Tiểu luận phát triển công nghiệp hỗ trợ xây dựng dân dụng tại việt nam - Pdf 35

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Ngày nay các nhà sản xuất lớn trên thế giới, các tập đoàn đa quốc gia chỉ
nắm giữ các hoạt động như nghiên cứu và triển khai, xúc tiến thương mại, phát triển
sản phẩm, còn các công đoạn sản xuất, những phần công việc trước đây vẫn nằm
trong dây chuyền sản xuất hoàn chỉnh, hầu hết được giao cho các doanh nghiệp bên
ngoài. Như vậy, các sản phẩm công nghiệp không còn được sản xuất tại một không
gian, địa điểm, mà được phân chia thành nhiều công đoạn, ở các địa điểm, các quốc
gia khác nhau. Thuật ngữ công nghiệp hỗ trợ là cách tiếp cận sản xuất công nghiệp
trong bối cảnh mới này.
Việt Nam đang trên đà đổi mới và phát triển. Sau 20 năm đổi mới kể từ Đại
hội Đảng VI năm 1986, đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế, đạt được tốc độ tăng trưởng
nhanh, tăng cường cơ sở vật chất và tạo tiền đề cho giai đoạn phát triển mới công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát
triển, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng
hiện đại. Tuy vậy, tỷ lệ gia tăng trong giá trị sản xuất công nghiệp lại đang có dấu
hiệu đi xuống. Theo Bộ Công Thương (2013), năm 1995 VA/GO toàn ngành công
nghiệp là 42,5%; đến năm 2000 tỷ lệ này chỉ còn 38,45%; năm 2005 còn 29,63%;
năm 2007 đạt 26,3%; năm 2010 đạt 23,4%; năm 2013 đạt 21,7%. Một trong những
lý do quan trọng của tình trạng này, là sự yếu kém của các ngành CNHT.
Đến năm 2011 ở Việt Nam đã xuất hiện thuật ngữ “Công nghiệp hỗ trợ” do
Chính phủ đưa ra, đã được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. Đã có nhiều chuyển biến
đáng kể trong nhận thức cũng như trong hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất
Việt Nam. Cấp độ khoa học công nghệ và tốc độ phát triển của các ngành đã tăng
nhanh. Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực từ phía các doanh nghiệp, sự trợ giúp của
Chính phủ, các cơ quan chức năng có liên quan, nhưng trình độ phát triển công
nghiệp hỗ trợ của Việt Nam còn thấp xa so với kỳ vọng và so với yêu cầu. Việc tìm
ra nguyên nhân đích thực của tình trạng này, từ đó, đề xuất định hướng và giải pháp



2.2. Mục tiêu cụ thể
(1) Lý luận những vấn đề cơ bản về CNHT, trên cơ sở đó vận dụng, làm rõ được
các khía cạnh về phát triển CNHT ngành XDDD ở Việt Nam.


3

(2) Nghiên cứu các kinh nghiệm nước ngoài về phát triển CNHT XDDD để áp dụng
thực tiễn ở Việt Nam.
(3) Nghiên cứu mô hình và xây dựng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá phát triển
CNHT ngành XDDD ở Việt Nam.
(4) Đánh giá thực trạng phát triển CNHT ngành XDDD ở Việt Nam giai đoạn
2009 -2013.
(5) Đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế, khó khăn và các nhân tố ảnh
hưởng đến phát triển bền vững CNHT ngành XDDD Việt Nam.
(6) Đề xuất những giải pháp để phát triển CNHT ngành XDDD ở Việt Nam đến
năm 2020.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu những vấn đề về phát triển
CNHT ngành XDDD Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian
Đề tài được nghiên cứu là các doanh nghiệp CNHT ngành XDDD trên địa
bàn cả nước: DN sản xuất xi măng, DN sản xuất vật liệu xây, DN sản xuất vật liệu
lợp, DN sản xuất vật liệu ốp lát, DN kính xây dựng, Tư vấn – thiết kế và Giám sát.
- Phạm vi thời gian


5

Cơ sở lý luận về CNHT

Phát triển CNHT ngành XDDD

Các chỉ tiêu đánh giá phát triển
CNHT ngành XDDD

Các nhân tố
gián tiếp

Các nhân tố
trực tiếp

Các chỉ tiêu theo chiều
rộng
Cấp độ
phát triển

Các nhân tố tác động đến
PT CNHT ngành XDDD

Tốc độ
Phát triển

Các chỉ tiêu theo chiều sâu

Tăng

quan điểm về CNHT ngành XDDD là bao gồm tất cả các ngành sản xuất vật liệu
xây dựng và tư vấn, thiết kế, giám sát xây dựng; quan điểm về phát triển CNHT
ngành XDDD (phát triển CNHT ngành XDDD theo chiều sâu và phát triển CNHT
ngành XDDD theo chiều rộng).
Thứ hai: Tác giả đưa ra hai nhóm chỉ tiêu để đánh giá phát triển CNHT
ngành XDDD đó là: Phát triển theo chiều rộng (Cấp độ phát triển của các doanh
nghiệp CNHT ngành XDDD; Tốc độ phát triển doanh nghiệp CNHT ngành XDDD
trong một thời gian nhất định) và chỉ tiêu phát triển theo chiều sâu (Tăng năng suất
các yếu tố tổng hợp(TFP); Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm
ứng dụng công nghệ cao trong giá trị sản xuất công nghiệp vật liệu xây dựng; Mức
độ phát triển bền vững CNHT ngành XDDD; Mức độ phát triển hệ thống tài chính
lành mạnh trong các doanh nghiệp CNHT ngành XDDD).
Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát
của luận án:
Thứ nhất: Qua phân tích, đánh giá cho thấy TFP ngành XD: giai đoạn đoạn
2001-2005 là 4,33%, giai đoạn 2006 -2008 chiếm 3,73%; giai đoạn 2008 -2010
chiếm 3,74%; giai đoạn 2010-2013 chiếm 4,47%. Kết quả này cho thấy mức độ tác
động của các yếu tố lao động, vốn đầu tư trong xây dựng có xu hướng giảm dần.
Thứ hai: Kết quả điều tra, khảo sát về cấp độ phát triển khoa học và công
nghệ của các doanh nghiệp CNHT ngành XDDD: Doanh nghiệp đánh giá các cấp
độ tăng lên, chủ yếu ở cấp độ 3,4,5 ( bao gồm công đoạn gia công + lắp ráp+ chế
tạo + thiết kế) và cán bộ lãnh đạo ngành XDDD đánh giá các cấp độ chủ yếu ở cấp
độ 1,2,3 (bao gồm gia công thô + gia công chính + lắp ráp một phần).
Thứ ba: Hàm hồi quy biểu diễn các tác động của các nhân tố phát triển bền
vững CNHT ngành XDDD:


7

PTBV CNHT ngành XDDD = 0.372*Vốn + 0.371*KHCN + 0.352* Thị

- Quyết định 12/2011/QĐ-TTg về “Hỗ trợ phát triển một số ngành công
nghiệp hỗ trợ”[ 47]. Các dự án sản xuất sản phẩm CNHT được khuyến khích phát
triển thị trường, khuyến khích về hạ tầng cơ sở, khuyến khích về khoa học công
nghệ và đào tạo nguồn nhân lực...,khả năng cung ứng tại VN về nguyên liệu và linh
kiện phục vụ cho các lĩnh vực CNHT chỉ đạt mức 28,7%, trong khi của Thái Lan là
53%, Trung Quốc là 59,7%. Để phát triển CNHT ở trong nước cần có sự nỗ lực
hơn nữa từ: Chính sách phát triển một số ngành CNHT. Bộ Công thương phối hợp
với các bộ, ngành, hiệp hội liên quan rà soát lại các quy định nhằm tạo điều kiện
thuận lợi cho các DN hơn nữa trong việc vay vốn, thuê mặt bằng sản xuất, nhập
khẩu vật tư, nguyên liệu trong nước chưa sản xuất được. DN VN hiện có hai hạn
chế đó là: Vẫn còn quen với môi trường bao cấp, coi đây là việc của Nhà Nước,
phải có hỗ trợ ở hầu hết các mặt từ vốn, sản xuất, tiêu thụ và hiệu quả, sức cạnh
tranh thấp, trong khi các DN có yêu cầu lại ngại đầu tư, ham nhập ngoại, vì giá rẻ,
không phải đầu tư...Nghị quyết này đã được triển khai vào tháng 10 năm 2012 do
Bộ Công Thương chủ trì hợp tác với Nhật Bản, Hàn Quốc thực hiện một số dự án
về phát triển CNHT, cụm CNHT tại Hải Phòng, Vũng Tàu, vườn ươm công nghệ
CNHT tại Cần Thơ.
- Hoàng Văn Châu, “Chính sáchphát triển công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam”
[15]. CNHT được xem là giải pháp thiết thực để thực hiện theo hướng chủ động của
hoạt động kinh tế tránh nhập siêu, CNHT phát triển sẽ giúp DN lựa chọn được chiến
lược phát triển phù hợp với chuỗi giá trị gia tăng của ngành trong phạm vi quốc gia
và quốc tế. Bên cạnh đó phát triển CNHT còn tạo cơ hội cho DN nhỏ và vừa phát


9

triển mạnh mẽ tạo nên mạng sản xuất kinh doanh đa dạng và rộng khắp. Đây chính
là nền tảng để phát triển một nền CN tự chủ, hiện đại. Song tác giả chỉ nêu ra những
chính sách phát triển CNHT cho VN một cách khái quát, chưa đi vào phân tích cụ
thể các chính sách phát triển CNHT ngành XDDD ở VN.

ngành CNHT ngành điện tử gia dụng nói riêng. Thực trạng và triển vọng phát triển
ngành CNHT điện tử gia dụng ở VN cũng như đã đưa ra giải pháp phát triển CNHT
ngành điện tử gia dụng ở VN. Phạm vi nghiên cứu luận án chỉ dừng lại ở ngành
CNHT điện tử gia dụng và các ngành như cơ khí, nhựa, xe máy, ô tô.

1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
- Mirian Picinini Méxas , Osvaldo Luiz Gonçalves Quelhas, Helder Gomes
Costa, “Prioritization of enterprise resource planning systems criteria: Focusing on
construction industry” [65]. Nhóm tác giả sử dụng hệ thống ERP (Enterprise
Resource Planning). Đầu tiên, dựa trên việc xem xét các tài liệu liên quan đến việc
thực hiện và áp dụng các mô hình đa tiêu chuẩn đánh giá của các hệ thống ERP, tập
hợp các tiêu chí lựa chọn được đề xuất cho các ứng dụng ERP cho các công ty trong
ngành XDDD ở Brazil, nơi có sự thiếu hụt của loại hệ thống này. Sau khi xác nhận
của các tiêu chí này bởi một nhóm các thành viên công nghệ thông tin, các chuyên
gia trong ngành XDDD, 79 người trả lời chủ yếu từ ngành CNXD và công nghệ
thông tin tham gia vào một nghiên cứu thực địa để kiểm tra nhận thức của họ về tầm
quan trọng của các tiêu chí này. Nghiên cứu cho thấy rằng, các tiêu chí kinh doanh
và phần mềm tài chính là quan trọng nhất đối với người trả lời. Ngoài ra, tầm quan
trọng của từng nhóm tiêu chí cũng được đánh giá và để hỗ trợ các nhà sản xuất
quyết định khi lựa chọn hệ thống ERP.
- I.M. Horta, A.S. Camanho, “Company failure prediction in the construction
industry”[61]. Bài viết này đề xuất mô hình mới để dự đoán sự thất bại của công ty
trong ngành công nghiệp xây dựng. Mô hình bao gồm ba khía cạnh sáng tạo lớn. Việc
sử dụng các biến chiến lược phản ánh đặc trưng quan trọng của các công ty XD, đó là
lý do quan trọng để giải thích sự thất bại của công ty. Đề xuất mô hình đã được thực
nghiệm sử dụng tất cả các nhà thầu ở Bồ Đào Nha hoạt động trong năm 2009.
- Zahir Irani, Muhammad Mustafa Kamal “Intelligent Systems Research in
the Construction Industry”[74]. Với sự phức tạp ngày càng tăng của các vấn đề



quả là ngành CNXD Trung Quốc bị cạnh tranh thấp trên thị trường, thiếu kỹ năng


12

toàn cầu và thiếu sáng kiến hướng tới đổi mới công nghệ. Nghiên cứu này xem xét
vai trò của ngành CNXD phát triển đô thị bền vững của Trung Quốc. Các tác động
xã hội, kinh tế và môi trường của ngành XD ở Trung Quốc, kết quả cho thấy rằng
việc XD ở Trung Quốc đóng cả hai vai trò tích cực và tiêu cực trong phát triển đô
thị bền vững của Trung Quốc. Gợi ý bao gồm thiết lập các biện pháp tiêu chuẩn,
đổi mới kỹ thuật và khuyến khích sự hợp tác giữa các ngành CNXD và giáo
dục…sẽ góp phần vào sự phát triển tương lai của ngành CNXD ở Trung Quốc.
- Năm 1990, “Công nghiệp liên quan và hỗ trợ” đã được M. Porter nhắc đến
trong lợi thế cạnh tranh của các quốc gia”(The competitive advantage of nations,
Harvard business review 1990)[73].Trong đó, cụm từ này đã được phân tích như là
một trong năm yếu tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh của một quốc gia. Nhưng
các nghiên cứu về CNHT nhiều nhất vẫn là ở các quốc gia Đông Á, đặc biệt là Nhật
Bản, nơi ra đời khái niệm CNHT. Tình hình thuê ngoài và các nhà cung ứng cho các
doanh nghiệp sản xuất của Nhật Bản đã được phân tích trong “Chi nhánh các nhà
lắp ráp Nhật Bản ở châu Á” (Japanese-Affiliated Manufactures in Asia), JETRO
thực hiện năm 2003 và “Báo cáo khảo sát các bộ phận ở nước ngoài của các công
ty lắp ráp Nhật Bản” (Survey report on overseas business operations by Japanese
manufacturing companies) do ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) xuất bản
năm 2004. Báo cáo chỉ ra rằng, chi nhánh các tập đoàn Nhật Bản ở Châu Á, đặc biệt
là Thái Lan, Malaysia, Indonesia đã sử dụng hệ thống thầu phụ được hình thành với
vai trò mạnh mẽ của các DN sản xuất linh kiện có vốn đầu tư từ Nhật Bản.

1.1.3. Khoảng trống các nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo của tác giả
- Một số nghiên cứu đề cập đến phát triển CNHTcụ thể cho mỗi ngành như:
Điện tử; Dệt may; Da giày…nhưng chưa có nghiên cứu nào cho phát triển CNHT

trong thời gian tới, cũng như xem xét các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển này, tác
giả đã tiến hành khảo sát lấy ý kiến đánh giá của các cán bộ lãnh đạo tại 350 DN
sản xuất, kinh doanh VLXD, tư vấn –thiết kế-giám sát XD trên thị trường hiện nay,
nhằm thu thập ý kiến của đội ngũ này cho các vấn đề trên. Công việc khảo sát được
thực hiện tại ba khu vực: Miền Bắc từ Ninh Bình trở ra, số lượng DN khảo sát là
140; miền Nam từ Bình Thuận trở vào, số lượng DN khảo sát là 120; miền Trung là
khu vực còn lại, số lượng DN khảo sát là 90. Kết quả thu về, số phiếu khảo sát là
350, tuy nhiên số phiếu hợp lệ là 300 phiếu. Dữ liệu thu được từ 300 phiếu gồm có


14

116 phiếu của khu vực phía Bắc, 105 phiếu của khu vực phía Nam và 79 phiếu của
khu vực miền Trung. Và phỏng vấn sâu 20 cán bộ lãnh đạo ngành XDDD. Dữ liệu
này được xử lý sơ bộ bằng phần mềm Excel trước khi đưa vào thành dữ liệu của
phần mềm SPSS16 để tiến hành phân tích.
Bảng 1.1: Vị trí khảo sát và số phiếu khảo sát

Số phiếu/ Khu vực

Số phiếu phát ra

Số phiếu thu về hợp lệ

Miền Bẵc

140

116


VL
ốp lát

Kính
XD

Tư vấn &thiết
kế, giám sát

Miền Bắc

20

22

24

28

15

7

Miền Trung

11

12

16


40

32

Khu vực

1.2.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp dữ liệu
1.2.2.1. Phương pháp phân tích số dữ liệu thứ cấp
Trong quá trình nghiên cứu, các thông tin báo cáo về tình hình hoạt động
phát triển CNHT ngành XDDD được tác giả thu thập dưới dạng các báo cáo tổng
hợp được Bộ XD, Tổng cục thống kê, Vụ Vật liệu xây dựng,Bộ kế hoạch và đầu tư,
báo cáo tài chính của các DN CNHT. Trong đó có các nội dung về vốn đầu tư,
GDP, lao động, doanh thu, chi phí, lợi nhuận…của các DN CNHT ngành XDDD.
Các số liệu trên được tác giả chọn lọc, xử lý và đưa vào nghiên cứu này dưới dạng
các bảng biểu, biểu đồ. Nội dung phân tích các số liệu này bao gồm phân tích so
sánh giá trị giữa các giai đoạn, ở đây là theo từng năm, từng giai đoạn.


15

1.2.2.2.Phương pháp phân tích dữ liệu sơ cấp
Phương pháp thống kê mô tả
Thống kê mô tả cho phép các nhà nghiên cứu trình bày các dữ liệu thu được
dưới hình thức cơ cấu và tổng kết (Huysamen, 1990). Các thống kê mô tả sử dụng
trong nghiên cứu này để phân tích, mô tả dữ liệu bao gồm các tần số, tỷ lệ, giá trị
trung bình và độ lệch chuẩn. Trong nghiên cứu này, sau khi tiến hành khảo sát đối
tượng làm việc tại các vị trí lãnh đạo như Ban Giám đốc hay Trưởng/ Phó phòng tại
các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh VLXD, Các công ty Tư vấn-Thiết kế-Giám
sát XD, tác giả tiến hành công việc tổng hợp dữ liệu và sử dụng phần mềm phân

(reliability) của từng thang đo, đánh giá độ phù hợp của từng mục hỏi (items) hệ số
tương quan alpha của Cronbach (Cronbach’s Coefficient Alpha) được sử dụng.
- Hệ số Cronbach’s alpha là một phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ
mà các mục hỏi trong thang đo tương quan với nhau (Hoàng Trọng & Chu Nguyễn
Mộng Ngọc, 2005), hệ số này đánh giá độ tin cậy của phép đo dựa trên sự tính toán
phương sai của từng item và tính tương quan điểm của từng item với điểm của tổng
các items còn lại của phép đo.
- Nhiều nhà nghiên cứu đồng ý rằng hệ số alpha của từng thang đo từ 0.8 trở lên
đến gần 1 thì thang đo lường là tốt, từ 0.7 đến gần 0.8 là sử dụng được. Cũng có
nhà nghiên cứu đề nghị rằng hệ số alpha từ 0.6 trở lên là có thể sử dụng được trong
trường hợp khái niệm đang nghiên cứu là mới hoặc mới đối với người trả lời trong
bối cảnh nghiên cứu (Nunnally, 1978; Peterson, 1994; Slater, 1995 dẫn theo Hoàng
Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2005).Vì vậy, đối với nghiên cứu này thì hệ số
alpha từ 0.6 trở lên là chấp nhận được.
- Khi đánh giá độ phù hợp của từng item, những item nào có hệ số tương quan
biến tổng (item-total correlation) lớn hơn hoặc bằng 0.3 được coi là những item có
độ tin cậy bảo đảm (Nguyễn Công Khanh, 2005), các item có hệ số tương quan biến
tổng nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại bỏ ra khỏi thang đo.
Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis)
Được sử dụng để kiểm tra tính đơn hướng của các thang đo (Hoàng Trọng &
Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2005) và độ giá trị cấu trúc của phép đo (Nguyễn Công
Khanh, 2005).
- Tính đơn hướng của thang đo được định nghĩa là sự tồn tại của chỉ một khái
niệm (construct) trong một tập biến quan sát (Garver & Mentzer, 1999) đó là mức độ
mà một tập biến quan sát biểu thị cho một và chỉ một khái niệm tiềm ẩn duy nhất.
- Độ giá trị cấu trúc (construct validity) gồm hai thành phần là độ giá trị hội tụ
(convergent validity) và độ giá trị phân biệt (discriminant validity). Độ giá trị hội tụ
liên quan đến câu hỏi “ Các biến đo lường dùng để đo một khái nhiệm tiềm ẩn có



CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
VÀ PHÁT TRIỂNCÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH
XÂY DỰNG DÂN DỤNG
2.1. Cơ sở lý luận về công nghiệp hỗ trợ
2.1.1. Khái niệm về công nghiệp hỗ trợ
Cụm từ “Supporting Industry” (công nghiệp hỗ trợ) xuất hiện lần đầu tiên
trong “Sách trắng về Hợp tác kinh tế năm 1985” của Bộ công thương Nhật Bản
(MITI, nay là Bộ Kinh tế, Công nghiệp và Thương mại, METI)[2]. Trong tài liệu
này, CNHT được dùng để chỉ các DN có đóng góp cho việc phát triển cơ sở hạ tầng
CN ở các nước Châu Á, hay các công ty sản xuất linh phụ kiện. Năm 1987, MITI
tiếp tục giới thiệu về thuật ngữ này với định nghĩa chính thức là các ngành cung cấp
những gì cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh phụ kiện và hàng hoá, cho các
ngành CN lắp ráp. Khái niệm CNHT ra đời và được Chính phủ Nhật Bản chính
thức sử dụng vào khoảng thời gian này, bởi sự phát triển mang tính lịch sử của nền
kinh tế những năm đó. Sự tăng giá của đồng tiền Nhật Bản đã làm cho các DN Nhật
Bản giảm xuất khẩu các sản phẩm cuối cùng và do vậy phải chuyển các cơ sở sản
xuất sang các nước có chi phí nhân công rẻ hơn. Tuy nhiên các nhà lắp ráp Nhật
Bản ở nước ngoài vẫn phải nhập khẩu linh phụ kiện từ các DNNVV Nhật Bản, Italy
do các DN nội địa tại nước sở tại không thể đáp ứng. Thuật ngữ CNHT lúc đó được
dùng để chỉ sự thiếu hụt các ngành CN như vậy ở các nước này. Sau đó, thuật ngữ
này đã được phổ biến đến các nước Châu Á khác cùng với các chương trình hỗ trợ
của Nhật Bản như New Aid Plan năm 1987, chương trình phát triển CNHT Châu Á
năm 1993.
Trần Văn Thọ [40] cho rằng, CNHT chỉ toàn bộ những sản phẩm công
nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính. Cụ thể là những
linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm…Và


19


20

xuất có khả năng tích hợp theo chiều ngang, cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện,
phụ tùng…cho khâu lắp ráp cuối cùng”[1]. Trong bản quy hoạch này, CNHT được
phân chia thành hai thành phần chính, phần cứng liên quan đến sản xuất và phần
mềm là hệ thống dịch vụ CN và marketing. Năm nhóm ngành đã được Chính phủ
chỉ định ưu tiên phát triển CNHT và được hoạch định kế hoạch phát triển cụ thể, đó
là: Điện tử, cơ khí chế tạo, ô tô, dệt may, da giày…
Như vậy, có thể thấy khái niệm về “công nghiệp hỗ trợ” ở VN có nét khác
biệt so với các khái niệm ở các quốc gia khác:
Thứ nhất: CNHT được xác định rộng hơn, từ khâu sản xuất nguyên vật liệu
đến cả các dịch vụ CN. Có thể thấy khái niệm này làm cho các ngành CNHT mở
rộng ra rất nhiều, không chỉ bao gồm một số lĩnh vực CN, không chỉ tập trung các
DN nhỏ và vừa mà cả các DN lớn và điều này đồng nghĩa với việc rất khó có thể
tạo ra được trọng tâm trong CNHT.
Thứ hai: Các ngành CNHT ở đây được xác định trên cơ sở các ngành CN hạ
nguồn (ngành lắp ráp như ô tô, cơ khí, dệt may, da giày, điện tử) chứ không xác
định trên đặc thù sản phẩm của ngành sản xuất phụ trợ (cơ khí chế tạo, nhựa, điện
tử…). Khái niệm này cũng được định nghĩa chưa thật rõ ràng, cụ thể đối với DN
hoặc những đối tượng ngoài lĩnh vực nghiên cứu.
Ngoài ra, cùng với thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ”, có một vài khái niệm
khác cũng được sử dụng để chỉ ngành CN chuyên cung cấp đầu vào như:
Công nghiệp liên quan và hỗ trợ: Thuật ngữ này được M.Porter sử dụng như
là yếu tố quyết định của lợi thế cạnh tranh quốc gia. Trong đó, CNHT được định
nghĩa như khu vực tạo ra yếu tố đầu vào được sử dụng rộng rãi, còn CN liên quan là
những ngành trong đó DN có thể phối hợp và chia sẽ các hoạt động trong cùng
chuỗi giá trị khi họ cạnh tranh với nhau, hoặc là những ngành sản xuất ra các sản
phẩm có tính chất bổ sung cho nhau.
Thầu phụ: Thuật ngữ này được sử dụng khá lâu trong CN nhưng không được
định nghĩa cụ thể. Theo cơ quan Phát triển CN Liên hợp quốc (UNIDO) thì thầu

CN sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh từ tư liệu sản xuất hoặc sản
phẩm tiêu dung [47].


22

Như vậy, CNHT là một thực thể kinh tế được hình thành từ thực tế phát triển
CN của các quốc gia. Dưới sự tác động của sự thay đổi cấu trúc CN, các nhà hoạch
định chính sách nhận thấy tầm quan trọng của một khu vực kinh tế và cần phải có
chính sách để thúc đẩy sự phát triển của khu vực này. Khái niệm CNHT được nhìn
nhận từ nhiều góc nhìn và quan điểm khác nhau, phụ thuộc vào mục tiêu qui hoạch
cũng như thiết lập chính sách CN đặc thù của các quốc gia. Có thể rút ra một số kết
luận quan trọng liên quan đến các vấn đề lý luận của CNHT:
Thứ nhất: CNHT là một khái niệm của CN hiện đại, được kế thừa từ những
khái niệm có liên quan và nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các ngành CN cung
cấp các yếu tố trung gian đầu vào cũng như các yếu tố hỗ trợ cho các ngành CN
then chốt, có giá trị kinh tế cao và quá trình sản xuất phức tạp.
Thứ hai: Khái niệm chung về CNHT tương đối đồng nhất, tuy nhiên tùy vào
mục đích sử dụng mà mỗi quốc gia có sự giới hạn phạm vi của ngành này ở một số
ngành cụ thể.
Thứ ba: Ngành CNHT không được xem xét trên hệ thống phân loại ngành
kinh tế theo quan điểm truyền thống (theo lĩnh vực sản xuất) mà chỉ được xem xét
như một ngành CN với sự tái định nghĩa các ngành CN theo cấu trúc dọc (theo hoạt
động sản xuất) dưới áp lực của chuyên môn hóa quy trình và tái cấu trúc DN CN.
Thứ tư: Đối với các quốc gia đang phát triển, CNHT đóng vai trò quan trọng
trong việc tạo ra sản phẩm xã hội, thúc đẩy tăng trưởng của các ngành CN mũi nhọn,
thu hút ĐTNN và nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, của vùng địa phương.
Thứ năm: Việc xác lập phạm vi của ngành CNHT phải căn cứ trên điều kiện
đặc thù cũng như hoạch định chính sách CN của mỗi quốc gia, không nên sử dụng
chung định nghĩa của các quốc gia khác nhau, vì như vậy có thể tạo ra sự phát triển

CNHT để cung cấp các chi tiết sản phẩm đó. Đến lượt nó, các DN được coi là hỗ trợ
cho sản phẩm đó lại cần các DN khác hỗ trợ cho mình. Cứ như vậy, để có hệ thống
các ngành CNHT, ngoài việc phải phát triển các ngành CN cơ bản, cần có sự phát
triển của các ngành CNHT khác nữa. Như vậy, chỉ với một sản phẩm, chuỗi giá trị
đã kéo dài và mở rộng ra hầu hết các ngành CN cơ bản và tạo ra giá trị cho nhiều
ngành CN khác.
Thứ tư: CNHT không phải là ngành “công nghiệp phụ”.
Nói đến CNHT người ta thường nghĩ đến các ngành sản xuất phụ tùng, linh
kiện, nguyên phụ liệu cho các ngành lắp ráp như ô tô, xe máy, điện, điện


24

tử…(ngành được xem là CN chính). Chính vì vậy, trên thực tế CNHT thường bị coi
là ngành CN phụ. Tuy nhiên, điều này hoàn toàn không hợp lý. Về mặt lý luận
CNHT có thể được hiểu là ngành đối xứng với ngành CN lắp ráp, có vai trò như
những ngành CN khác. Ngành CN chính, chỉ có thể phát triển khi ngành CNHT
phát triển và ngược lại, khi ngành CN chính đã phát triển sẽ tạo động lực thúc đẩy
phát triển CNHT.
Thứ năm: Thu hút số lượng lớn DN, nhất là các DNNVV
Một đặc điểm của CNHT là nó thu hút một số lượng DN lớn, với nhiều qui
mô khác nhau trong đó có một số lượng lớn các DNNVV. Do tính chất đa cấp và
phát triển theo hình cây của hệ thống CNHT, số lượng các DN ở các cấp thấp rất
lớn, đa phần là các DNNVV.

2.1.3. Phân loại công nghiệp hỗ trợ
Phân loại CNHT có thể được phân thành các tiêu thức sau:
Thứ nhất: Phân loại theo ngành nghề sản xuất ra sản phẩm cuối cùng
Theo cách tiếp cận về CNHT là một hệ thống bao trùm chuỗi giá trị sản xuất
ra một sản phẩm, một chủng loại sản phẩm cụ thể, CNHT có thể phân thành các

CNHT cũng từ yêu cầu XD chính sách phát triển liên kết CN mà ra. Đứng từ góc
nhìn từ các nhà đầu tư nước ngoài, đối tượng các nhà cung cấp mà họ thường nhắm
tới là những nhà sản xuất với các công nghệ và sản phẩm cụ thể như rèn, dập,
đúc…Việc phân loại CNHT theo công nghệ sản xuất cho phép các DN mà người
lập chính sách tại các nước đang phát triển xác định đúng đối tượng ưu tiên trong
chính sách của mình.

2.1.4. Vai trò của công nghiệp hỗ trợ
2.1.4.1. CNHT là nền tảng cho nền kinh tế
Trong phát triển CN, các ngành CNHT thường được ví như chân núi, tạo
phần cứng để hình thành nên thân núi và đỉnh núi chính là ngành CN sản xuất và
lắp ráp sản phẩm CN. Như vậy, CNHT có một số vai trò nổi bật đối với các ngành
CN cũng như đối với nền kinh tế.
Bảo đảm tính chủ động cho nền kinh tế. Việc cung ứng nguyên vật liệu, linh
kiện, các bán thành phẩm ngay trong nội địa làm cho nền CN chủ động, không bị lệ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status