Những vấn đề cần nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn hiện nay - Pdf 35

Đề tài: Những vấn đề cần nắm vững ngọn cờ Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn hiện
nay


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

1

NỘI DUNG

3

I. NHẬN THỨC VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN SỬ HỌC

3

II. TÍNH ĐẢNG VÀ TÍNH KHOA HỌC TRONG SỬ HỌC MÁC XÍT

6

1. Khái niệm tính đảng và tính khoa học trong nghiên cứu lịch sử

6

2. Nguyên tắc tính đảng và tính khoa học trong nghiên cứu lịch sử

8

2.1 Yêu cầu của việc xác định tính khoa học và tính đảng trong

14

3.2 Tính khoa học

19

3.3 Mối quan hệ giữa tính đảng, tính khoa học trong khoa học Lịch
sử Đảng

22

KẾT LUẬN

24


TÀI LIỆU THAM KHẢO

25


1.1. Cơ sở khoa học của bài học kinh nghiệm nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội
Tổng kết lịch sử xã hội loài người từ khi phân chia thành giai cấp, hình thành nên các quốc
gia, dân tộc độc lập, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định: Dân tộc và giai cấp có
mối quan hệ biện chứng với nhau. Dân tộc bao giờ cũng mang bản chất của một giai cấp nhất định, không
có dân tộc chung chung, dân tộc phi giai cấp. Mỗi giai cấp có quan điểm riêng của mình về vấn đề dân
tộc. Ở mỗi một thời đại lịch sử, đều có giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của thời đại đó, giai cấp ấy có khả
năng nắm vững ngọn cờ dân tộc, giải quyết đúng vấn đề dân tộc, đưa dân tộc tiến lên.
Trong khoảng từ giữa thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, giai cấp tư sản đứng ở vị trí trung tâm của thời đại,

làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Cách mạng Tháng Mười Nga mở ra thời đại mới, thời đại
quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, thời đại độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (9/1858), từng bước biến xã hội Việt Nam từ xã hội phong kiến
độc lập thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến, dân tộc ta mất độc lập, nhân dân ta mất mọi quyền tự do,
dân chủ. Nhân dân Việt Nam quyết không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ, liên tiếp đứng lên đấu
tranh chống bọn đế quốc, phong kiến, giành độc lập dân tộc, hạnh phúc cho mình. Tiêu biểu là phong trào
Cần Vương do Tôn Thất Thuyết và Vua Hàm Nghi khởi xướng kéo dài từ năm 1885 đến năm 1896, tuy
không thành công, nhưng đã khiến cho chính quyền thực dân phong kiến lâm vào tình trạng không ổn
định nhiều năm và chịu nhiều tổn thất.
Trong lúc nhân dân nhiều địa phương nổi dậy đấu tranh dưới ngọn cờ Cần Vương thì tại Yên Thế
(Bắc Giang), dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh nông dân Hoàng Hoa Thám, nông dân đứng lên khởi nghĩa
kéo dài đến 30 năm (1884 - 1913), cuối cùng cũng thất bại vì vẫn mang “cốt cách phong kiến”, không đủ
sức lãnh đạo thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.
Đầu thế kỷ XX, đảm đương vai trò lãnh đạo phong trào yêu nước Việt Nam là tầng lớp trí thức Nho
giáo giàu lòng yêu nước, thấm nhuần tư tưởng dân chủ tư sản. Tiêu biểu là các phong trào Đông Du (1906 1908) do Phan Bội Châu khởi xướng. Phan Bội Châu chủ trương dựa vào nước Nhật để đánh đuổi thực dân
Pháp, nhưng không thành. Năm 1912, Ông lập ra Việt Nam Quang Phục hội với ý định tập hợp lực lượng,
vũ trang bạo động đánh Pháp, giải phóng dân tộc, nhưng cũng không thành công. Song song với xu hướng
bạo động còn xuất hiện xu hướng cứu nước bằng con đường cải lương do cụ Phan Chu Trinh và một số nhà
yêu nước khác đề xướng và tổ chức. Chủ trương cứu nước của họ được xác định là: “Khai dân trí, chấn dân
khí, hậu dân sinh”. Năm 1907, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Hoàng Tăng Bí thành lập Trường Đông
Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội, để bồi dưỡng, nâng cao tinh thần yêu nước của nhân dân, truyền bá tư tưởng
dân tộc, tự do tư sản và nếp sống văn minh tiến bộ, nhưng bị thực dân Pháp sớm ra lệnh đóng cửa, phong
trào bị thất bại.
Từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX trở đi, phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản Việt Nam chống
các thế lực tư bản nước ngoài, chống độc quyền, đòi cải cách dân chủ cũng được đẩy mạnh. Đầu năm 1930, khởi
nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo thất bại, chấm dứt vai trò lãnh đạo của giai cấp tư sản trong phong
trào đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX các phong trào yêu nước Việt Nam đã trải nghiệm qua các cuộc đấu
tranh do giai cấp phong kiến lãnh đạo, hoặc các phong trào đấu tranh theo khuynh hướng dân chủ tư sản liên tiếp


tộc dân chủ nhân dân sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa.
Từ Hội nghị thành lập Đảng đến Đại hội lần thứ II của Đảng (2/1951), Đảng ta đều khẳng định con
đường cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn. Giai đoạn đầu làm cách mạng dân tộc dân chủ
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tr.314.
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tr. 416.
3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tr.128.
4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tr.1.
5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tr. 93.
1
2


nhân dân, giai đoạn hai, làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Con đường cách mạng đó đã chỉ rõ, cách mạng
Việt Nam bắt đầu từ đâu? Bắt đầu từ cách mạng giải phóng dân tộc và đi đến đâu? Sẽ đi đến chủ nghĩa xã
hội, giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản.
Cách mạng Việt Nam nhất thiết phải trải qua hai giai đoạn. Vì mỗi giai đoạn cách mạng đều có mâu
thuẫn xã hội, kẻ thù, nhiệm vụ, mục tiêu, lực lượng, phương pháp tiến hành, hình thức tổ chức nhà nước khác
nhau. Do đó, không thể nhập hai giai đoạn làm một. Nhưng hai giai đoạn cách mạng đó đều nằm trong quỹ
đạo của cách mạng vô sản, do giai cấp vô sản Việt Nam lãnh đạo; lực lượng chủ yếu tiến hành cách mạng là
công nhân và nông dân, mục tiêu chung là đấu tranh giành độc lập, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Giai đoạn đầu
làm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tất yếu phải đi qua. Giai đoạn hai, xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất
yếu phải đi tới. Có giải phóng được dân tộc, giành độc lập dân tộc thực sự, mới tiến lên xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa. Đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong triển vọng tiến lên chủ nghĩa xã hội, sẽ quyết định
bản chất, tính chất triệt để của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Sau khi hoàn thành cách mạng giải phóng
dân tộc phải chuyển ngay sang cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đó chính là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý
luận Mác-Lênin về tư tưởng cách mạng không ngừng vào điều kiện cụ thể Việt Nam.
Trong chỉ đạo thực tiễn Đảng luôn giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai giai đoạn cách
mạng đó.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, chính quyền được
thiết lập trên phạm vi toàn quốc, từ Trung ương đến cơ sở; Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, nhân dân ta
trở thành người làm chủ đất nước. Theo quy luật chung lúc này Việt Nam có thể chuyển sang giai đoạn xây

Đảng khẳng định, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân có hai kẻ thù phải đánh đổ là chủ nghĩa đế quốc xâm
lược và địa chủ phong kiến làm tay sai cho đế quốc để giành độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho dân cày, hai mục
tiêu đó luôn gắn bó với nhau, là nguyện vọng lâu đời của nhân dân. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
không thể chỉ đánh đế quốc giành độc lập dân tộc dân tộc hoặc chỉ đánh phong kiến giành ruộng đất cho dân cày.
Muốn có độc lập dân tộc, ruộng đất cho dân cày phải đánh đổ đồng thời cả đế quốc và phong kiến.
Thứ hai: Về chỉ đạo chiến lược, chống đế quốc, chống phong kiến song song với nhau, nhưng
không nhất loạt ngang nhau. Phải đặt nhiệm vụ chống đế quốc, tay sai giải phóng dân tộc lên hàng đầu,
nhiệm vụ chống phong kiến rải ra từng bước, phục vụ cho nhiệm vụ chống đế quốc.
Đây là nét độc đáo, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong vận dụng lý luận Mác-Lênin về
giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, giữa vấn đề dân tộc và vấn đề dân chủ
trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Quá trình phát triển của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sự vận động của hai mâu thuẫn cơ
bản dẫn đến mâu thuẫn chủ yếu, đó là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với bọn đế quốc xâm lược. Từ
đó xuất hiện kẻ thù chủ yếu là đế quốc xâm lược và nhiệm vụ chủ yếu nhất của cách mạng là chống đế
quốc, tay sai giải phóng dân tộc nổi lên hàng đầu, nhiệm vụ chống phong kiến luôn phải phục tùng, phục
vụ cho nhiệm vụ chống đế quốc.
Trong cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam, Đảng ta luôn tập trung mọi lực lượng cách mạng vào
nhiệm vụ chống đế quốc, tay sai giải phóng dân tộc, coi đây là nhiệm vụ hàng đầu, nhưng không quên nhiệm vụ
chống phong kiến.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng ta chủ trương nhiệm vụ chống phong kiến rải ra
từng bước, phục tùng, phục vụ cho nhiệm vụ chống đế quốc. Bước thứ nhất, đánh đổ sự thống trị của giai
cấp địa chủ phong kiến, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và tay sai phản động trong giai cấp địa chủ
chia cho dân cày nghèo; bước thứ hai, thực hiện giảm tô, giảm tức, hoãn nợ, xóa nợ của địa chủ đối với
nông dân; bước thứ ba, thực hiện cải cách ruộng đất, thực hiện triệt để quyền của bần, cố nông.


Tuy vậy, trong tổ chức thực tiễn có thời kỳ Đảng ta thực hiện giải quyết mối quan hệ giữa hai
nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến chưa phù hợp, khi đó cách mạng gặp khó khăn, không
giành được thắng lợi.
Thời kỳ 1930 - 1931, giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ đó, ta phạm sai lầm “tả”



sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi ở mỗi miền, góp phần giành thắng lợi chung của cả nước, giành độc
lập, thống nhất tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền Bắc-Nam là chủ trương chiến lược của Đảng,
phải phát huy sức mạnh tổng hợp của mỗi miền, sức mạnh của cả nước, sức mạnh thời đại, bảo đảm cho việc
thực hiện thắng lợi mỗi chiến lược cách mạng và thực hiện mục tiêu chung của cách mạng cả nước.
Tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng thời kỳ (1954 - 1975) là nét tiêu biểu, độc đáo của
đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam. Thực hiện
chiến lược đó, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc cũng như trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả
nước tiến lên chủ nghĩa xã hội sau 30/4/1975.
Quá trình Đảng lãnh đạo đất nước ta thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng (1954 - 1975), Đảng ta
luôn chủ động đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, chỉ nhấn mạnh nhiệm vụ này mà coi nhẹ nhiệm vụ kia,
hoặc tách rời hai nhiệm vụ chiến lược đó. Thực hiện độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, đồng thời tranh thủ sự giúp
đỡ về tinh thần và vật chất của quốc tế đối với cách mạng Việt Nam.
1.2.4. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới
Giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới có mối quan hệ khăng khít với nhau, luôn ảnh
hưởng, tác động lẫn nhau. Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, luôn nhận được
sự giúp đỡ của cách mạng thế giới về tinh thần và vật chất, góp phần giành thắng lợi của cách mạng Việt
Nam. Đồng thời cách mạng Việt Nam góp phần thúc đẩy sự phát triển của cách mạng thế giới.
Trong tiến trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ đạo giải quyết
đúng đắn mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới thể hiện tập trung ở ba nội dung cơ
bản sau:
Nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế.
Luôn xác định nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng Việt Nam phù hợp với nhiệm vụ mục tiêu của thời
đại.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giải quyết thành công
nhiều vấn đề mới nảy sinh trong phong trào cách mạng thế giới.
1.3. Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn cách mạng hiện

giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cách mạng ở đó sẽ thành công, vừa giữ vững độc
lập dân tộc, vừa giữ vững được chế độ xã hội chủ nghĩa. Ngược lại, ở đâu không giương cao cả hai ngọn
cờ, ở đó độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đứng trước sự thử thách một mất một còn. Đó là bài học kinh
nghiệm lớn đối với cách mạng xã hội chủ nghĩa trên thế giới hiện nay.
Từ lý luận, thực tiễn Việt Nam và thế giới trong những năm qua, đã khẳng định trong giai đoạn
cách mạng xã hội chủ nghĩa phải tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Không
thể chỉ giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, hạ thấp ngọn cờ độc lập dân tộc hoặc ngược lại. Như vậy,
cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ bị thất bại.
1.3.2. Nội dung nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn cách
mạng hiện nay


Một là, tiếp tục kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và
nhân dân ta đã lựa chọn.
Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua đã kiểm nghiệm, chủ nghĩa xã hội là con
đường bảo đảm cho độc lập bền vững và cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mọi người. Vì vậy, đổi mới
là làm cho chủ nghĩa xã hội tiếp tục được nhận thức đầy đủ hơn, được thực hiện bằng những nội dung,
hình thức mới, làm cho chủ nghĩa xã hội sống động, phát triển chứ không phải thay đổi chủ nghĩa xã
hội. Công cuộc đổi mới ở Việt Nam trong thời gian qua tuy có nhiều khó khăn, thậm chí có lúc tưởng
chừng không thể vượt qua nổi. Đặc biệt là tác động từ sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông
Âu và Liên Xô đã ảnh hưởng nhất định đến tư tưởng, tình cảm của nhân dân. Nhưng do kiên trì với
những nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa xã hội, cho nên cách mạng Việt Nam đã vượt qua mọi khó
khăn, liên tiếp giành được những thành tựu to lớn, giữ vững ổn định chính trị, tăng trưởng kinh tế cao,
đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện… qua đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản
Việt Nam trên cơ sở giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là đúng đắn, ngày càng phát
huy hiệu quả to lớn.
Vì vậy, bên cạnh việc khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, là tất yếu khách quan và có
thể thực hiện được, chúng ta cần phê phán những biểu hiện lệch lạc, dao động, hoài nghi, suy giảm lòng
tin mục tiêu độc lập và chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, phê phán những khuynh hướng nhân danh đổi mới, tìm
kiếm con đường phát triển đất nước để lái con đường cách mạng Việt Nam theo con đường chủ nghĩa xã

ra đường lối, phương pháp cách mạng đúng.
Chủ nghĩa xã hội không có mô hình chung, nhưng có quy luật chung, nguyên tắc chung mà bất cứ
ở đâu cũng phải tuân theo, đó là những nguyên lý căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. Chủ nghĩa xã hội lại
xây dựng trên mỗi quốc gia, dân tộc với những đặc điểm lịch sử, truyền thống, bản sắc văn hóa khác nhau. Vì
vậy, Đảng Cộng sản cầm quyền ở mỗi nước phải biết vận dụng sáng tạo những quy luật phổ biến của chủ
nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước để định ra đường lối, phương pháp cách mạng phù hợp.
Đối với nước ta, trong công cuộc đổi mới, Đảng ta khẳng định lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam chỉ đạo cách mạng nước ta. Đó là cơ sở lý luận để định ra đường
lối đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Muốn vậy, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
không ngừng nắm vững, có hệ thống, toàn diện bản chất cách mạng, khoa học chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; biết vận dụng, phát triển sáng tạo trong điều kiện cụ thể Việt Nam, để từng bước
hình thành nên tư duy mới, quan niệm mới về chủ nghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta. đồng thời chúng ta phải phê phán, đấu tranh với các quan điểm sai trái, góp phần bảo vệ chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng.
Bốn là, phát huy mọi nguồn lực trong nước, ngoài nước, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thực chất, đó là sự kết hợp nội lực với ngoại lực nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp để xây dựng vào
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phát huy nội lực có ý nghĩa quyết định, yếu tố ngoại lực rất
quan trọng, nhưng phải thông qua các yếu tố bên trong mới có thể phát huy được tác dụng.
Nguồn lực bên trong bao gồm các yếu tố lịch sử, truyền thống dân tộc; đường lối, phương pháp cách
mạng đúng đắn; thành tựu về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại do công
cuộc đổi mới đưa lại; tài nguyên đất nước, tinh thần lao động cần cù, thông minh, sáng tạo của nhân dân.
Nguồn lực bên ngoài là, sự phát triển của khoa học, công nghệ trên thế giới; tinh thần đoàn kết, hợp tác
quốc tế; xu hướng toàn cầu hóa, hợp tác kinh tế quốc tế, phong trào đấu tranh cho độc lập dân tộc, dân chủ và


tiến bộ xã hội. Vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải chủ động
thực hiện sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Muốn vậy, Đảng, Nhà nước phải định ra đường lối đối nội, đối ngoại, chủ trương, chính sách, chỉ
đạo sự kết hợp đó có hiệu quả. Phải phát huy tính năng động, tự chủ, sáng tạo của mọi cấp, mọi ngành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status