BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHỐNG BÁN
PHÁ GIÁ TRONG KHUÔN KHỔ WTO VÀ SỰ
THAM GIA CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT
TRIỂN VÀ VIỆT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ
LUẬN VÀ THỰC TIỄN
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ
Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
1.
Nguyễn Thị Thu Hiền (2011), Nhận diện đặc điểm pháp lí cơ bản của
tranh chấp về chống bán phá giá trong khuôn khổ WTO, Tạp chí Luật học,
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Phước Hiệp
ngày
tháng
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
2
BPG tại WTO cũng như những yêu cầu cấp bách đặt ra cho Việt
Nam v.v., cho thấy tính cấp thiết cao, cả về lý luận và thực tiễn của
Trong thương mại quốc tế hiện nay, các tranh chấp về chống bán
việc nghiên cứu đề tài “Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong
phá giá (BPG) ngày càng trở nên phức tạp và phổ biến. Trước thực
khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt
trạng nói trên, bên cạnh việc tìm ra những giải pháp để đối phó với
Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”.
các cuộc điều tra về chống BPG và thuế chống BPG của nước ngoài,
2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đề tài
thực tiễn tham gia của một số nước đang phát triển và thực tiễn tham
tâm được đặt ra trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước. Trên thực
gia của Việt Nam vào việc GQTC về chống BPG tại WTO.
tế, tính đến hết tháng 12/2013, Việt Nam đã tham gia vào chín vụ
Tranh chấp về chống BPG và cơ chế giải quyết các tranh chấp
tranh chấp về chống BPG trên tổng số mười chín vụ kiện có sự tham
này trong khuôn khổ WTO là những vấn đề phức tạp và có phạm vi
gia của Việt Nam tại WTO. Qua từng vụ tranh chấp, Việt Nam, ở
nghiên cứu rộng. Bởi vậy, trong khuôn khổ hạn định về số trang đối
một mức độ nhất định, đã tham gia chủ động và tích cực vào DSM
với một luận án, tác giả sẽ chỉ tiến hành: (1) phân tích lịch sử hình
của WTO. Tuy nhiên, sự tham gia đó vẫn còn những hạn chế bởi tính
thành, phát triển và việc áp dụng pháp luật quốc tế trong giải quyết
phức tạp của các vụ tranh chấp về chống BPG tại WTO cũng như cơ
các tranh chấp về chống BPG tại WTO; (2) phân tích quan niệm hiện
WTO, tuy nhiên, tác giả cũng sẽ chỉ chủ yếu phân tích cơ chế GQTC
về chống bán phá giá tại DSB/WTO; (4) trình bày tổng quan về thực
4
Để thực hiện mục đích trên, Luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên
cứu sau:
tiễn GQTC tại WTO về chống BPG, tập trung phân tích kinh nghiệm
- Phân tích các quan điểm về chống BPG, tranh chấp về chống
và thực tiễn tham gia vào việc GQTC tại WTO về chống BPG của ba
BPG cũng như những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật quốc tế áp
nước Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan và thực tiễn của Việt Nam.
dụng trong GQTC về chống BPG tại WTO;
3. Phương pháp nghiên cứu đề tài
- Tổng hợp, phân tích và đánh giá thực tiễn GQTC về chống
Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu nêu trên, Luận án sử dụng
BPG tại WTO, đi sâu vào phân tích một số vụ tranh chấp cụ thể và
nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: phương
làm rõ những điểm bất cập của việc GQTC về chống BPG trong
5. Những kết quả nghiên cứu mới của Luận án
thực tiễn cũng được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ nội dung của
- Luận án đã làm rõ quan niệm hiện hành của WTO đối với
luận án. Phương pháp tổng hợp và phân tích được sử dụng như
“tranh chấp về chống BPG”, phân biệt loại tranh chấp này với “tranh
những phương pháp bổ trợ cho phương pháp so sánh.
chấp về BPG” và “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của
4. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
quốc gia thành viên, đồng thời phân biệt ba loại tranh chấp liên quan
Mục đích của Luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và
tới các biện pháp khắc phục thương mại có mối liên hệ gần gũi với
thực tiễn thông qua việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống
nhau trong khuôn khổ WTO, đó là “tranh chấp về chống BPG”,
các vấn đề liên quan tới GQTC về chống BPG tại WTO, vị thế của
“tranh chấp về chống trợ cấp” và “tranh chấp về tự vệ thương mại”.
- Luận án đã làm rõ mối quan hệ tương tác giữa GQTC về chống
Luận án bao gồm phần mở đầu, nội dung, phần kết luận, danh
BPG theo pháp luật WTO và GQTC về BPG theo pháp luật quốc gia
mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục. Nội dung luận án được bố
thành viên;
cục thành bốn chương, có kết luận của từng chương, cụ thể:
- Luận án đã làm rõ phạm vi và đặc điểm của bốn vấn đề tranh
chấp về chống BPG được giải quyết tại DSB, bao gồm tranh chấp về
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu ở các nước và ở
Việt Nam liên quan đến đề tài Luận án.
thuế chống BPG chính thức, tranh chấp về sự chấp thuận một biện
Chương 2: Những vấn đề lý luận đối với tranh chấp về chống
pháp cam kết giá, tranh chấp về biện pháp tạm thời, và tranh chấp về
BPG và pháp luật quốc tế áp dụng trong GQTC về chống BPG tại
sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một quốc gia
WTO.
Ở các nước, có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới vấn đề
tham gia của Việt Nam vào quá trình GQTC về chống BPG tại WTO,
GQTC về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các
chủ yếu là những đề xuất cụ thể khi Việt Nam tham gia với tư cách là
nước đang phát triển. Điển hình trong số những tác giả và công trình
nghiên cứu nói trên phải kể đến: (i) J.G. Merrills (2011),
7
8
International Dispute Settlement, 5th ed., Cambridge University
đang phát triển và Việt Nam ở cả góc độ lý luận và thực tiễn, trong số
Press; (ii) James P. Durling (2002), Matthew R. Nicely,
đó phải kể đến Luận án Tiến sĩ luật học của Nghiên cứu sinh Bùi Anh
Understanding the WTO Anti-Dumping Agreement: Negotiating
Thủy với đề tài “Cơ chế GQTC thương mại quốc tế của WTO” và
History and Subsequent Interpretation, Cameron May Ltd.,; (iii)
Tổ chức thương mại thế giới, Nxb. Lao động xã hội; (ii) Dự án Hỗ
Taxation Publishers v.v. Ngoài ra, còn có các tài liệu đăng trên các
trợ Thương mại Đa biên giai đoạn II (EU-VIETNAM MUTRAP II)
website và một số tài liệu đã được dịch sang tiếng Việt như cuốn “Sổ
(2007), Vị trí, vai trò và cơ chế hoạt động của Tổ chức thương mại
tay về hệ thống GQTC của WTO”, bản dịch của Ủy ban Quốc gia về
thế giới trong hệ thống thương mại đa phương; (iii) VCCI (2010),
Hợp tác kinh tế quốc tế (2006) v.v.
Tranh chấp về chống BPG trong WTO; (iv) Khoa Luật, Trường Đại
and Materials, 2
Mặc dù vấn đề GQTC thương mại quốc tế nói chung và GQTC
học Cần Thơ (2010), Tóm tắt những vụ tranh chấp điển hình của
về chống BPG trong khuôn khổ WTO đã được đề cập trong các công
WTO – Báo cáo của Ban Hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm từ năm
trình nghiên cứu ở các nước, nhưng nhìn chung, cho đến nay, vẫn
Trước, trong và sau thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, ở Việt
Pháp luật, số 2, năm 2007; (iv) bài viết “GQTC về chống BPG trong
Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới vấn đề GQTC
khuôn khổ WTO” của tác giả Nguyễn Linh Giang đăng trên Tạp chí
về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước
Nhà nước và Pháp luật số 3, năm 2008; (v) bài viết “Những ưu đãi
9
10
dành cho các nước đang phát triển trong cơ chế GQTC thương mại
WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển, đồng thời có liên
của WTO mà Luật sư cần lưu ý” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền
hệ cụ thể tới trường hợp của Việt Nam.
đăng trên Tạp chí Nghề luật số 3/2009; (vi) bài viết “Cơ quan đầu
1.3. Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và phương pháp xử lý
theo pháp luật WTO và GQTC về BPG theo pháp luật quốc gia thành
động và phát triển của pháp luật quốc tế áp dụng trong GQTC về
viên;
chống BPG tại WTO; thái độ của các nhóm nước khác nhau đối với
- Làm sáng tỏ khái niệm và đặc điểm của bốn loại tranh chấp về
tranh chấp về chống BPG; mối quan hệ tương tác giữa việc GQTC về
chống BPG được giải quyết tại DSB.
chống BPG theo pháp luật của WTO và GQTC về chống BPG theo
Thứ hai là về mặt thực tiễn:
pháp luật của quốc gia thành viên; khái niệm, bản chất và đặc điểm
- Phân tích và đánh giá một cách tổng thể và toàn diện đối với
của bốn loại tranh chấp cụ thể về chống BPG được giải quyết tại
DSB; cập nhật thực trạng GQTC về chống BPG tại WTO, sự tham
gia của các nước đang phát triển và Việt Nam, tổng hợp và phân tích
kinh nghiệm GQTC về chống BPG của một số nước đang phát triển
điển hình, tìm ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp cụ thể nhằm nâng
cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam trong việc giải quyết các
tranh chấp về chống BPG tại WTO. Đặc biệt, ở trình độ Tiến sĩ luật
học, chưa có công trình nào nghiên cứu kết hợp cả khía cạnh lý
khẩu sản phẩm BPG với các doanh nghiệp nội địa của nước nhập
khẩu sản xuất các sản phẩm tương tự với sản phẩm nhập khẩu và;
(2) “tranh chấp về chống BPG” là tranh chấp giữa tư nhân (doanh
CHƯƠNG 2
nghiệp xuất khẩu nước ngoài) với Chính phủ (nước nhập khẩu áp
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ĐỐI VỚI TRANH CHẤP VỀ
dụng biện pháp chống BPG) về việc áp dụng các biện pháp chống
CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ ÁP DỤNG
TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHỐNG BÁN PHÁ
BPG.
Trong khuôn khổ WTO, tranh chấp về chống BPG là những bất
GIÁ TẠI WTO
đồng giữa các thành viên WTO về các vấn đề pháp lý liên quan đến
2.1. Lịch sử hình thành, phát triển và việc áp dụng pháp luật
các quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực chống BPG theo các hiệp định
quốc tế trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại
của WTO.
GQTC về chống BPG, về mặt nội dung cũng như về tố tụng, sẽ tuân
tranh chấp về chống bán phá giá
theo pháp luật quốc tế áp dụng trong GQTC về chống BPG tại WTO.
Chống BPG được hiểu là việc các cơ quan có thẩm quyền của
“Tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của WTO có những
nước nhập khẩu áp dụng các biện pháp phù hợp tác động trực tiếp
điểm khác biệt cơ bản so với “tranh chấp về BPG” và “tranh chấp về
lên sản phẩm nhập khẩu BPG để loại bỏ những thiệt hại mà sản
chống BPG” theo pháp luật của một quốc gia thành viên; đồng thời,
phẩm nhập khẩu BPG đó gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa tương
nó cũng có sự khác biệt so với “tranh chấp về chống trợ cấp” và
tự của nước mình.
“tranh chấp về tự vệ thương mại”.
13
báo cáo về GQTC của Ban hội thẩm; các tài liệu được ban hành bởi
Phạm vi các vấn đề tranh chấp về chống BPG được giải quyết tại
các cơ quan WTO; các hiệp định quốc tế khác; và các học thuyết của
DSB được giới hạn trong bốn vấn đề: thuế chống BPG chính thức, sự
các học giả có uy tín. Trong khi đó, về tố tụng, việc GQTC sẽ tuân
chấp thuận một biện pháp cam kết giá, biện pháp tạm thời và sự
theo DSU cùng với những qui tắc và thủ tục đặc biệt, bổ sung cho
không phù hợp trong các qui định pháp luật của một thành viên với
DSU được ghi nhận từ Điều 17.4 đến 17.7 của ADA và các qui tắc tố
nội dung của ADA. Các vấn đề tranh chấp nói trên cần phải được xác
tụng khác có liên quan của WTO.
định rõ ràng trong đơn yêu cầu thành lập Ban hội thẩm của bên khiếu
2.3. Nội dung những vấn đề chung của pháp luật quốc tế áp dụng
kiện theo Điều 17.4 của ADA và Điều 6.2 của DSU.
trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO
3.1.1. Sơ lược thực trạng giải quyết tranh chấp tại WTO về chống
được nâng lên thành tranh chấp giữa các Chính phủ. Điều này đã dẫn
bán phá giá
đến sự đan xen và gắn kết chặt chẽ giữa việc giải quyết hai loại tranh
Thực tiễn GQTC về chống BPG đã cho thấy các tranh chấp về
chấp này. Tuy nhiên, dù có những mối liên hệ nhất định thì giữa việc
chống BPG là loại tranh chấp phổ biến nhất được giải quyết trong
15
16
khuôn khổ WTO. Một số thành viên đang phát triển tham gia rất tích
kinh nghiệm. Chỉ sau khi WTO ra đời, Thái Lan mới thực sự tăng
cực vào việc giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế nói chung
cường việc sử dụng DSM của WTO nhằm bảo vệ các lợi ích của
và các tranh chấp về chống BPG nói riêng tại WTO, trong khi đó,
mình.
trong khi hầu hết các nước đang phát triển đều có sự dè dặt khi tiếp
- Sử dụng một cách có hiệu quả đội ngũ chuyên gia quốc tế trong
cận với DSM của WTO thì ngay từ đầu, Ấn Độ đã là một thành viên
các lĩnh vực có liên quan tới các tranh chấp về chống BPG. Tuy
tham gia rất tích cực trong cả hai DSM của GATT và WTO.
nhiên, về lâu dài, vẫn phải đào tạo đội ngũ chuyên gia trong nước
3.2.2. Thực tiễn tham gia của Trung Quốc vào việc giải quyết tranh
nhằm phát huy tối đa lợi thế cũng như đảm bảo bí mật của quốc gia
chấp tại WTO về chống bán phá giá
trong GQTC về chống BPG tại WTO;
Sau khi chính thức gia nhập WTO, với một nền kinh tế phát triển
- Nâng cao năng lực tham gia GQTC thương mại quốc tế nói
nhanh nhất thế giới, Trung Quốc đã nhanh chóng trở thành một
chung và các tranh chấp về chống BPG nói riêng cho đội ngũ cán bộ
“nhân vật chính” trong “sân chơi chung” của WTO. Trung Quốc
17
18
Tính đến hết tháng 12/2013, Việt Nam đã tham gia vào chín vụ
tranh chấp về chống BPG tại WTO, trong đó, có bảy vụ Việt Nam
CHƯƠNG 4
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
tham gia với tư cách là bên thứ ba, hai vụ với tư cách là nguyên đơn
QUẢ SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM VÀO VIỆC GIẢI
và chưa tham gia vào bất kỳ vụ tranh chấp về chống BPG nào với tư
QUYẾT TRANH CHẤP TẠI WTO VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
cách bị đơn.
4.1. Những quan điểm và định hướng cơ bản nhằm nâng cao
Từ thực tiễn tham gia của Việt Nam vào DSM của WTO, có thể
rút ra một số nhận xét cơ bản sau đây:
hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh
chấp tại WTO về chống bán phá giá
- Việt Nam đã từng bước tham gia một cách chủ động, tích cực
DS404;
Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO về chống bán
- Việt Nam đã tích cực tham gia với tư cách là bên thứ ba trong
phá giá
những vụ kiện của các thành viên WTO khác để học hỏi kinh
4.2.1. Nhóm giải pháp chung nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia
nghiệm;
của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO về chống bán
- Việt Nam cũng đã biết vận động và tranh thủ một cách hợp lý
sự ủng hộ của các thành viên khác;
phá giá
Các giải pháp chung chủ yếu tập trung vào ba nhóm giải pháp
- Việt Nam đã có sự chuẩn bị chủ động, tích cực từ cả phía các
lớn, đó là: tận dụng những ưu đãi trong khuôn khổ WTO dành cho
doanh nghiệp, các hiệp hội lẫn từ phía các cơ quan nhà nước có thẩm
các nước đang phát triển; xây dựng và củng cố năng lực tham gia giải
Việt Nam ở Giơ-ne-vơ trong việc giải quyết các tranh chấp thương
nội dung của ADA.
mại quốc tế nói chung và các tranh chấp về chống BPG nói riêng tại
Các thành viên đang phát triển đang ngày càng thể hiện được vai
WTO.
trò và vị thế của mình trong việc giải quyết các tranh chấp tại WTO
4.2.2. Một số đề xuất cụ thể khi Việt Nam tham gia vào việc giải
về chống BPG. Khi tham gia vào quá trình giải quyết các tranh chấp
quyết tranh chấp tại WTO về chống bán phá giá với tư cách là
tại WTO về chống BPG, các thành viên đang phát triển vừa có những
nguyên đơn, bị đơn và bên thứ ba
cơ hội, đồng thời cũng phải đối diện với những thách thức rất lớn.
Ngoài các giải pháp chung, Việt Nam cũng cần có những giải
Các tranh chấp về chống BPG vốn dĩ là những tranh chấp vô cùng
pháp và chiến lược cụ thể khi tham gia vào việc giải quyết các tranh
nguồn của pháp luật WTO áp dụng trong GQTC về chống BPG cũng
và Thái Lan. Kinh nghiệm của ba nước nói trên thực sự là những bài
được xác định tương ứng với các loại nguồn của pháp luật WTO nói
học quí báu cho Việt Nam khi tham gia GQTC về chống BPG tại
chung, về cơ bản là dựa trên cách xác định nguồn luật áp dụng truyền
WTO.
thống của Điều 38(1) của Qui chế Tòa án Công lý Quốc tế.
Sau hơn bảy năm gia nhập WTO, sự tham gia của Việt Nam vào
Pháp luật quốc tế áp dụng trong GQTC về chống BPG tại WTO
DSM của WTO vẫn còn hạn chế. Rõ ràng, Việt Nam cần phải nỗ lực
có lịch sử hình thành và phát triển song hành cùng GATT 1947 và
nhiều hơn nữa, đồng thời tích cực học hỏi kinh nghiệm từ các thành
WTO, với nội dung bao gồm cả những vấn đề chung về GQTC trong
viên khác của WTO, để đề ra được những giải pháp khả thi nhằm
khuôn khổ WTO và những vấn đề cụ thể mang tính đặc thù của lĩnh
Đảng và Nhà nước, đồng thời phải phù hợp với những định hướng cơ
cũng như tận dụng tối đa chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt mà
bản sau đây:
WTO dành cho các nước đang phát triển;
- Dựa trên những kết quả đánh giá khách quan, toàn diện và
- Tự trang bị kiến thức một cách đầy đủ trong lĩnh vực giải quyết
những nghiên cứu mang tính chất dự báo về xu hướng vận động và
tranh chấp về chống BPG tại WTO, chủ động và tích cực học hỏi
phát triển của các tranh chấp về chống BPG cũng như việc giải quyết
kinh nghiệm từ các nước khác;
loại tranh chấp này trong khuôn khổ WTO;
- Cần thiết phải phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt
Nam;
- Tích cực phát huy vai trò, sự chủ động và sự phối hợp chặt chẽ
giữa các doanh nghiệp, các hiệp hội và các cơ quan Nhà nước có liên
quan;
- Cần mang tính tổng thể và có hệ thống, bao gồm cả nhóm giải
- Cần kết hợp việc xử lý các khía cạnh pháp lý với các biện pháp
hỗ trợ khác, từ việc vận động hành lang tới sự liên kết chặt chẽ với
các bên cùng khiếu kiện, đồng thời tiến hành đấu tranh trên mặt trận
dư luận để thu hút sự ủng hộ đối với Việt Nam;
thì phía Việt Nam cần tiến hành một số giải pháp cụ thể sau đây:
- Cần xác định đúng phạm vi và thời điểm khởi kiện, lựa chọn
đúng và trúng vấn đề;
- Chú trọng và sử dụng việc tham vấn một cách có hiệu quả hơn;
- Cần kết hợp việc huy động nguồn nhân lực ở trong nước và
- Chuẩn bị tích cực và trọng tâm cho việc giải quyết tranh chấp
tranh thủ những nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài, trong đó bao gồm cả
tại giai đoạn hội thẩm, từ bước chuẩn bị đơn yêu cầu thành lập Ban
sự tư vấn và trợ giúp của ACWL.
23
hội thẩm cho đến toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp tại giai đoạn
hội thẩm;
24
- Sẵn sàng tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp trong
trường hợp bị kiện;
- Chuẩn bị từ trước và tính tới khả năng chủ động kháng cáo, khi
cần tham gia với một thái độ nghiêm túc, tích cực, coi đó là một trải
được các tình huống và dự đoán được các yêu cầu, đề xuất của bị đơn
nghiệm thực sự như các bên tranh chấp. Việt Nam cần thành lập các
để có thể đưa ra giải pháp ứng phó phù hợp, nhằm bảo vệ tối đa
nhóm chuyên gia và/hoặc luật sư, kể cả các luật sư của các hãng luật
quyền và lợi ích hợp pháp cho Việt Nam.
tư trong nước, để đại diện cho Việt Nam và có chiến lược tham gia
Trong trường hợp Việt Nam tham gia với tư cách bị đơn thì Việt
Nam cần tiến hành các giải pháp cụ thể sau đây:
một cách hiệu quả. Đồng thời, cần thực hiện tốt công tác báo cáo, cập
nhật thông tin về các đối tác và rút ra những bài học và kinh nghiệm
(1) Phòng tránh các tranh chấp về chống BPG:
sau từng vụ tranh chấp về chống BPG mà Việt Nam tham gia với tư
- Thường xuyên tiến hành các hoạt động rà soát quá trình thực
cách bên thứ ba./.
thi ADA và pháp luật về chống BPG hàng nhập khẩu của Việt Nam