1
LỜI MỞ ĐẦU
Quận Hải An được thành lập theo nghị định số 106/NĐ-CP
ngày 20 tháng 12 năm 2002 của Chính Phủ, trên cơ sở sát nhập 5 xã
của huyện An Hải và một phường của quận Ngô Quyền.
Hải An là một quận có tiềm năng về đất đai và phát triển kinh
tế, xã hội, xây dựng các cơ sỏ hạ tầng, có nguồn nhân lực dồi dào,
có vị trí địa lý thuận lợi so với các quận nội thành của thành phố Hải
Phòng như: Ngô Quyền, Lê Chân, Hồng Bàng (có cảng biển, cảng
hàng không, gần trung tâm thành phố…) để thu hút đầu tư, có vị trí
quan trọng trong chuyển dịch kinh tế theo xu hướng của kinh tế thị
trường. Phát triển kinh tế của quận sẽ có vai trò quan trọng trong
phát triển kinh tế của thành phố Hải Phòng trong tương lai. Quận
cũng có lợi thế cho phát triển các KCC, CCN góp phần thu hút
nghiều nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước đẩy mạnh quá trình
công nghiệp hóa của Thành phố Hải Phòng.
Chính vì vậy, hiểu được thực trạng thu hút đầu tư vào các
KCN trên địa bàn quận Hải An, từ đó đánh giá được kết quả cũng
như hạn chế còn tồn tại, sẽ giúp chúng ta tìm ra được những giải
pháp hiệu quả nhất để đẩy mạnh thu hút đầu tư vào các KCN trên
địa bàn quận.
1- Tính cấp thiết của đề tài
2
Trong thời đại ngày nay, khi kinh tế nhân loại ngày càng gia
tăng tính toàn cầu hoá, việc thu hút nguồn lực từ bên ngoài của các
nước đang phát triển phổ biến hướng vào thu hút đầu tư, công nghệ
tiên tiến thích hợp và phương thức quản lý hiện đại.
công nghiệp trên địa bàn Quận Hải An, từ đó đánh giá được những
kết quả đạt được cũng như những hạn chế và nguyên nhân của nó,
trên cơ sở đó đưa ra được những giải pháp phù hợp và hiệu quả nhất
để đẩy mạnh thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn
quận Hải An – TP Hải Phòng.
3- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu tình
hình thu hút đầu tư (vốn, công nghệ, trình độ quản lý, lao động…)
của các nhà đầu tư cả trong nước và nước ngoài vào các khu công
nghiệp trên địa bàn Quận Hải An.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Luận văn nghiên cứu tình hình thu hút đầu tư
vào các KCN trên địa bàn Quận Hải An.
- Thời gian: Các nội dung nghiên cứu tập trung trong giai đoạn
2003 - 2008
4
4- Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phân
tích tổng hợp, so sánh, phương pháp đối chiếu, khái quát hoá, thống
kê… trên cơ sở sử dụng số liệu thống kê và tư liệu của các khu công
nghiệp trên địa bàn Quận Hải An để phân tích, đánh giá, rút ra kết
luận cho vấn đề nghiên cứu.
5- Đóng góp của đề tài
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về thu hút đầu tư vào
các KCN.
Việt Nam khóa XI, kỳ họp tứ 8 (Từ ngày 18 tháng 10 đến ngày 29
tháng 11 năm 2005) thông qua, quy định:
Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu
hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu
tư theo quy định của pháp luật.
1.1.1.2 Phân loại đầu tư.
Căn cứ vào hình thức đầu tư, có thể phân đầu tư ra làm hai
loại:
- Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn
đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
- Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ
phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng
7
khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà
đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Căn cứ vào nguồn hình thành vốn đầu tư, có thể phân đầu tư làm
hai loại:
- Đầu tư trong nước là việc nhà đầu tư trong nước bỏ vốn
bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu
tư tại Việt Nam.
- Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào
Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành
hoạt động đầu tư.
1.1.1.3 Khái niệm vốn đầu tư.
Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện
các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư
gián tiếp.
nhất của Ban quản lý KCN.
9
- Được sự quản lý trực tiếp của Chính phủ. (từ quyết định
thành lập, quy hoạch tổng thể, khung điều lệ mẫu, kiểm tra, kiểm
soát..).
- Trong KCN có doanh nghiệp phát triển hạ tầng KCN, có
trách nhiệm đảm bảo hạ tầng kỹ thuật và xã hội của cả khu trong
suốt thời gian tồn tại KCN.
1.1.2.2 Các loại hình Khu công nghiệp.
- Phân loại KCN theo quy mô: có 2 loại
+ KCN tập trung: có quy mô từ 50 ha trở lên.
+ KCN vừa và nhỏ: có quy mô nhỏ hơn 50 ha.
- Phân theo chủ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng KCN: có 3 loại.
+ KCN do doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài làm chủ đầu
tư. Ví dụ: KCN Hà Nội - Đài Tư (Hà Nội).
+ KCN do liên doanh giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài và các doanh nghiệp trong nước. Đặc trưng của các KCN này
là được xây dựng hiện đại có quy mô thường lớn hơn 100 ha, xuất
đầu tư bình quân 1triệu USD/ha. Thường ở các KCN này khi xây
dựng hoàn chỉnh mới cho các nhà đầu tư thuê xây dựng hạ tầng.
10
Điển hình ở Việt Nam có các khu: KCN Nomura (Hải Phòng),
KCN Nội Bài (Hà Nội), KCN Đà Nẵng (Đà Nẵng)...
+ KCN do doanh nghiệp trong nước làm chủ đầu tư. Đặc trưng
Dương)....
+ KCN tập trung các ngành công nghiệp dịch vụ: chuyên sản
xuất các sản phẩm phục vụ cho các ngành công nghiệp như: bao bì,
đóng gói, .v.v. Như KCN Bình Đường (Bình Dương).
+ KCN gắn với nông nghiệp, nông thôn: gồm các ngành công
nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp, sản xuất các sản phẩm hỗ
trợ cho nông nghiệp và nông thôn. Như KCN Phúc Khánh (Thái
Bình), Tâm thắng (Đắc Nông) .v.v.
- Phân theo trình độ công nghệ hoá:
+ KCN tập trung sản xuất các sản phẩm có hàm lượng công
nghệ thấp và trung bình tương đương với trình độ công nghệ của
12
các doanh nghiệp công nghiệp ngoài khu. Như KCN Bình Đường
(Bình Dương), KCN Lê Minh Xuân (thành phố Hồ Chí Minh).v.v.
+ KCN tập trung sản xuất các sản phẩm có hàm lượng công
nghệ khá so với các ngành công nghiệp trong nước nhưng chỉ đạt
mức trung bình trong khu vực. Như KCN Nội Bài (Hà Nội), KCN
Sài Đồng B (Hà Nội).v.v.
+ KCN tập trung sản xuất các sản phẩm có hàm lượng công
nghệ khá so với khu vực. Như KCN Thăng Long (Hà Nội), KCN
Vĩnh Lộc (thành phố Hồ Chí Minh).v.v.
+ KCN tập trung sản xuất các sản phẩm có hàm lượng công
nghệ tiên tiến so với khu vực và thế giới như KCN Nomura (Hải
Phòng).
1.1.2.3 Ban quản lý các Khu công nghiệp cấp tỉnh.
Theo điều 27, Quy chế KCN, KCX, KCNC (Ban hành kèm
theo Nghị định số 36/CP ngày 24 tháng 4 năm 1997 của Chính phủ)
động cho người nước ngoài sau khi được uỷ quyền của Bộ Lao
động Thương binh và Xã hội.
14
- Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện giấy phép đầu tư, hợp
đồng gia công sản phẩm, hợp đồng cung cấp dịch vụ, hợp đồng kinh
doanh, các tranh chấp kinh tế theo yêu cầu của đương sự.
- Phối hợp với các Cơ quan quản lý Nhà nước về lao động
trong việc kiểm tra, thanh tra các quy định của pháp luật về hợp
đồng lao động, thoả ước lao động tập thể, an toàn lao động tiền
lương.
- Quản lý hoạt động dịch vụ KCN.
- Thoả thuận với Công ty phát triển hạ tầng KCN trong việc
định giá cho thuê đất gắn liền với công trình kết cấu hạ tầng đã xây
dựng, các loại phí dịch vụ theo đúng chính sách và pháp luật hiện
hành.
- Cấp, điều chỉnh và thu hồi các loại giấy chứng chỉ thuộc
thẩm quyền hoặc theo uỷ quyền; cấp, điều chỉnh và thu hồi các
loại giấy phép theo uỷ quyền.
- Được mời đại diện tham dự các cuộc họp của cơ quan
Chính phủ và UBND cấp Tỉnh khi bàn về việc hình thành, xây
dựng, phát triển và quản lý KCN.
- Báo cáo định kỳ và hàng năm theo quy định của pháp luật về
tình hình hình thành, xây dựng, phát triển và quản lý các KCN về
UBND cấp Tỉnh, các Cơ quan Chính phủ có liên quan.
15
quan trọng của nước ta.
Áp dụng nguyên lý tập trung theo chiều dọc trong xây dựng
nhà máy ở KCN nên nguồn nguyên liệu tại chỗ được sử dụng tối
đa và giá thành sản phẩm giảm đáng kể. Các KCN được trang bị
đầy đủ cơ sở hạ tầng nên các nhà đầu tư khi đến các KCN sẽ giảm
được rất nhiều chi phí ngoại doanh nghiệp như chi phí mua đất
xây dựng nhà máy với giá cao, phí tự xây dựng nhà máy, đường
giao thông, hệ thống điện. Nhờ có sẵn các doanh nghiệp cung cấp
đầu vào và tạo đầu ra cho nhà máy do các nhà máy được tập trung
vào một khu vực nên các doanh nghiệp giải quyết dễ dàng đầu ra,
đầu vào với chi phí thấp nhất.
Sự phát triển nhanh, có chất lượng của các KCN có tác động
rất tích cực đối với sự chuyển dịch cơ cấu của một tỉnh, một vùng
19
và của cả nước. Góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo thêm năng lực
sản xuất mới, tạo nguồn hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước
và xuất khẩu. Tạo điều kiện phát triển công nghiệp theo quy hoạch,
tránh tự phát, phân tán, tiết kiệm đất đai, sử dụng có hiệu quả vốn
đầu tư, tiết kiệm chi phí sản xuất.
KCN là hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ,
đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá. Phát triển các KCN là nhân tố thúc đẩy
tốc độ đô thị hoá và tác động lan toả tích cực trong việc CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn. Mặt khác, KCN là ″hạt nhân” trong chuỗi
quy hoạch đô thị sẽ được hình thành trong tương lai với hệ thống
kết cấu hạ tầng ngoài KCN có chất lượng cao, gắn với sự hình thành
các khu dân cư, khu thương mại, dịch vụ và các khu phù trợ khác.
KCN là nơi tiếp nhận kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và học tập
HĐH đất nước; đồng thời làm thay đổi cơ cấu lao động vốn chủ
yếu là lao động nông nghiệp. Theo số liệu thống kê, hệ thống đào
tạo nghề của Việt Nam gồm 157 trường dạy nghề, 137 trường đại
học, cao đẳng có đào tạo nghề, 148 trung tâm dạy nghề, 147
trung tâm xúc tiến việc làm và dịch vụ việc làm có dạy nghề.
21
Ngoài ra còn có hàng trăm trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp
hướng nghiệp và các trung tâm giáo dục thường xuyên có đào tạo
nghề. Trên thực tế, một số KCN, KCX đã thành lập các cơ sở,
trường dạy nghề tại địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo
và cung ứng lao động cho các KCN, KCX khác như Trường dạy
nghề Dung Quất (KCN Dung Quất), Trung tâm dạy nghề Việt
Nam - Singapore (KCN Việt Nam - Singapore), Trường dạy nghề
Nghi Sơn (KCN Nghi Sơn), Trường kỹ nghệ Thừa Thiên - Huế
(KCN Phú Bài)...
Người lao động trong KCN, KCX thường xuyên có việc
làm, thu nhập tăng và đời sống khá ổn định, giúp họ xoá đói
giảm nghèo, giảm bớt các tệ nạn xã hội. Những năm gần đây
người lao động ngày càng được hưởng nhiều chính sách ưu đãi
của Nhà nước, cũng như được đảm bảo các quyền lợi về lao
động.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng địa phương, tác động tích
cực đến các ngành khác trong nền kinh tế. Tăng trưởng GDP, góp
phần tăng ngân sách nhà nước.
Đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng. Trên cơ sở lợi thế của
vùng, phát triển KCN vừa khai thác lợi thế của vùng và vừa tránh
được đầu tư phân tán, phát huy được hiệu quả của vốn đầu tư xây
hành với nội dung cụ thể, đồng bộ và được sử dụng có hiệu lực
thống nhất giữa các cơ quan thi hành luật thì sẽ tạo điều kiện thuận
lợi cho các hoạt động trong KCN.
Về môi trường pháp lý cho việc thực hiện đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào KCN thì Việt Nam còn phải tiếp tục hoàn thiện
nhiều để tương đồng với các nước ASEAN. Chúng ta phải
nhanh chóng ban hành các chính sách có liên quan đến đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào các KCN, nhằm tạo ra một hệ thống
văn bản pháp quy đồng bộ cho hoạt động đầu tư vào các KCN
cũng như sự vận hành nền kinh tế nói chung. Đó là việc ban
hành các đạo luật còn thiếu và sửa đổi các đạo luật trái với
thông lệ quốc tế.
1.3.2 Nhóm các yếu tố liên quan đến quản lý nhà nước và
thủ tục hành chính.
Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất được uỷ quyền
cấp giấy phép đầu tư cho các loại dự án:
Phù hợp với quy hoạch của khu công nghiệp.
Doanh nghiệp chế xuất có quy mô vốn đến 40 triệu USD.
Các dự án sản xuất có quy mô vốn đến 10 triệu USD.
Các dự án dịch vụ công nghiệp có quy mô vốn đến 5 triệu
USD.
24
Không thuộc danh mục các dự án có tiềm năng gây ảnh
hưởng đến môi trường.
Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất phải cố gắng hoạt
động theo cơ chế một cửa, tại chỗ, giải quyết nhanh các thủ tục hành
hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong điều kiện
sản xuất như hiện nay, về cơ bản người lao động nước ta đáp ứng
được yêu cầu và có mặt bằng tiền lương thấp hơn các nước trong
khu vực. Đây là một yếu tố hấp dẫn các nhà đầu tư.
1.3.4 Các yếu tố liên quan đất đai, cơ sở hạ tầng.
Về giá đất: Giá thuê đất trong KCN sẽ ảnh hưởng rất lớn đến
quyết định đầu tư của các nhà đầu tư (nhất là các nhà đầu tư trong
nước). Do đó nếu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, xem xét hỗ
trợ các doanh nghiệp khi thuê đất trong KCN để đảm bảo giá thuê
đất hợp lý thì cũng là một cách tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư.
Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: cũng là một
yếu tố tạo nên tính hấp dẫn của môi trường đầu tư. Nếu có giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, các doanh nghiệp có thể dùng nó để
huy động vốn, thế chấp khi cần vay tín dụng.