ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI THỊ NGỌC QUYÊN
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC ĐẤU GIÁ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2008 - 2012
Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số: 60 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. VŨ THỊ THANH THỦY
THÁI NGUYÊN - 2013
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào. Mọi sự
giúp đỡ cho hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các thông tin, tài liệu
trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2013
Tác giả luận văn
Bùi Thị Ngọc Quyên
ii
4. Yêu cầu .................................................................................................. 2
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU..............................................3
1.1. Khái niệm bất động sản và thị trường bất động sản.............................. 3
1.1.1. Bất động sản ................................................................................. 3
1.1.2. Thị trường bất động sản ................................................................ 4
1.2. Giá đất, định giá đất và thị trường bất động sản trên Thế giới.............. 4
1.2.1. Khái quát về giá đất trên Thế giới ................................................. 4
1.2.2. Khái quát về định giá đất và bất động sản ..................................... 5
1.2.3. Đấu giá đất ở một số nước trên thế giới ....................................... 7
1.3. Đất đai, nhà ở trong thị trường BĐS những năm qua ......................... 12
1.3.1. Khái quát quá trình hình thành giá đất ở nước ta......................... 12
1.3.2. Đánh giá nhu cầu về bất động sản ở Việt Nam............................ 14
1.4. Thực trạng đấu giá quyền sử dụng đất ở Việt nam............................. 17
1.4.1. Những quy định của pháp luật về đấu giá quyền sử dụng đất...... 17
1.5. Tình hình đấu giá quyền sử dụng đất trên địa bàn TP. Thái Nguyên .. 22
1.5.1. Các văn bản quy phạm pháp luật của Thái Nguyên về đấu giá
quyền sử dụng đất................................................................................. 22
1.5.2. Kết quả đấu giá quyền SDĐ của thành phố Thái Nguyên giai
đoạn 2008 - 2012.................................................................................. 32
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.....34
2.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................ 34
2.2. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 34
2.3. Nội dung nghiên cứu ......................................................................... 34
2.3.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của TP. Thái Nguyên .........34
iv
2.3.2. Tình hình quản lý sử dụng đất của thành phố Thái Nguyên,
tỉnh Thái Nguyên.................................................................................. 34
2.3.3. Đánh giá hiệu quả của công tác đấu giá quyền sử dụng đất......... 34
v
DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT
BĐS
: Bất động sản
GCN
: Giấy chứng nhận
HĐND
: Hội đồng nhân dân
KT-XH
: Kinh tế - xã hội
QH
: Quy hoạch
QSD
: Quyền sử dụng
SDĐ
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: So sánh diện tích các loại đất của Việt Nam giai đoạn 1990-2010............15
Bảng 1.2: Thành phần của hội đồng đấu giá quyền sử dụng đất do UBND thành
phố Thái Nguyên thành lập........................................................................24
Bảng 1.3: Tổng hợp kết quả đấu giá quyền sử dụng đất từ năm 2008 đến ngày
31/12/2012 trên địa bàn thành phố Thái Nguyên ......................................33
Bảng 3.1. Tổng hợp các loại đất của thành phố Thái Nguyên ....................................37
Bảng 3.2. Biến động dân số thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2005 – 2012 ............41
Bảng 3.3. Diện tích, cơ cấu sử dụng các loại đất chính năm 2012..............................46
Bảng 3.4. Cơ cấu diện tích đất theo mục đích sử dụng và đối tượng sử dụng............47
Bảng 3.5. So sánh diện tích, cơ cấu sử dụng đất năm 2011 và năm 2012 ..................47
Bảng 3.6. So sánh cơ cấu diện tích đất theo mục đích sử dụng và đối tượng sử
dụng đất .......................................................................................................48
Bảng 3.7: Danh sách lô đất đấu giá quyền sử dụng đất Phiên số 1 tại Khu dân cư
số 3- Phường Quan Triều - Thành phố Thái Nguyên................................50
Bảng 3.8: Danh sách lô đất đấu giá quyền sử dụng đất Phiên số 2 tại Khu dân cư
số 3- Phường Quan Triều - Thành phố Thái Nguyên................................50
Bảng 3.9: Danh sách lô đất đấu giá quyền sử dụng đất Phiên số 3 tại Khu dân cư
số 3- Phường Quan Triều - Thành phố Thái Nguyên................................51
Bảng 3.10: So sánh giá sàn và giá sau đấu giá.............................................................52
Bảng 3.11: Danh sách lô đất đấu giá quyền sử dụng đất phiên số 1 khu dân cư số
5 -phường Tân Thịnh - thành phố Thái Nguyên........................................53
Bảng 3.12: Danh sách lô đất đấu giá quyền sử dụng đất phiên số 2 khu dân cư số
5 -phường Tân Thịnh - thành phố Thái Nguyên.......................................53
Bảng 3.13: Hiệu quả kinh tế của 2 dự án đấu giá quyền sử dụng đất ở Thành phố
Thái Nguyên................................................................................................56
Bảng 3.14: Tổng hợp ý kiến của cán bộ về công tác đấu giá đất ................................60
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, từ năm 1993 Thủ tướng Chính phủ đã cho
phép thực hiện chủ trương sử dụng quỹ đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng.
Hình thức này trong thực tế đã đạt được một số thành quả làm thay đổi bộ mặt
của một số địa phương, nhưng trong quá trình thực hiện đã bộc lộ một số khó
khăn tồn tại như việc định giá cho các khu đất dùng để thanh toán chưa có cơ
sở, việc giao đất thanh toán tiến hành không chặt chẽ…[14]. Để khắc phục
những tồn tại đó, trong những năm gần đây Nhà nước đã thay đổi cơ chế đối
với việc dùng quỹ đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng theo hướng đấu thầu dự
án hoặc đấu giá quyền sử dụng đất. Công tác đấu giá quyền sử dụng đất đã
thực sự là một hướng đi mới cho thị trường bất động sản. Giá đất quy định và
giá đất theo thị trường đã xích lại gần nhau hơn thông qua việc đấu giá quyền
sử dụng đất.
Thành phố Thái Nguyên đã tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất từ năm
2001 đến nay. Việc đấu giá quyền sử dụng đất được thực hiện bằng nhiều
2
hình thức, cơ chế khác nhau, mỗi hình thức đều có những thành công và hạn
chế khác nhau. Vì vậy cần tiến hành nghiên cứu và đánh giá hiệu quả của
công tác đấu giá đất qua các dự án khác nhau với các phương án đấu giá khác
nhau đồng thời phân tích, đánh giá cơ sở pháp lý, cơ chế thực hiện và hiệu
quả kinh tế, xã hội và quản lý đất đai qua việc tổ chức đấu giá quyền sử dụng
đất trên địa bàn để đề xuất giải pháp giúp quy trình đấu giá ngày càng hoàn
thiện và hiệu quả nhất
Xuất phát từ yêu cầu trên, nhằm phân tích, đánh giá cơ sở pháp lý, cơ
chế thực hiện và hiệu quả kinh tế, xã hội và quản lý đất đai qua việc tổ chức
đấu giá quyền sử dụng đất trên địa bàn, tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Đánh
giá công tác đấu giá quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố Thái
Nguyên - tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2012".
2. Mục tiêu tổng quát
trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả tài sản gắn liền với nhà ở, công trình
xây dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất đai; các tài sản khác do pháp
luật quy định.
Đất đai là BĐS nhưng pháp luật mỗi nước cũng có những quy định
khác nhau về phạm vi giao dịch đất đai trên thị trường BĐS. Các nước theo
kinh tế thị trường như Mỹ, các nước EU, Nhật, Australia, một số nước
ASEAN (Thailand, Malaysia, Singapore) quy định đất đai và tài sản trên đất
là hàng hoá được giao dịch trên thị trường BĐS. Trung Quốc quy định đất đai
và tài sản trên đất được phép giao dịch trên thị trường BĐS, nhưng vì đất đai
thuộc sở hữu Nhà nước nên không được mua bán mà chỉ được chuyển quyền
sử dụng đất.
Ở Việt Nam không phải tất cả các loại BĐS đều tham gia vào thị
trường BĐS. Nhiều BĐS không phải là BĐS hàng hoá như các công trình hạ
tầng mang tính chất công cộng sử dụng chung. Đất đai là BĐS nhưng theo
pháp luật về chế độ sở hữu ở nước ta thì đất đai không phải là hàng hoá, mà
chỉ có quyền sử dụng đất, cụ thể hơn là QSD một số loại đất và của một số
đối tượng cụ thể và trong những điều kiện cụ thể mới là hàng hoá trong thị
trường BĐS.
4
Thực chất hàng hóa trao đổi trên thị trường bất động sản ở Việt Nam là
trao đổi giá trị quyền sử dụng đất có điều kiện và quyền sở hữu các tài sản gắn
liền với đất.
1.1.2. Thị trường bất động sản
Thị trường BĐS là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế
thị trường; Thị trường BĐS có thể được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, thị trường bất động sản là tổng hòa các mối quan hệ về giao
dịch bất động sản diễn ra tại một khu vực địa lý nhất định, trong một khoảng
thời gian nhất định. Theo nghĩa hẹp, thị trường bất động sản là nơi diễn ra các
một tài sản thống nhất và gọi chung là BĐS. Trong hoạt động định giá có định
giá BĐS và định giá đất. Định giá BĐS nói chung và định giá đất nói riêng là
một lĩnh vực được nhiều nước trên thế giới kể cả các nước phát triển cũng
như các nước đang phát triển quan tâm đầu tư nghiên cứu từ nhiều thập kỷ
qua. Tại các nước như Mỹ, Thuỵ Điển, Anh, Pháp, Australia, Malaysia,
Singapore, Thái Lan, Trung Quốc, định giá đất và BĐS đã trở thành một
ngành quan trọng của nền kinh tế. Các kết quả nghiên cứu về giá đất, các
nguyên tắc và phương pháp định giá đất và BĐS đã được đưa vào ứng dụng
rộng rãi trong hoạt động định giá, tạo điều kiện cho các giao dịch dân sự trên
thị trường bất động sản như mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế
chấp BĐS diễn ra thuận lợi. Hiện nay, hoạt động định giá đất và BĐS tại
nhiều nước trên thế giới vừa là một công cụ cần thiết trong hoạt động quản lý
của Nhà nước đối với thị trường BĐS vừa là một loại dịch vụ phổ biến trong
nền kinh tế thị trường nằm trong sự kiểm soát của Nhà nước.
Mặc dù có sự khác nhau về hình thức và tổ chức bộ máy Nhà nước,
nhưng nội dung định giá và quản lý Nhà nước đối với hoạt động định giá đất
và BĐS nói chung tại nhiều nước trên thế giới có những điểm rất giống nhau,
sự giống nhau đó có thể tóm tắt qua một số điểm chính sau đây:
1.2.2.1. Định giá và quản lý hoạt động định giá đất được xác định là một
trong những nội dung chính của hoạt động quản lý Nhà nước
Thông qua hoạt động này Nhà nước tăng cường sức mạnh của mình
bằng việc đảm bảo các nguồn thu cho ngân sách nhà nước đầy đủ, ổn định
6
dưới các hình thức thuế và lệ phí mà người sở hữu đất và BĐS khác phải nộp
theo quy định của pháp luật.
1.2.2.2. Hoạt động định giá đất và BĐS diễn ra trong hành lang pháp lý đã
được xác lập, trong đó các nội dung được thể chế hoá rất đầy đủ và chi tiết
a. Về chế độ định giá bất động sản
nước và tổ chức định giá của tư nhân. Tổ chức định giá tư nhân chịu sự quản
lý về mặt nhà nước của cơ quan định giá nhà nước.
- Đối với cơ quan định giá của Nhà nước:
+ Chức năng: xây dựng giá đất và BĐS; thực hiện quản lý nhà nước về
công tác định giá đất và BĐS trên phạm vi cả nước;
+ Cơ chế ban hành giá đất và BĐS được định giá theo chu kỳ hoặc định
giá ban đầu, những BĐS có giá trị lớn (tuỳ theo quy định của mỗi nước) chỉ có
hiệu lực pháp luật khi đã được Uỷ ban định giá trung ương phê duyệt (một tổ
chức hoạt động không thường xuyên, gồm nhiều bộ, ngành của Chính phủ và
đại diện của Hiệp hội định giá Trung ương - do các tổ chức định giá tư nhân
thành lập - tham gia). Trường hợp những thửa đất hoặc BĐS có sự tham gia
định giá của tư nhân, nếu kết quả định giá của các cơ quan đó có sự chênh lệch
lớn về giá trị mà các bên không thương lượng được thì buộc phải đưa ra toà để
giải quyết, quyết định của toà sẽ quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật.
- Đối với cơ quan định giá của tư nhân: được hình thành và phát triển
trong cơ chế thị trường nhằm đáp ứng các nhu cầu thường xuyên, đa dạng của
khu vực sở hữu tư nhân về đất đai và BĐS như: thế chấp, chuyển nhượng,
thuê, nhận thừa kế, bảo hiểm, đầu tư phát triển và trong nhiều trường hợp
nhằm giải quyết các tranh chấp về giá trị đất và BĐS của các bên có liên
quan. Tổ chức định giá tư nhân hoạt động chủ yếu dưới hình thức công ty
trách nhiệm hữu hạn.
1.2.3. Đấu giá đất ở một số nước trên thế giới
* Đấu giá đất ở Trung Quốc
Từ 01/7/1997 Trung Quốc đã chia thành 23 tỉnh, 5 khu tự trị, 4 thành
phố trực thuộc Trung ương và 1 khu vực Hành chính đặc biệt (Hồng Kông).
8
Theo Luật quản lý bất động sản của Trung Quốc (được Quốc hội Trung
Quốc thông qua ngày 05/7/1994 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/1995) thì
định cụ thể việc nộp tiền sử dụng đất và các biện pháp sử dụng cụ thể.
Việc phát triển BĐS trên đất được xuất nhượng phải đúng mục đích và
thời hạn ghi trong hợp đồng. Nếu sau một năm theo hợp đồng mà chưa đưa
vào xây dựng thì phải trưng thu phí bỏ hoang đến 20% giá trị xuất nhượng
quyền sử dụng đất; nếu sau 2 năm vẫn chưa đưa vào xây dựng thì có thể thu
hồi quyền sử dụng đất mà không bồi thường; trừ trong trường hợp bất khả
kháng hoặc do hành vi của Chính phủ hoặc cơ quan có liên quan hoặc do phải
làm công tác chuẩn bị mà phải kéo dài thời gian khởi công.
Đối với quyền sử dụng đất có được theo phương thức xuất nhượng, khi
chuyển nhượng BĐS phải phù hợp với những điều kiện sau đây:
+ Đã thanh toán hết quyền xuất nhượng quyền sử dụng đất theo đúng
hợp đồng và đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
+ Trong trường hợp xuất nhượng quyền sử dụng đất để phát triển đất
đai, đối với công trình xây dựng nhà ở thì đã đầu tư trên 25% tổng ngạch, đối
với dự án phát triển đất thì đã có điều kiện sử dụng đất công nghiệp hoặc đất
xây dựng khác.
Việc xuất nhượng quyền sử dụng đất bằng phương thức đấu giá, đấu
thầu hoặc thoả thuận song phương hiện nay chủ yếu được giao cho Trung tâm
Tư vấn và Định giá BĐS Trung Quốc (CRECAC) là một Viện Quốc gia đầu
tiên về BĐS chuyên trách cung cấp các dịch vụ cho việc phát triển và chuẩn
hoá thị trường BĐS ở Trung Quốc. Trung tâm được thành lập từ tháng 8 năm
1992 theo giấy phép của Ban Tổ chức Trung ương, CRECAC hoạt động dưới
sự chỉ đạo trực tiếp của Cục Quản lý Đất đai Quốc gia. Hiện nay, CRECAC
có 30 chi nhánh ở trong nước và nước ngoài với 300 cán bộ chuyên môn.
CRECAC chủ yếu cung cấp những dịch vụ như: Định giá BĐS, định giá tài
sản, tư vấn về đất xây dựng, Văn phòng thương mại về BĐS, Lập kế hoạch
đầu tư cho các dự án bất động sản, nghiên cứu thị trường BĐS …[11]
10
(3) - Những gia đình chủ đất đô thị tăng 14% và bình quân đất đai mỗi
gia đình nắm giữ giảm xuống 12%.
(4) - Diện tích đất đô thị sử dụng để xây nhà đã tăng 700%.
(5) - Số lượng nhà xây ở khu vực đô thị tăng 229%.
(6) - Diện tích tầng nhà xây tăng 330%.
(7) - Tổng ngân sách dành cho quỹ phúc lợi xã hội tăng 410%.
Những đặc trưng nêu ở mục (1), (2), (3) nói trên đã chỉ ra rằng việc
thâu tóm các quyền về đất đô thị ở Đài Loan bị phân tán dần dần và việc tích
tụ, mánh lới, đầu cơ trục lợi đất đô thị đã được hạn chế một cách hữu hiệu.
Những đặc trưng nêu ở mục (4), (5), (6) nói trên cũng cho thấy việc sử dụng
đất đô thị một cách có hiệu quả ở Đài Loan đang được đẩy mạnh, còn đặc
trưng ở mục (7) chứng tỏ rằng những đề án cho phúc lợi xã hội và công ích
cũng đang phát triển ở Đài Loan với một quy mô rộng lớn, do đó ngày càng
nhiều người trên đảo được hưởng phần lợi ích thu được từ việc giá đất đô thị
tăng lên.
* Đấu giá đất ở Nhật Bản
Tại Nhật Bản việc đấu giá BĐS chủ yếu được thực hiện đối với các tài
sản bảo lãnh, cầm cố quá hạn hoặc thi hành án theo quyết định của toà án. Sau
thời kỳ khủng hoảng kinh tế, tình hình đấu giá đất trên thị trường BĐS cũng
bị ảnh hưởng rất lớn bởi sự suy thoái kinh tế, các nhà chuyên kinh doanh bất
động sản cũng như các con nợ và toà án đều tập trung giải quyết những bất
động sản đang bị các ngân hàng cầm cố và tiến hành đấu giá. Khi toà án địa
phương tịch thu bất động sản của những cá nhân không thanh toán được nợ và
rao bán tài sản này, số tiền thu đuợc sẽ được tiến hành thanh toán cho những
khoản nợ [10].
Ví dụ: Toà án FUKUOKA trong năm 2004 đã bán đấu giá được trên
2000 BĐS và là lượng BĐS lớn nhất được bán trong vòng 10 năm gần đây.
Trình tự tổ chức đấu giá BĐS được thể hiện trong hình 1.1.
13
1.3.1.2. Giai đoạn từ năm 1946 đến năm 1980
Đây là giai đoạn thị trường BĐS ở nước ta bắt đầu được hình thành.
Cái mốc để đánh dấu sự hình thành thị trường BĐS ở nước ta là Bản hiến
pháp năm 1946 và sau này là Điều 11 của hiến pháp năm 1959, Nhà nước
Việt nam đã ghi nhận sự tồn tại của các hình thức sở hữu tài sản nói chung và
đất đai nói riêng. Tuy nhiên, thị trường BĐS trong giai đoạn này chưa có điều
kiện phát triển do tình hình chiến tranh (1946 - 1954), sau này do hình thức sở
hữu Nhà nước và sở hữu tập thể về đất đai chiếm ưu thế tuyệt đối (1960 1980). Trên thị trường, việc mua bán BĐS chủ yếu diễn ra đối với đất thổ cư,
giá đất được hình thành mang tính tự phát và nằm ngoài tầm kiểm soát của
Nhà nước và pháp luật.
1.3.1.3. Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1993
Tại Điều 19 của Hiến pháp năm 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu
toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Để cụ thể hoá Điều 19 của Hiến
pháp, tại Điều 5 và Điều 17 Luật Đất đai năm 1988 đã quy định: nghiêm cấm
việc mua, bán đất đai; khi chuyển nhượng quyền sở hữu nhà để ở, thì người
nhận chuyển nhượng nhà có quyền được sử dụng đất ở đối với ngôi nhà đó.
Như vậy, bằng các chế định pháp luật, Nhà nước Việt Nam chưa thừa nhận ở
Việt Nam có thị trường đất đai mà chỉ có thị trường BĐS là nhà để ở (mặc dù
trên thực tế thị trường ngầm về đất đai đang tồn tại và diễn ra sôi động ở hầu
hết các đô thị). Thị trường BĐS trong giai đoạn này cơ bản bị chia cắt: thị
trường nhà ở và các công trình xây dựng khác gắn liền với đất là thị trường
hợp pháp, thị trường đất không được pháp luật thừa nhận nhưng vẫn diễn ra
bất hợp pháp. [11]
1.3.1.4. Giai đoạn từ năm 1993 đến nay
Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước thống nhất quản lý. Tuy nhiên, để phù hợp với sự vận động và
phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, một số
15
dụng nhất định. Điều này thường dẫn đến giá cả nói chung cao hơn, nhưng giá
đất có tính sử dụng hạn chế sẽ thấp hơn.
Các nguyên tắc cung và cầu giải thích những khác biệt lớn trong giá trị
đất giữa khu vực đô thị và nông thôn, giữa các vùng đô thị khác nhau và thậm
chí giữa những vùng kế cận khác nhau trong cùng một vùng đô thị. Không
một hàng hoá nào khác lại biểu hiện sự biến thiên lớn về giá như vậy - chắc
chắn không phải hàng tiêu dùng không lâu bền, như thực phẩm, quần áo; cũng
không phải hàng tiêu dùng lâu bền như các trang thiết bị và ôtô; cũng không
phải là các công trình. Nói chung, một mặt hàng càng có khả năng bất biến,
thì giá của nó sẽ thay đổi càng lớn theo vùng.
1.3.2.2. Các nhu cầu về đất đai
Từ đầu năm 1990 đến nay, công tác quản lý và sử dụng đất đai ở nước
ta đã có nhiều chuyển biến tích cực, các loại đất được khai thác sử dụng triệt
để, tiết kiệm. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Địa chính (nay là Bộ
TNMT), trên toàn bộ tổng diện tích đất tự nhiên là 32.924.100 ha, diện tích
các loại đất của năm 2000 tăng so với thời kỳ năm 1990 - 1995 như sau
(không tính đất chưa sử dụng, sông suối, núi đá):
Bảng 1.1: So sánh diện tích các loại đất của Việt Nam
giai đoạn 1990-2010
Đơn vị tính : 1000 ha
LOẠI ĐẤT
Diện tích
Diện tích
Diện tích
972,2
1.532,8
1669,6
+136,8
371,0
379,3
+ 8,3
72,2
81,0
+ 8,8
3. Đất chuyên dùng
4. Đất ở nông thôn
5. Đất ở đô thị
817,8
16
Bảng thống kê trên cho thấy kết quả của việc khai thác sử dụng các loại
Theo chính sách nhà ở của nước ta, ngoài việc chuyển nhượng trao tay
về nhà ở và QSDĐ mà Nhà nước chưa kiểm soát được (khoảng 60.000 trường
hợp) thì thị trường nhà ở hiện nay đang là nhu cầu bức xúc trong đời sống xã
hội, hoạt động bán nhà kèm theo chuyển nhượng QSDĐ của các hộ gia đình,
cá nhân, xây dựng nhà ở để bán kèm theo chuyển nhượng QSDĐ của các tổ
chức kinh tế đang trở nên rất sôi động, giá cả có biến động lớn từ 1 - 7 triệu
đ/m2 (năm 2000) tăng lên 3 - 15 triệu đ/m2 (năm 2001). Tính đến giữa năm
1999, cả nước có 701,4 triệu m2 nhà ở, trong đó nhà ở đô thị là 144,5 triệu
m2, nhà ở nông thôn là 556,9 triệu m2.
Theo số liệu thống kê đến năm 2000, cả nước có 16,7 triệu hộ trong
đó ở đô thị có 4,0 triệu hộ, nông thôn 12,7 triệu hộ và tăng nhanh ở khu
vực đô thị, vấn đề nhà ở trong năm 2003 đã và đang được cải thiện tích
cực, góp phần phát triển kinh tế và lành mạnh hoá đời sống xã hội đối với
mọi tầng lớp dân cư.
1.3.2.4. Các nhu cầu hoạt động khác về đất đai
- Cho thuê lại đất đã xây dựng cơ sở hạ tầng
- Góp vốn liên doanh bằng nhà - đất với các tổ chức, cá nhân trong nước
và tổ chức cá nhân nước ngoài để sản xuất kinh doanh, đến nay, theo số liệu
thống kê của 55 tỉnh, thành phố trực thuộc TW, phía Việt Nam đã sử dụng giá trị
QSDĐ của 6.278 ha để góp vốn liên doanh với bên nước ngoài với tổng giá trị
gần lên tới 3,0 tỷ USD tương đương khoảng 45.000 tỷ đồng Việt Nam.
Như vậy, thị trường BĐS trong đó có thị trường QSDĐ đã khẳng định
sự tồn tại độc lập khách quan trong quá trình hình thành và phát triển thị
trường BĐS ở nước ta.
1.4. Thực trạng đấu giá quyền sử dụng đất ở Việt nam
1.4.1. Những quy định của pháp luật về đấu giá quyền sử dụng đất
Hội nghị TW 7 khóa 8 đã khẳng định quan điểm “Quyền sử dụng đất là
hàng hoá đặc biệt” và QSDĐ là một bộ phận quan trọng của thị trường BĐS,