Đánh giá công tác tiếp dân xử lý đơn thư, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai tại sở tài nguyên và môi trường Tuyên Quang giai đoạn 2008 - 2013 - Pdf 35

1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------------------------------

NGUYỄN THỊ HỒNG THÁI

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC TIẾP DÂN XỬ LÝ
ĐƠN THƯ, GIẢI QUYẾT ĐƠN THƯ KHIẾU
NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP VỀ ĐẤT ĐAI
TẠI SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TUYÊN QUANG GIAI ĐOẠN 2008 - 2013
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60 85 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN NGỌC NÔNG

Thái Nguyên – 2014


2
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,
nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường
sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội,
an ninh quốc phòng và các công trình phúc lợi công cộng. Đối với con người, đất
đai cũng có vị trí vô cùng quan trọng, con người không thể tồn tại nếu không có đất

Tuyên Quang là tỉnh nằm ở vị trí trung tâm của vùng Trung du và miền núi
phía Bắc, cách Hà Nội khoảng 165 km về Phía Bắc liền kề với vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ, Tuyên Quang là cầu nối thông thương giữa các tỉnh trong vùng và các
tỉnh thuộc một trong những vùng kinh tế trọng điểm của cả nước thông qua hệ
thống các đường giao thông huyết mạch. Trong những năm qua công tác quản lý
Nhà nước về đất đai đã được các cấp chính quyền từ cấp tỉnh đến cấp xã đặc biệt
quan tâm, chính vì vậy trong công tác quản lý về đất đai đã đạt được những kết quả
nhất định. Tuy nhiên do rất nhiều nguyên nhân nên công tác quản lý Nhà nước về
đất đai vẫn còn nhiều bất cập. Vì thế các vụ khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất
đai trong nhân dân vẫn được xem là những điểm nóng khó giải quyết.
Sở Tài nguyên và Môi trường Tuyên Quang là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ
ban nhân dân tỉnh. Có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện
chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực tài nguyên và môi trường trên địa bàn tỉnh,
trong đó thực hiện công tác tiếp dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo trong lĩnh
vực tài nguyên và môi trường. Nhằm phục vụ tốt hơn công tác quản lý Nhà nước về
lĩnh vực tài nguyên và môi trường, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tài
nguyên và môi trường nói chung, lĩnh vực quản lý đất đai nói riêng, ngay từ bước
đầu Sở Tài nguyên và Môi trường Tuyên Quang đã thực hiện công tác tiếp dân và
xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường theo đúng
quy định của pháp luật giúp cho việc giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo, tranh chấp
về đất đai dứt điểm và kịp thời.
Tuy nhiên trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang trong năm năm gần đây các vấn đề
liên quan đến đất đai vẫn còn nhiều nổi cộm, hàng năm Sở Tài nguyên và Môi
trường Tuyên Quang đã tiếp nhận nhiều đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về
đất đai. Năm 2011 Sở đã tiếp nhận 117 đơn thư, năm 2012 tiếp nhận 96 đơn thư,
năm 2013 đã tiếp nhận 87 đơn thư khiếu nại, tố cáo, tranh chấp và các đơn kiến
nghị, đề nghị khác liên quan đến lĩnh vực đất đai.


4



5
- Tổng hợp được kết quả tiếp dân, xử lý đơn thư, giải quyết đơn thư khiếu nại,
tố cáo và tranh chấp về đất đai tại Sở Tài nguyên và Môi trường Tuyên Quang giai
đoạn 2008-2013.
4. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:
Nghiên cứu quy trình, trình tự thủ tục công tác tiếp dân, xử lý đơn thư, giải
quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai.
- Ý nghĩa trong thực tiễn:
+ Đánh giá được những kết quả trong công tác tiếp dân, xử lý đơn thư, giải
quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai tại Sở Tài nguyên và Môi trường
Tuyên Quang giai đoạn 2008-2013.
+ Đưa ra phương án tối ưu nhất trong công tác tiếp dân, xử lý đơn thư, giải
quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai tại Sở Tài nguyên và Môi trường
Tuyên Quang.
+ Hướng dẫn công dân trình tự, thủ tục khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai.

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học và pháp lý công tác tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại,
tố cáo và tranh chấp về đất đai
1.1.1. Cơ sở khoa học


6
- Công tác tiếp công dân và xử lý đơn thư là công việc bước đầu của quá trình
tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo và những bức xúc của công dân về quyết
định hành chính hoặc hành vi hành chính hoặc những thắc mắc, tranh chấp... của

7
- Căn cứ Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 4 năm 2004 của Chính
phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003;
- Căn cứ Nghị định số 41/2005/NĐ-CP ngày 25/3/2005 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra năm 2004;
- Căn cứ Nghị định của chính phủ số 53/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm
2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật khiếu nại, tố cáo và luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo;
- Căn cứ Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2005;
- Căn cứ Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra năm 2011;
- Căn cứ Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT ngày 13/4/2005 của Bộ TN&MT
về hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29
tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003;
- Căn cứ Thông tư số 01/2009/TT-TTCP ngày 15 tháng 12 năm 2009 về quy
trình giải quyết tố cáo;
- Căn cứ Thông tư số 07/2011/TT-TTCP ngày 28 tháng 07 năm 2011 Thanh
tra Chính phủ hướng dẫn quy trình tiếp công dân.
1.2. Các quy định liên quan đến công tác tiếp dân, xử lý đơn thư, giải
quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai
1.2.1. Khái niệm về tiếp dân, xử lý đơn thư
Công tác tiếp dân là công việc của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, có vai
trò quan trọng trong quản lý hành chính Nhà nước. Góp phần giải quyết những vấn
đề của công dân, tổ chức... giúp các cấp chính quyền nắm được tình hình, nguyện
vọng của nhân dân trên địa bàn mình quản lý, giúp gắn kết giữa chính quyền và
nhân dân phát huy tính dân chủ trong mọi tầng lớp nhân dân.
Xử lý đơn thư là công việc của cán bộ chuyên môn và cán bộ tiếp dân thực
hiện trước và sau khi tiếp nhận nhằm giúp công tác khiếu nại, tố cáo của người dân

quyết khiếu nại.
- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức không phải
là người khiếu nại, người bị khiếu nại nhưng việc giải quyết khiếu nại có liên quan
đến quyền, nghĩa vụ của họ.
- Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính Nhà nước hoặc
người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước ban hành để quyết định
về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính Nhà nước được áp dụng
một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.


9
- Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính Nhà nước, của người
có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện
nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
- Quyết định kỷ luật là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan,
tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức thuộc
quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
- Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải
quyết khiếu nại.
“Khiếu nại về đất đai là việc các cơ quan, tổ chức, công dân đề nghị cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền xem xét lại các quyết định hành chính, hành vi hành chính
trong lĩnh vực đất đai khi có căn cứ cho rằng các quyết định, hành vi hành chính đó
là xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của mình ” [9, tr.470].
1.2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ khiếu nại
a. Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại
Tại Điều 17 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 [10]; Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2004, năm 2005 [13], [14]; Điều 12 của
Luật Khiếu nại năm 2011 [16] đã nêu rõ:
- Người khiếu nại có các quyền sau đây:
+ Tự mình khiếu nại.

+ Rút khiếu nại.
- Người khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
+ Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết;
+ Trình bày trung thực sự việc, đưa ra chứng cứ về tính đúng đắn, hợp lý của
việc khiếu nại; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan cho người giải quyết khiếu nại;
chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin,
tài liệu đó;
+ Chấp hành quyết định hành chính, hành vi hành chính mà mình khiếu nại
trong thời gian khiếu nại, trừ trường hợp quyết định, hành vi đó bị tạm đình chỉ thi
hành theo quy định tại Điều 35 của Luật này;
+ Chấp hành nghiêm quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.
- Người khiếu nại thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của
pháp luật.
b.Quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại
Tại Điều 18 Luật Khiếu nại, Tố cáo năm 1998 [10]; Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Khiếu nại, Tố cáo năm 2004, năm 2005 [13]; [14]; Điều 13 của
Luật Khiếu nại năm 2011 [16] đã nêu rõ:


11
- Người bị khiếu nại có các quyền sau đây:
+ Đưa ra chứng cứ về tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành
chính bị khiếu nại;
+ Được biết, đọc, sao chép các tài liệu, chứng cứ do người giải quyết khiếu nại
thu thập để giải quyết khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật Nhà nước;
+ Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đang lưu giữ, quản lý thông
tin, tài liệu liên quan tới nội dung khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu đó cho mình
trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có yêu cầu để giao cho người giải quyết khiếu
nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật Nhà nước;
+ Nhận quyết định giải quyết khiếu nại lần hai.

nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên
chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực là
việc công dân báo cho cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền biết về hành vi vi
phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đối với việc chấp hành quy
định pháp luật về quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực.
- Người tố cáo là công dân thực hiện quyền tố cáo.
- Người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo.
- Người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải
quyết tố cáo.
- Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và
việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo.
- “ Tố cáo về đất đai là sự phát hiện với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về
những hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai của cơ quan Nhà
nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cá nhân thuộc các
cơ quan, đơn vị đó hoặc của những người khác gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt
hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích tập thể và lợi ích của người sử dụng đất”
[9,tr.470,471].
1.2.3.2. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ tố cáo.
a. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo:
Tại Điều 57 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 [10]; Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2004, năm 2005 [13], [14]; Điều 9
Luật Tố cáo năm 2011[17] đã nêu rõ:
- Người tố cáo có các quyền sau đây:
+ Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật;


13
+ Được giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của mình;

quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;


14
+ Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền;
+ Bồi thường, bồi hoàn thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra.
“Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” [3], [10].
1.2.4. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai
1.2.4.1. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại
Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 [10]; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 15 tháng 6 năm 2004, năm 2005 [13], [14]; Luật Khiếu
nại năm 2011[16] tại các điều từ Điều 17 đến Điều 26 và các văn bản hướng dẫn thi
hành [4], [5], [7] đã nêu rõ:
- Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và Thủ
trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy
ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của
mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp.
- Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.
+ Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành
chính của mình.
+ Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành
chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân
dân cấp huyện đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã
hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết.
- Thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương.
Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương có thẩm quyền giải quyết

hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết.
+ Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành
chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nội dung thuộc thẩm quyền quản lý
Nhà nước của bộ, ngành đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại
lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết.
+ Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các cơ quan,
đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình.
- Thẩm quyền của Tổng thanh tra Chính phủ.
+ Giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các bộ, cơ quan
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp trong việc tiếp công dân, giải
quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật.
+ Trường hợp phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệt
hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ
chức thì kiến nghị Thủ tướng Chính phủ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền áp


16
dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với
người vi phạm.
- Thẩm quyền của Chánh thanh tra các cấp.
+ Giúp thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp tiến hành kiểm tra, xác
minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Thủ
trưởng cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp khi được giao.
+ Giúp thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp theo dõi, kiểm tra, đôn
đốc các cơ quan thuộc quyền quản lý trực tiếp của thủ trưởng trong việc tiếp công
dân, giải quyết, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệt hại đến
lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì
kiến nghị thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp hoặc kiến nghị người có
thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm,

nhiệm, quản lý trực tiếp.
+ Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của
Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp huyện, người đứng đầu, cấp phó của người đứng
đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh và cán bộ, công chức do mình bổ
nhiệm, quản lý trực tiếp.
+ Tổng cục trưởng, Cục trưởng và cấp tương đương được phân cấp quản lý
cán bộ, công chức có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong
việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu
đơn vị thuộc Tổng cục, Cục và cấp tương đương, cán bộ, công chức do mình bổ
nhiệm, quản lý trực tiếp.
+ Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có thẩm quyền giải quyết tố cáo
hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng
đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang
Bộ và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
+ Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp
luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Bộ trưởng, Thứ trưởng, Thủ
trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan
thuộc Chính phủ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cán bộ, công
chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
- Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện
nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức trong cơ quan khác của Nhà nước.
+ Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp có
thẩm quyền:


18
Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ,
công vụ của công chức do mình quản lý trực tiếp; của Chánh án, Phó Chánh án Tòa
án, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới.

19
+ Cấp huyện: Giải quyết giữa cá nhân với cá nhân, hộ gia đình với cá nhân,
giữa các hộ gia đình với nhau hoặc giữa cá nhân, hộ gia đình với tổ chức (tổ chức
thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp huyện).
Nếu một trong các bên tranh chấp không đồng ý với quyết định giải quyết của
cấp huyện thì có quyền khiếu nại tiếp lên Chủ tịch UBND giải quyết hoặc khiếu nại
lên Tòa án hành chính.
+ Cấp tỉnh: Giải quyết giữa các tổ chức với các tổ chức hoặc giữa cá nhân, hộ gia
đình với tổ chức (tổ chức thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của UBND cấp tỉnh).
Căn cứ để giải quyết tranh chấp về đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp
không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy
tờ được quy định tại khoản 1,2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003.
1.2.5. Trình tự giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai
Được quy định tại Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 [10]; Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 15 tháng 6 năm 2004, năm 2005
[13] [14]; Luật Khiếu nại năm 2011 [16], Luật Tố cáo năm 2011 [17].
1.2.5.1. Trình tự giải quyết khiếu nại
- Thụ lý giải quyết khiếu nại:(Quy định tại Điều 27 Luật Khiếu nại năm 2011) [16].
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền mà
không thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 11 của Luật này,
người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý giải quyết; thông báo
bằng văn bản cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển
khiếu nại đến và cơ quan thanh tra Nhà nước cùng cấp biết, trường hợp không thụ
lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do.
- Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu: ( Quy định tại Điều 28 Luật Khiếu nại
năm 2011) [16].
Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý;
đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá
45 ngày, kể từ ngày thụ lý.
Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không

- Hình thức tố cáo: (Được quy định tại Điều 19 Luật Tố cáo năm 2011) [17].
+ Việc tố cáo được thực hiện bằng đơn tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp.
+ Trường hợp tố cáo được thực hiện bằng đơn thì trong đơn tố cáo phải ghi rõ
ngày, tháng, năm tố cáo; họ, tên, địa chỉ của người tố cáo; nội dung tố cáo. Đơn tố
cáo phải do người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo
bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của từng người tố cáo, có chữ ký
hoặc điểm chỉ của những người tố cáo; họ, tên người đại diện cho những người tố
cáo để phối hợp khi có yêu cầu của người giải quyết tố cáo.
+ Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng dẫn
người tố cáo viết đơn tố cáo hoặc người tiếp nhận ghi lại việc tố cáo bằng văn bản
và yêu cầu người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ


21
nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp nhiều người đến tố cáo
trực tiếp thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo cử đại diện để trình bày nội
dung tố cáo.
- Thời hạn giải quyết tố cáo: (Quy định tại Điều 21 Luật Tố cáo năm 2011) [17]
+ Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo; đối
với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết
tố cáo.
+ Trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn
giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày; đối với vụ việc phức tạp thì không
quá 60 ngày.
1.2.5.3. Trình tự giải quyết tranh chấp về đất đai
Quy định cụ thể trong Luật Đất đai năm 2003 [11].
- Tại Điều 135, quy định: “ Hoà giải tranh chấp đất đai”
+ Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải
quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở.
+ Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn

thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ TN&MT; quyết định của Bộ trưởng Bộ
TN&MT là quyết định giải quyết cuối cùng.
- Tại Điều 137, quy định: Giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới
hành chính.
+ Tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới giữa các đơn vị hành chính do Uỷ
ban nhân dân của các đơn vị đó cùng phối hợp giải quyết. Trường hợp không đạt
được sự nhất trí hoặc việc giải quyết làm thay đổi địa giới hành chính thì thẩm
quyền giải quyết được quy định như sau:
Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương thì do Quốc hội quyết định;
Trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn thì do Chính phủ quyết định.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường, cơ quan quản lý đất đai của tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm
cung cấp các tài liệu cần thiết và phối hợp với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để
giải quyết các tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính.
1. 3. Tình hình tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về
đất đai trên cả nước
1.3.1. Tình hình khiếu nại, tố cáo
Từ năm 2008 đến 2013, các cơ quan hành chính nhà nước đã tiếp 2.336.828
lượt người đến khiếu nại, tố cáo và tiếp nhận, xử lý 1.015.603 đơn thư. Số lượng
công dân khiếu nại, tố cáo ngày càng tăng cả về số đoàn đông người, số vụ việc ( từ
187.037 vụ việc năm 2008 tăng lên 248.823 vụ việc năm 2013, tỷ lệ tăng 33,0 %; từ


23
2.466 lượt đoàn năm 2008 tăng lên 4.671 lượt đoàn năm 2013, tỷ lệ tăng 89,4 %).
Sự gia tăng ở các khu vực không đồng đều: khu vực phía Bắc tuy số vụ việc giảm
6,5%, nhưng số đoàn đông người tăng cao nhất (89 %); khu vực miền Trung - Tây
Nguyên tăng 65,2 % số vụ việc, 67,5 % số đoàn đông người; khu vực phía Nam

lệch hồ sơ, áp dụng pháp luật không đúng trong hoạt động tố tụng, gây thiệt hại
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
1.3.3. Kết quả công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo
1.3.3.1. Về tiếp công dân
Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ [27], [28], [29], Từ năm 2008 đến năm
2013, các cơ quan hành chính Nhà nước đã tiếp 2.336.828 lượt người đến khiếu nại,
tố cáo với 1.246.282 vụ việc; trong đó có 23.080 đoàn đông người với 210.684
người, 13.236 vụ việc, trong đó:
- Các địa phương đã tiếp 1.972.207 lượt người với 1.163.616 vụ việc và
18.620 đoàn đông người với 9.677 vụ việc (tiếp dân thường xuyên 1.590.414 lượt
người với 936.558 vụ việc và 14.923 đoàn đông người với 6.359 vụ việc ; Lãnh đạo
các cấp tại địa phương tiếp định kỳ và đột xuất được 381.793 lượt người với
227.058 vụ việc và 3.697 đoàn đông người với 3.318 vụ việc).
- Trụ sở Tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước tại Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp 364.621 lượt người với 82.666 vụ việc, 4.460 đoàn
đông người với 3.559 vụ việc.
1.3.3.2. Về xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo
Các cơ quan hành chính Nhà nước đã tiếp nhận, xử lý 1.015.603 đơn khiếu
nại, tố cáo với 1.246.282 vụ việc, có 437.674 vụ việc thuộc thẩm quyền. Trong đó:
- Về khiếu nại: Tiếp nhận, xử lý 889.648 đơn khiếu nại với 1.090.497 vụ việc,
382.965 vụ việc thuộc thẩm quyền (chiếm 87,50 % tổng số vụ việc KNTC thuộc
thẩm quyền).
- Về tố cáo: Tiếp nhận, xử lý 125.955 đơn tố cáo với 155.785 vụ việc, có 54.709
vụ việc thuộc thẩm quyền (chiếm 12,50% tổng số vụ việc KNTC thuộc thẩm quyền).
1.3.3.3. Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền
- Các cơ quan hành chính Nhà nước giải quyết 339.405 đơn khiếu nại, trong
tổng số 385.350 đơn thuộc thẩm quyền (đạt trên 88,0 %). Qua phân tích cho thấy,
số vụ khiếu nại đúng chiếm 19,35 %, số vụ khiếu nại có đúng, có sai chiếm 26,38%,
khiếu nại sai chiếm 54,27%.
- Các cơ quan hành chính Nhà nước giải quyết 44.925 đơn tố cáo trong tổng

nhượng lại cho người khác, dẫn đến người có đất bị thu hồi cho rằng thiếu sự công
bằng về lợi ích nên khiếu nại gay gắt. Có những trường hợp mặc dù nhà đầu tư đã
có sự hỗ trợ thêm nhưng cũng chưa đáp ứng được đòi hỏi của người có đất bị thu
hồi dẫn đến khiếu nại kéo dài, không dứt điểm được.
- Một số vụ việc khiếu nại về nhà, đất do lịch sử để lại như: đòi lại đất nông
nghiệp đưa vào Hợp tác xã, sau đó giải thể trả lại đất cho nông dân, đất sản xuất của
người dân nhưng sau đó đưa vào các nông - lâm trường quốc doanh và nay cổ phần
hóa... phát sinh trong những năm trước đây, đến nay chưa được giải quyết dứt điểm.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status