa điểm đầu tư rất hấp dẫn. Triển vọng thu hút FDI vào Việt Nam vẫn
khả quan trước và sau khi Hiệp định TPP được ký kết.

Nam là việc khó tránh. Tuy nhiên, tỷ trọng trên là quá lớn, có thể tiềm ẩn rủi ro khi kinh
tế Đông Á có biến động bất lợi. Đàm phán và ký kết FTA với một số thị trường trọng
điểm như Mỹ, EU có thể giúp chúng ta khắc phục tình trạng mất cân đối này.


Đẩy nhanh công cuộc tái cơ cấu

Tham gia và với tác động của TPP với các cam kết sâu, rộng hơn WTO đòi hỏi Việt
Nam đẩy nhanh công cuộc tái cơ cấu, đổi mới mô hình tăng trưởng…Chúng ta phải hành
động để nâng cao quy mô, chất lượng hàng hóa trong nước; nói cách khác là bắt buộc
phải nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong nước ở một sân chơi lớn.TPP
bao gồm các cam kết giúp Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế, mà các tiêu chuẩn này sẽ thúc
đẩy Việt Nam cải cách doanh nghiệp Nhà nước, những cải cách mang tính chất chuyển
đổi nền kinh tế. Điều này Việt Nam làm để phục vụ lợi ích chính bản thân mình, làm cho
nền kinh tế có tính cạnh tranh cao hơn.


TPP được đánh giá như một “hàng rào” dựng lên để ngăn chặn sự phát triển của Trung
Quốc. Mỹ và các nước trong TPP không mời Trung Quốc tham gia với hàm ý giảm sự lệ
thuộc vào hàng hóa Trung Quốc khi ưu đãi thuế cho hàng hóa từ các nước khác nhằm
khuyến khích gia tăng sản xuất, từ đó “bài trừ “ hàng hóa của Trung Quốc. Việt Nam vì
thế sẽ nổi lên như là “một ứng cử viên” thay thế cho Trung Quốc trong việc cung cấp
hàng hóa cho TPP.

Hiệp định đối tác Thương Mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
15


Tiểu luận Kinh tế quốc tế 2

tăng thêm của việc tham gia vào TPP, nếu có cũng không lớn. Với những nước mà ta chưa
có quan hệ FTA, gồm: Mỹ, Canada, Mexico và Peru thì hoặc là có cơ cấu xuất nhập khẩu
mang tính bổ sung hơn là cạnh tranh với cơ cấu xuất nhập khẩu của ta (như Mỹ và

Hiệp định đối tác Thương Mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
16


Tiểu luận Kinh tế quốc tế 2

Canada) hoặc là không có triển vọng thâm nhập thị trường Việt Nam với mức độ đủ lớn
để gây ra sức ép cạnh tranh (như Peru, Mexico).
Ví dụ, có thể thấy những ngành sản xuất của Việt Nam thực sự gặp khó khăn sẽ là ôtô,
thịt lợn, thịt bò và đường. Các ngành bị tác động tương đối mạnh bao gồm thực phẩm chế
biến, rượu và hóa phẩm tiêu dùng. Riêng với xăng dầu, nếu xóa bỏ thuế nhập khẩu Việt
Nam sẽ mất đi một trong các công cụ điều hành giá quan trọng. Đây là tác động mà các
cơ quan quản lý nhà nước sẽ phải tính đến một cách cẩn trọng.


Thất thu ngân sách

Một thách thức nữa cũng hay được nhắc tới, chính là rủi ro thất thu ngân sách. Năm
2013, thách thức này chủ yếu đến từ hiệu quả sản xuất kinh doanh ở trong nước và sự
suy giảm tăng trưởng kinh tế. Khi tham gia TPP, thách thức sẽ có thêm từ việc giảm
thuế nhập khẩu. Nhưng tính toán của các chuyên gia cho thấy thách thức này không
lớn và việc giảm thu từ thuế nhập khẩu, nếu có cũng sẽ được bù đắp từ các nguồn
khác, ví dụ như thuế giá trị gia tăng. Thuế giá trị gia tăng là loại thuế không phải xóa
bỏ trong FTA. Nếu vậy, số thu từ thuế giá trị gia tăng cũng tăng lên. Thậm chí không
loại trừ khả năng không những đủ bù đắp cho thuế nhập khẩu bị giảm mà còn tăng thu

mới được ưu đãi .Trong khi đó Việt Nam nhập chủ yếu các nguyên liệu từ Trung
Quốc, Hàn Quốc là các nước ngoài khối. Để được hưởng ưu đãi thuế quan 0%
trong TPP, Việt Nam phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về xuất xứ trong TPP. Theo
điều khoản về xuất xứ hàng hóa được đề xuất, các sản phẩm xuất khẩu trong các nước
thành viên phải có xuất xứ nội khối TPP mới được hưởng ưu đãi. Đây là một bất lợi vì
Việt Nam chủ yếu nhập khẩu từ các nước bên ngoài TPP để gia công hàng xuất khẩu.
Ví dụ, nếu áp dụng quy tắc xuất xứ “từ sợi trở đi” đối với hàng dệt may
trong TPP (mọi công đoạn từ sợi trở đi phải được làm ở các nước TPP) thì phần lớn
hàng dệt may của Việt Nam sẽ không được miễn thuế bởi chúng được làm từ rất nhiều
vải của Trung Quốc, sợi chỉ nhập của Hàn Quốc, các loại phụ kiện từ một số nước
Đông Nam Á... Nếu không chuyển đổi được vùng nguyên liệu, hàng xuất khẩu của
Việt Nam sẽ không được hưởng ưu đãi thuế.
Vấn đề đặt ra là dệt may chẳng phải là nhóm hàng duy nhất vấp phải rào cản này. Bởi
ngoài nông sản, phần lớn các sản phẩm xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam (giầy dép,
đồ gỗ, điện tử, công cụ...) đều đang sử dụng đa số nguyên liệu nhập khẩu từ Trung
Quốc, các nước ASEAN...
Tuy nhiên, điều khoản nguồn gốc hàng hóa là động lực cải cách rất lớn cho Việt Nam
trong việc phải phát triển ngành công nghiệp phụ trợ nhằm tạo nên chuỗi giá trị trong
sản xuất, góp phần gia tăng năng lực sản xuất, giảm thiểu chi phí.


Quy định về sở hữu trí tuệ, luật lao động và đầu tư

Tham gia vào TPP, Việt Nam phải có những điều chỉnh về luật cho phù hợp chuẩn
mực chung của TPP, trong khi tình hình luật pháp giữa Việt Nam và các chuẩn mực
chung của TPP còn rất nhiều sự khác biệt. Những điều này đòi hỏi Việt Nam phải có
những thay đổi về thể chế kinh tế một cách sâu sắc.
Hiệp định đối tác Thương Mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
18

Để nắm bắt những cơ hội tiềm năng do TPP đem lại, Việt Nam cần chủ động đón nhận và
sẵn sang các phương án ứng xử phù hợp, tránh để bị động, bất ngờ; cần chuẩn bị chu đáo
trên nhiều phương diện; rút ra những bài học kinh nghiệm sau 20 năm đổi mới và 5 năm
gia nhập WTO

Hiệp định đối tác Thương Mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
19


Tiểu luận Kinh tế quốc tế 2


Tăng cường hàm lượng giá trị gia tăng trong xuất khẩu để tránh tình trạng “xuất
khẩu… hộ Trung Quốc” do Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu đầu
vào và máy móc, trang thiết bị trừ Trung Quốc. Cụ thể, Chính phủ cần có những
chính sách phù hợp khuyến khích đầu tư vào các ngành phụ trợ, qua đó tăng mức

độ tự chủ về đầu vào của sản xuất trong nước.
• Tiếp tục đổi mới nền kinh tế theo hướng tái cơ cấu kinh tế, nâng cao giá trị gia


tăng, chất lượng và hiệu quả của tăng trưởng kinh tế
Chủ động điều chỉnh cơ cấu các ngành kinh tế và các mặt hàng xuất khẩu chủ lực
để tranh thủ và hiện thực hóa các lợi thế mà TPP đem lại; đồng thời lường trước
những khó khăn, thách thức mà các đối tác có thể gây ra để hạn chế sức cạnh tranh

của hàng hóa Việt Nam
• Để tận dụng các lợi ích từ việc giảm thuế trong TPP, Việt Nam cần quan tâm xem
xét đến cá yếu tố khác có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu như: những rào cản

Để đạt được lợi ích tối đa từ việc tham gia TPP, Việt Nam cần cân nhắc tất
cả ảnh hưởng của TPP đến nền kinh tế thông qua việc công khai thông tin
về tiến trình đàm phán và lấy ý kiến rộng rãi của các nhóm có liên quan,
đưa ra các chiến lược đàm phán hiệu quả vì lợi ích của quốc gia.

Hiệp định đối tác Thương Mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
21


Tiểu luận Kinh tế quốc tế 2

KẾT LUẬN
Nhìn chung, triển vọng với giao thương về mọi mặt giữa Việt Nam với các nước TPP
là rất tích cực. Trong những năm gần đây, quan hệ này đã có bước tiến mạng mẽ. Với
phạm vi rộng và các cam kết mạnh mẽ chưa từng có, việc TPP được ký kết và đi vào thực
hiện sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi rất lớn cho các nước, trong đó có Việt Nam, thúc
đẩy hơn nữa sự trao đổi thương mại. Tuy nhiên, đối với Việt Nam, những lợi ích được
hưởng từ việc cắt giảm thuế quan trên thị trường các nước TPP, đặc biệt là Hoa Kỳ chỉ
thực sự rõ rang khi xem xét tất cả các yếu tố thuế quan và phi thuế quan. Khi bước vào
sân chơi quốc tế này, những nước đang phát triển như Việt Nam sẽ phải đối mặt với
những bất lợi đặc thù. Để tránh rơi vào cái bẫy của hội nhập, Việt Nam cần có sự dự liệu
và tính toán về mọi mặt để có sự chuẩn bị kỹ lưỡng nhằm tận dụng những cơ hội và chủ
động vượt qua thách thức sau khi gia nhập TPP.

Hiệp định đối tác Thương Mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status