Chương I: TỔNG QUAN
1.1 . Công nghệ sản xuất giấy
1.1.1. Sơ lược về ngành công ngiệp giấy
1.1.2. Nguyên liệu sản xuất giấy
Nguyên liệu sản xuất bột giấy chủ yếu từ thực vật như: gỗ lá rộng, gỗ lá kim.
Họ thân thảo, họ tre nứa… hay còn gọi là vật liệu lignocellulose.
Thành phần chủ yếu của lignocellulose là cellulose, hemicellulose và lignin
(Hình 1.1). Cellulose và hemicellulose là các đại phân tử cấu tạo từ các gốc đường
khác nhau, trong khi lignin là một polymer dạng vòng được tổng hợp từ tiền
phenylpropanoid. Các tế nào gỗ được cấu thành từ các lớp khác nhau, các lớp này
khác nhau từ cấu trúc và thành phần hóa học. Cellulose cơ bản hình thành nên bộ
khung xương mà được bao quanh bởi các cơ chất tạo thành mạng lưới và hình thành
lớp vỏ lignin. Dưới đây là thành phần nguyên liệu lignocelluloses trong tự nhiên.
Hình 1.1: Thành phần cấu trúc lignocellulose
1
Thành phần cấu tạo và phần trăm của cellulose, hemicelluloses và lignin là
khác nhau giữa các loài, trong cùng một cây hay các cây khác nhau dựa vào độ tuổi,
giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây và các điều kiện khác.
Bảng 1.1 Thành phần của một số loại nguyên liệu lignocelluloses [42]
Nguồn lignocellulose
Cellulose (%) Hemicellulose
Lignin (%)
(%)
Thân gỗ cứng
Giấy
85-99
0
0-15
Vỏ trấu
32.1
24
18
Vỏ trấu của lúa mì
30
50
15
Rác đã phân loại
60
20
5-10
Chất rắn nước thải ban đầu
8-15
-
24-29
Chất thải của lợn
6
28
-
Phân bón gia súc
1.6-4.7
1.4-3.3
2.7-5.7
2
khô là khoảng 75%) [17] [44] [46].
3
Hình 1.2: Công thức hóa học của cellulose
Các mạch cellulose được liên kết với nhau nhờ liên kết hydro và liên kết Van Der
Waals, hình thành hai vùng cấu trúc chính là tinh thể và vô định hình. Trong vùng
tinh thể, các phân tử cellulose liên kết chặt chẽ với nhau, vùng này khó bị tấn công bởi
enzyme cũng như hóa chất. Ngược lại, trong vùng vô định hình, cellulose liên kết
không chặt với nhau nên dễ bị tấn công [22].Có hai mô hình cấu trúc của cellulose đã
được đưa ra nhằm mô tả vùng tinh thể và vô định hình như hình 1.4 [35] .
Hình 1.3: Mô hình Fringed fibrillar và mô hình chuỗi gập
Trong mô hình Fringed Fibrillar: phân tử cellulose được kéo thẳng và định
hướng theo chiều sợi. Vùng tinh thể có chiều dài 500 Å và xếp xen kẽ với vùng vô định
hình.
Trong mô hình chuỗi gập: phân tử cellulose gấp khúc theo chiều sợi. Mỗi đơn vị
lặp lại có độ trùng hợp khoảng 1000, giới hạn bởi hai điểm a và b như trên hình vẽ.
Các đơn vị đó được sắp xếp thành chuỗi nhờ vào các mạch glucose nhỏ, các vị trí này
rất dễ bị thủy phân. Đối với các đơn vị lặp lại, hai đầu là vùng vô định hình, càng vào
giữa, tính chất kết tinh càng cao. Trong vùng vô định hình, các liên kết β - glycoside
4
giữa các monomer bị thay đổi góc liên kết, ngay tại cuối các đoạn gấp, 3 phân tử
monomer sắp xếp tạo sự thay đổi 180 o cho toàn mạch. Vùng vô định hình dễ bị tấn
công bởi các tác nhân thủy phân hơn vùng tinh thể vì sự thay đổi góc liên kết của các
liên kết cộng hóa trị (β - glycoside) sẽ làm giảm độ bền của liên kết, đồng thời vị trí
này không tạo được liên kết hydro [6].
và axit glucuronic [36]. Trong đó, đường D-xylose, L-arabinose, D-glucose và Dgalactose là phổ biến ở thực vật thân cỏ và ngũ cốc. Tuy nhiên, khác với hemicellulose
thân gỗ, hemicellulose ở thực vật thân cỏ lại có lượng lớn các dạng liên kết và phân
6
nhánh phụ thuộc vào các loài và từng loại mô trong cùng một loài cũng như phụ
thuộc vào độ tuổi của mô đó.
Tùy theo trong thành phần của hemicellulose có chứa monosaccharide nào mà
nó sẽ có những tên tương ứng như mannan (chứa mannose), xylan (chứa xylose)
hoặc galactan (chứa galactose). Các monose trong hemicellulose liên kết với nhau
thông qua các liên kết beta-1,3, -1,6 và -1,4 glycozid, thường bị acetyl hóa, tạo thành
“keo dính” các phân tử cellulose và lignin.
Trong các loại hemicellulose, xylan là một polymer chính của thành tế bào thực
vật trong đó các gốc D-xylopyranose kết hợp với nhau qua liên kết β-1,4-Dxylopyranose, là nguồn năng lượng dồi dào thứ hai trên trái đất. Đa số phân tử xylan
chứa nhiều nhóm ở trục chính và chuỗi bên. Các gốc thay thế chủ yếu trên khung
chính của xylan là các gốc acetyl, arabinosyl và glucuronosyl. Các nhóm này có đặc
tính liên kết tương tác cộng hóa trị và không hóa trị với lignin, cellulose và các
polymer khác. Cấu tạo, số lượng và vị trí của xylan ở các loài thực vật khác nhau là
khác nhau. Xylan tồn tại ở dạng O-acetyl-4-O-methylglucuronoxylan ở cây gỗ cứng
(Hình 1.5), hay arabino-4-O-methylglucuronoxylan ở cây gỗ mềm (Hình 1.6), hay
thành phần cấu tạo xylan là axit D-glucuronic, có hoặc không có ete 4-O-methyl và
arabinose ở các loài ngũ cốc.
7
Hình 1.5: O-acetyl-4-O-methylglucuronoxylan ở cây gỗ cứng
Hình 1.6: Arabino-4-O-methylglucuronoxylan ở cây gỗ mềm
Khi thủy phân hoàn toàn hợp chất này sẽ tạo ra các nguyên liệu có giá thành
9
Gỗ mềm chứa chủ yếu là guaiacyl, gỗ cứng chứa chủ yếu syringyl. Các nghiên cứu
đã chỉ ra rằng guaiacyl lignin hạn chế sự trương nở của xơ sợi và vì vậy loại nguyên
liệu đó sẽ khó bị tấn công bởi enzyme hơn syringyl lignin [35].
Những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng lignin hoàn toàn không đồng nhất trong
cấu trúc. Lignin dường như bao gồm vùng vô định hình và các vùng có cấu trúc hình
thuôn hoặc hình cầu. Lignin trong tế bào thực vật bậc cao không có vùng vô định
hình. Các vòng phenyl trong lignin của gỗ mềm được sắp xếp trật tự trên mặt phẳng
thành tế bào. Ngoài ra, cả cấu trúc hóa học và cấu trúc không gian của lignin đều bị
ảnh hưởng bởi mạng polysaccharide. Việc mô hình hóa động học phân tử cho thấy
rằng nhóm hydroxyl và nhóm methoxyl trong các oligomer tiền lignin sẽ tương tác
với vi sợi cellulose cho dù bản chất của lignin là kỵ nước.
10
Hình 1.8: Cấu trúc lignin trong gỗ mềm với các nhóm chức chính
Các nhóm chức ảnh hưởng đến hoạt tính của lignin bao gồm nhóm phenolic
hydroxyl tự do, methoxyl, benzylic hydroxyl, ether của benzylic với các rượu mạch
thẳng và nhóm carbonyl (Hình 1.8). Guaicyl lignin chứa nhiều nhóm phenolic
hydroxyl hơn syringyl.
Lignin tạo liên kết hóa học với hemicellulose và ngay cả với cellulose (nhưng
không nhiều). Độ bền hóa học của những liên kết này phụ thuộc vào bản chất liên kết,
cấu trúc hóa học của lignin và các gốc đường tham gia liên kết [6]. Carbon alpha (Cα)
trong cấu trúc phenyl propane là nơi có khả năng tạo liên kết cao nhất với khối
hemicellulose. Ngược lại, các đường nằm ở mạch nhánh như arabinose, galactose, và
11
12
Nguyên lý cơ bản của các phương pháp sản xuất bột giấy bao gồm hoá học, bán hóa
học, hoá nhiệt cơ (bảng 1). Trên thực tế thường kết hợp các phương pháp nêu trên để
sản xuất các loại bột giấy theo yêu cầu tiêu thụ.
Nguyên liệu dùng làm giấy phải có tính chất sợi, có khả năng đan kết và ép
thành tấm đồng nhất. Một số nguyên liệu có sợi rất dài nhưng lại khó liên kết nếu
không qua xử lý cơ học làm phát triển sự liên kết giữa các sợi thì cũng khó được dùng
làm giấy. Như vậy giấy có thể được làm từ tất cả các loại cây có chứa xơ sợi cellulose
như gỗ và phi gỗ. Trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi chỉ dề cập tới nguyên liệu bột
giấy đi từ gỗ.
Nguyên liệu gỗ được chia làm 2 loại: gỗ lá kim (gỗ mềm) như các loại thông,
thông rụng lá, vân sam, linh sam… và gỗ lá rộng (gỗ cứng) như bạch đàn, sồi, dương,
keo các loại..., chúng khác nhau về cấu tạo và hàm lượng các hợp phần tạo nên chúng.
Gỗ mềm: galactoglucomannan là thành phần hemicellulose chủ yếu, chiếm tới
20% so với gỗ khô tuyệt đối. Bên cạnh cấu tử chính còn có arabinoglucuronoxylan,
chiếm khoảng 5-10% khối lượng gỗ khô. Lignin gỗ lá kim gồm các đơn vị mắt xích
guaiacylpropan (4-hydroxy-3-metoxy phenylpropan).
Gỗ cứng: glucuronoxylan là hemicellulose chủ yếu, dao động từ 15-25% so với
gỗ khô tuyệt đối. Bên cạnh đó gỗ cứng còn chứa 2-5% glucomannan. Lignin chiếm 1625%, ngoài guaiacylpropan còn chứa 3,5-dimetoxy-hydroxy phenylpropan.
Sản xuất bột giấy là giai đoạn gia công để tách thành phần sơ sợi từ nguyên
liệu gỗ hay một số thực vật bằng các phương pháp hóa học hay cơ học tương ứng ta
sẽ thu đươc bột hóa hay bột cơ. Tùy theo yêu cầu sử dụng mà bột có thể có hoặc
không được tẩy trắng hoặc được tẩy trắng với mức độ khác nhau (loại lignin).
Bột cơ: là bột giấy được sản xuất bằng cách mài hoặc nghiền lóng gỗ hoặc
dăm gỗ để tách các bó sợi. Mài gỗ cho bột có độ che phủ rất cao, nhưng tính chất cơ,
lý lại kém. Nghiền dăm gỗ cho bột có tính chất cơ lý cao hơn nhưng tính quang học lại
kém hơn. Sản xuất bột cơ cần gỗ chất lượng cao và tốn năng lượng. Khả năng tạo liên
hydrat hóa và bị phân tơ chổi hóa. Sự phân tơ chổi hóa là hiện tượng các xơ sợi bị
tách dọc tạo thành những bó xơ sợi nhỏ hơn và thường xảy ra ở vị trí các vết cắt. Khi
xơ sợi bị phân tơ chổi hóa, lớp vỏ bên ngoài (lignin) bị dập nát và bong ra, làm tăng
khả năng thâm nhập của nước vào phân tử cellulose và tạo thành lớp vỏ solvat bao
quanh bề mặt các phân tử cellulose. Do những biến động này mà xơ sợi trở nên trơn,
nhớt, mềm dẻo hơn, mịn hơn, độ linh động cao hơn. Diện tích tiếp xúc bề mặt tăng
lên, tạo nên những tính chất đặc biệt cho tờ giấy sau này.
14
1.1.5. Tác động của quá trình nghiền lên đặc tính xơ sợi
Quá trình nghiền nhằm mục đích tạo kích thước thích hợp ( chiều dài và độ
dày) của xơ sợi theo yêu cầu của cấu trúc giấy; làm cho xơ sợi có độ thủy hóa nhất
định để tạo lực kết dính giữa các xơ sợi.
Trong quá trình nghiền đồng thời xảy ra quá trình cơ học thuần túy làm thay
đổi kích thước và hình dạng xơ sợi, và quá trình hóa keo – thủy hóa xơ sợi. Tác động
cơ học làm sợi bị cắt ngắn và bị phân tơ theo chiều dọc. Thủy hóa ở đây được hiểu là
hiện tượng hó keo bắt đầu bằng việc trương nở xơ sợi thực vật ưa nước làm cho các
xơ sợi có khả năng liên kết với nhau tạo thành cấu trúc chặt chẽ của tờ giấy. Mục đích
quan trọng của nghiền là phân tơ để tăng diện tích bề mặt xơ sợi. Sự hấp phụ nước
lên bề mặt này sẽ làm sợi trương nở, tăng độ mềm mại và tạo điều kiện thuận lợi để
các xơ sợi liên kết lại hình thành độ bền cơ lý, độ thấm hút và thấu khí của giấy. Kết
quả sau khi nghiền xơ sợi bị chà phẳng và mền dẻo hơn, liên kết bề mặt tăng lên.
1.2.
Các enzyme thủy phân lignocelluloses [9]
1.2.1. Hệ enzyme thủy phân cellulose
50-70
4-7
định hình
Cellobiohydrolases(CBH)
Cellulose
tinh 50-65
37-60
4-5
45-75
Thay đổi
thể
β- glucosidases
Cellobiose,
35-450
Cellodextrins
- Enzyme endo - β -1,4- glucanases hay carbonxymethyl cellulase (CMCase) (EC
chuyển đổi xylan thành cấu tử đường của nó. Endo-xylanases tấn công mạch chính
của xylan và các oligome chứa nhóm thế hoặc không chứa nhóm thế, xúc tác cho quá
trình thủy phân liên kết 1,4- β-D-xylopyranozyl của xylan như: L- arabino-D-xylan, Larabino-D-glucurono-D-xylan và D-glucorono-D-xylan. β-xylosidases (β-D-xyloside
xylohydrolase; EC 3.2.1.37) có tác dụng thủy phân các oligosaccharide ngắn và
17
xylobiose thành đường xylose. β-xylobiose có thể phân tách chất nhân tạo như pnitrophenyl β-D-xyloside. Trong số các xylooligomer, xylobiose thường là cơ chất tốt
nhất. Ái lực của enzyme đối với xylooligosaccharide giảm theo mức độ tăng của phản
ứng polymer hóa. Hầu hết các β-xylosidase được nghiên cứu cho đến nay đều bị ức
chế bởi xylose sản phẩm thủy phân của chúng. Nhiều β-xylosidase có hoạt tính
transferase, đặc biệt là ở các nồng độ cơ chất cao, tạo ra sản phẩm phân tử lượng
cao. Enzyme này cũng phối hợp hoạt động với endoxylanases, α-arabinosidases và
acetylxylan esterases để thủy phân hoàn toàn xylan thành monosaccharides. Như vậy,
sự phân giải polysaccharide phức tạp như vậy có thể gồm hoạt động hỗ trợ giữa các
thành phần khác nhau của hệ thống enzyme xylanolytic.
Hình 1.10: (A) Enzyme xylanolytic liên quan đến quá trình phân giải xylan. Ac:
nhóm
acetyl;
α-Araf:
α-arabinofuranose;
α-4-O-Me-GlcA:
α-4-O-
α-galactosidase : tồn tại rộng khắp trong vi sinh vật,thực vật và động
vật.Enzym làm xúc tác cho quá trình thuỷ phân melibiose
,metyl-,etyl-,phenyl- và o-nitrophenyl-α-D-galactozit.Enzym này thuỷ
phân α-D-galactopyranozit thông thường nhưng không giải phóng ra
D-galactose từ galactoglucomannan của gôm nhựa cây
1.2.3. Hệ enzyme phân hủy lignin
Hệ enzyme giữ vai trò chủ yếu trong phân hủy lignin là manganese peroxidase
(MnP) và lignin peroxidase (LiP), ngoài ra còn có một enzyme nữa là laccases. Lignin
peroxidase có trọng lượng phân tử 41.000- 42.000 Da. Nó có thể oxi hóa lignin và
những hợp chất liên quan đến lignin, kết quả là phân cắt nối carbon α- carbon β, mở
vòng thơm, oxi hóa rượu và demethyl hóa.MnP là một glycoprotein với một nhóm
iron protoporphyrin. Là enzyme duy nhất trong số các enzyme peroxidase mà các cơ
chất chủ yếu của nó là các acid hữu cơ có ion Mn +. Enzyme này hoạt động như một
phenoloxydase trên cơ chất phenol bằng cách sử dụng Mn 3+/ Mn2+ làm cặp oxy hóa
khử trung gian. Nhiệm vụ chính của enzyme này là tham gia vào phản ứng oxy hóa
hợp chất phenol cũng như cấu trúc phenol của lignin. MnP tấn công trực tiếp vào cấu
trúc vòng thơm lignin, chuyển hóa thành những gốc oxy hóa có trọng lượng phân tử
thấp theo con đường oxy hóa khử Mn.
Laccase thường được gọi là polyphenol oxydase đa đồng. Enzyme này có khă
năng xúc tác phản ứng chuyển hóa hợp chất phenol thành những phenoxyl. Laccase
là enzyme có tính đặc hiệu cao với các hợp chất hydroxyl thơm hoặc các amino thơm
tới các gốc phenol và gốc amin tự do
1.3.
Enzyme Endo-β-1,4-glucanases
1.3.1. Nguồn gốc
khác nhau về cấu trúc của các enzyme còn thể hiện ở sự sắp xếp trong không gian các
chuỗi polypeptide, các trung tâm xúc tác và các vùng liên kết cơ chất. Chính nhờ sự
20
khác nhau về cấu trúc không gian của các protein enzyme dẫn tới sự khác nhau về
các tính chất hóa lý của chúng .
1.3.3. Tính chất hóa lý
Tùy thuộc vào cấu trúc và nguồn gốc của enzyme, hoạt tính của enzyme đạt
mạnh nhất ở nhiệt độ và pH nhất định. Độ bền nhiệt độ và pH hay mức độ và tính
chất chịu ảnh hưởng của các chất tẩy rửa, dung môi hữu cơ hay ion kim loại cũng có
sự khác nhau.
1.3.3.1.
Ảnh hưởng của nhiệt độ
Vận tốc phản ứng do enzyme xúc tác chỉ tăng lên khi tăng nhiệt độ trong một
giới hạn nhất định, chưa ảnh hưởng đến cấu trúc enzyme. Hoạt tính enzyme đạt cực
đại ở nhiệt độ thích hợp, khoảng nhiệt độ thích hợp của nhiều enzyme vào khoảng 4050°C. Ở nhiệt độ cao, enzyme bị biến tính làm hoạt tính giảm mạnh hoặc mất hoạt
tính; còn ở nhiệt độ thấp dưới 0°C, hoạt tính enzyme bị giảm nhiều nhưng lại có thể
phục hồi khi đưa về nhiệt độ thích hợp [1].
Hoạt tính xúc tác của endoglucanase từ Trichoderma reesei đạt tối đa ở 55°C [38].
Theo kết quả nghiên cứu của Kiamoto và cs (1996), các endoglucanase từ chủng
A.oryzae KBN616 hoạt động tốt nhất trong dải nhiệt độ 45-55°C [34]. Chủng
A.awamori VTCC-F-099 cho endoglucanse có nhiệt độ tối ưu là 50oC [8].
1.3.3.2.
Ảnh hưởng của pH
Khả năng hoạt động của enzyme còn phụ thuộc vào pH môi trường phản
còn 18-34% [4].
1.3.4. Cơ chế xúc tác của Endo-β-1,4-glucanases
Mỗi dạng enzyme trong phức hệ cellulases tham gia thủy phân theo một cơ chế riêng.
Tuy nhiên mỗi enzyme này thường phối hợp hoạt động để thủy phân hoàn toàn cơ
chất thành sản phẩm đơn giản nhất là glucose.
-
Endo-β-1,4-glucanase tham gia thuỷ phân các liên kết β-1,4 glucoside ở bên
trong các phân tử cellulose. Sản phẩm phân cắt là các oligosaccharide.
-
Exo-glucanase thủy phân các liên kết ở đầu khử và đầu không khử của phân tử
cơ chất, giải phóng các oligosaccharide, cellobiose và glucose.
β-Glucosidase thủy phân các phân tử cellodextrin và cellobiose tạo thành các phân tử
glucose [30] [37] .
1.3.5. Ảnh hưởng của điều kiện môi trường đến khả năng sinh tổng hợp endo-
β-1,4-glucanase
1.3.5.1.
Nguồn carbon
Các loài vi sinh vật sinh tổng hợp endo-glucanase có thể sử dụng nhiều nguồn
carbon khác nhau tùy thuộc đặc điểm của từng loài. Có loài chỉ thích hợp với một
hoặc một số ít nguồn carbon, có loài thì không đòi hỏi nghiêm ngặt mà có khả năng
sử dụng nhiều nguồn carbon khác nhau. Nguồn carbon có thể đơn giản như các loại
22
pH của môi trường nuôi cấy ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh tổng hợp
enzyme của chủng vi sinh vật. pH thích hợp cho mỗi loài có thể là acid, trung tính hay
kiềm. pH thích hợp đối với các chủng vi khuẩn ưa ấm sinh tổng hợp cellulase là 6.57.0 và pH tối ưu là 7,0; còn các chủng xạ khuẩn ưa nhiệt là 7.0-7.5 và pH tối ưu là 7.5
[7]. Đối với một số chủng nấm mốc như A. oryzae VTCC-F-045 sinh tổng hợp cellulose
mạnh nhất trong pH môi trường là 5.5 [3] . Chủng A. awamori VTCC-F-099 sinh tổng
hợp mạnh nhất ở pH 6.5 [8].
1.4.
Các loại nấm mốc phân hủy lignocelluloses
23
Nấm mốc phân hủy lignocelluloses có 3 loại: nấm mục nâu, nấm mục trắng,
nấm mục xốp. Trong đó, nấm mục trắng và nấm mục nâu thuộc nhóm Basidiomycetes
là nhóm có khả năng phân hủy lignocelluloses cao nhất trong tự nhiên.
1.4.1. Nấm mục xốp
Các loài nấm tạo ra mục xốp chủ yếu phân huỷ polysaccarit. Loại này không tấn
công lignin mà chỉ phân hủy cellulose, hemicellulose và tạo thành các vết mục trắng
làm cho gỗ bị xốp như bọt biển. Có thể tìm thấy chúng trên gỗ ở những nơi ẩm ướt
như hàng rào, bậu cửa, cây gỗ mục… Chúng bao gồm một số loài thuộc chi Ascomycota
và một số loài khác như Chaetomium, Ceratocystis, Lulworthia, Halosphaeria và
Pleospora [20]. Các loài nấm này phân hủy mạnh cellulases ngay từ đầu. Sợi nấm có
khả năng phát triển trong lớp của thành tế bào thực vật.
Trong nhóm nấm này, khả năng sản sinh các enzym phân huỷ cellulose cũng khác
nhau. Loài nấm có khả năng sản sinh hàng loạt enzym phân huỷ cellulose và được
nghiên cứu kỹ là T.reesei. T.reesei sản sinh ít nhất ba enzym endoglucanase, hai
exoglucanase và một hoặc hai enzym β-glucosidase. Nhiều loại nấm mục xốp khác
cũng đã được nghiên cứu.
Ứng dụng của enzyme trong sản xuất nghiền
Với các loại bột hóa, sau khi nấu phần lớn lignin đã bị loại bỏ ở lớp ngoài cùng
của xơ sợi xellulose, tuy nhiên vẫn còn một lượng nhỏ ở lớp sát xơ sợi. Vì vậy bột sau
khi nấu phải trải qua công đoạn nghiền để thu được xơ sợi có những thuộc tính mong
muốn như vừa nói ở trên. Để giảm thời gian nghiền và tiết kiệm chi phí về năng
lượng, giải pháp công nghệ được đưa ra ở đây là xử lí bột giấy trước khi nghiền với
các enzym cellulase và hemicellulase (xylannase, mannanase) nhằm cắt ngắn sợi
cellulose hoặc thủy phân một phần hemicellulose (mannan, xylan) giải phóng lignin,
tăng tốc độ trương nở và quá trình phân tơ chổi hóa xơ sợi.
1.5.1. Giảm năng lượng cần thiết cho quá trình nghiền
Các nghiên cứu thử nghiệm sử dụng enzym trợ nghiền đã cho thấy đều làm giảm
nhu cầu năng lượng trong khâu nghiền bột và tiết kiệm lượng hơi nước sử dụng
trong công đoại xeo giấy tiếp sau đấy.
Bajpai và cộng sự [12] đã thực hiện các nghiên cứu trên quy mô phòng thí nghiệm
và trên quy mô pilot với các hỗn hợp các enzym xenlulase và hemicellulase để làm
giảm yêu cầu năng lượng cho quá trình nghiền với các loại bột giấy khác nhau như
bột giấy Kraft gỗ cứng, bột giấy từ tre, bột giấy tái chế … Các thử nghiệm trong
phòng thí nghiệm đã giảm được 18-45% chi phí năng lượng cho khâu nghiền mà
không ảnh hưởng tới các thuộc tính về độ bền cơ lí của bột giấy. Còn ở quy mô pilot,
mức tiêu thụ năng lượng nghiền được giảm tới 25 kWh/tấn bột giấy. Ngoài ra, với
25