i
LỜI CẢM ƠN
Lời cảm ơn đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng PGS.TS. Nghiêm Sỹ
Thương, TS Nguyễn Văn Nghiến giảng viên Viện Kinh tế và Quản lý, Trường Đại
học Bách Khoa Hà Nội. Những người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời
gian thực hiện luận án, sự khuyến khích, động viên của thầy đã giúp tôi vượt qua
những khó khăn trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận án.
Tiếp theo, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo của Viện
Kinh tế và Quản lý, Đại học Bách Khoa Hà Nội và các thầy cô giáo của Đại học
Kinh tế quốc dân, những người đã giảng dạy, phản biện chuyên đề, luận án, giúp tôi
có định hướng rõ ràng hơn trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận án.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sự giúp đỡ và hỗ trợ của các thầy cô, cán bộ Viện Đào
tạo sau đại học, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đối với tôi trong quá trình học
tập và thực hiện luận án.
Xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã hỗ trợ, động viên tôi trong suốt
thời gian thực hiện và hoàn thành luận án.
Xin chân thành cảm ơn !
Nghiên cứu sinh
NGUYỄN KHÁNH TƯỜNG
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số
liệu, tài liệu, kết quả được nêu trong đề tài là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ
ràng, không trùng lắp hay sao chép bất cứ công trình khoa học nào đã công bố. Các
kết luận khoa học trong luận án là kết quả quá trình nghiên cứu của riêng tôi.
GDĐH-CĐ
GDĐHCĐTT
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Cao đẳng bán công
Cao đẳng dân lập
Cao đẳng tư thục
Đại học cao đẳng công lập
Đại học cao đẳng dân lập
Đại học cao đẳng ngoài công lập
Hiệp định chung về thương mại General Agreement
trong lĩnh vực dịch vụ
on Trade in Services
Giáo dục đại học cao đẳng
Giáo dục đại học cao đẳng tư thục
HDI
Chỉ số phát triển con người
HĐQT
HTĐHCĐTT
HTGDĐH-CĐ
ICT
Hội đồng quản trị
Hệ thống đại học cao đẳng tư thục
Hệ thống giáo dục đại học cao đẳng
Công nghệ thông tin và truyền Information Technology
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số thứ tự
Tên bảng
Trang
DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT.......................................................iv
CHƯƠNG 1..................................................................................................................5
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHU VỰC
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CAO ĐẲNG TƯ THỤC........................................................5
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số thứ tự
Hình 1.1.
Tên hình
Trang
Sơ đồ đào tạo nhân lực tại Việt Nam....Error: Reference source not
found
Hình 1.2
Hệ thống giáo dục Đại học – Cao đẳng của Việt Nam............Error:
not found
Hình 2.5
Thống kê nhóm ngành nghề đào tạo.....Error: Reference source not
found
vi
Hình 2.6
Cơ cấu tổ chức trường ĐH tư thục tại Việt Nam.. .Error: Reference
source not found
Hình 2.7
Cơ cấu các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập..............Error:
Reference source not found
Hình 2.8
Thống kê số trường ĐH-CĐ giai đoạn 2000-2007.Error: Reference
source not found
Hình 2.9
Thống kê số trường ĐH-CĐ giai đoạn 2008-2011.Error: Reference
source not found
Hình 2.10
Sơ đồ mô hình quản lý nhà nước đối với khu vực GDĐHCĐTT
.....................................................Error: Reference source not found
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết, mục tiêu và nội dung nghiên cứu
Đối với bất kỳ nền kinh tế thị trường nào, khu vực tư nhân đóng vai trò không
thể thiếu và ngày càng quan trọng vì nó cho phép phát huy hết mọi nguồn lực trong
xã hội, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn
lực của xã hội và do đó tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững trong bối cảnh
nguồn lực là hữu hạn.
Sự tham gia của khu vực tư nhân diễn ra không chỉ trong phạm vi các hoạt
động sản xuất kinh doanh đơn thuần mà còn lan truyền sang các hoạt động khác
như an ninh, văn hóa-nghệ thuật và giáo dục. Ở các quốc gia trên thế giới, trong hệ
thống giáo dục và đào tạo từ lâu đã ra đời, tồn tại và phát triển một hệ thống các
trường đại học cao đẳng tư thục, khu vực này đã đóng góp to lớn vào quá trình phát
triển của cả hệ thống đại học cao đẳng và trở thành một trong các nguồn cung cấp
nhân lực có trình độ cao cho nền kinh tế.
Ở Việt Nam hệ thống các trường đại học cao đẳng ngoài công lập được hình
thành và phát triển từ những năm 1990 và đã có những đóng góp rất quan trọng cho
sự nghiệp phát triển giáo dục nước nhà. Thực hiện chủ trương xã hội hóa sự nghiệp
giáo dục của Đảng và Nhà nước, ngành giáo dục và đào tạo đã sớm triển khai đa
dạng hóa các loại hình trường như bán công, dân lập, tư thục ở các cấp học và trình
độ đào tạo (gọi chung là cơ sở GD-ĐT ngoài công lập) nhằm đáp ứng nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, tạo điều kiện và cơ hội học tập và học tập suốt đời cho mọi người
dân. Các cơ sở GD-ĐT ngoài công lập cùng song song hoạt động với các cơ sở GDĐT công lập và có nghĩa vụ, quyền lợi bình đẳng như nhau.
khu vực GDĐHCĐTT để khu vực này có thể hoạt động xứng đáng với kỳ vọng của
xã hội, góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Với những nội dung nghiên cứu trên, đề tài “Quản lý nhà nước đối với khu
vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục ở Việt Nam” là một công trình nghiên cứu
cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn nhằm thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo
dục của Đảng và Nhà nước.
Thông qua việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý nhà
nước và đề xuất được giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước, kết quả nghiên cứu
của đề tài có thể đóng góp một phần cho các nhà hoạch định chiến lược, các nhà
hoạch định chính sách giáo dục đại học trong việc xây dựng quy hoạch phát triển
khu vực GDĐHCĐTT ở nước ta, ban hành các chính sách và văn bản pháp lý có
liên quan cho sự hoạt động nhịp nhàng của khu vực này, trên cơ sở đó giám sát hiệu
quả hoạt động của toàn khu vực.
Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là một đóng góp hữu ích cho các trường trong
khu vực GDĐHCĐTT để xây dựng và hoàn thiện quy chế hoạt động cho trường đại
học, cao đẳng tư thục. Xây dựng mô hình phù hợp cho các trường đại học, cao đẳng tư
thục phù hợp với từng ngành nghề đào tạo.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà
nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục hiện nay ở Việt Nam. Phân
tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước ở lĩnh vực này, nhận diện những
điểm mạnh, điểm yếu để tìm ra nguyên nhân trên cơ sở đó có những giải pháp đề
xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học
3
cao đẳng tư thục.
Phân tích, đánh giá
trên cơ sở đối chiếu
lý luận và thực tiễn
Thu thập thông tin về
thực trạng quản lý nhà
nước đối với
HTĐHCĐTT ở VN
Nhận dạng điểm mạnh, điểm
yếu, cơ hội và thách thức
của
lý nhà
đối với
Trong quá trình nghiênquản
cứu,
luậnnước
án còn
sử dụng một số phương pháp
HTĐHCĐTT tại Việt Nam
nghiên cứu như phương pháp phân tích thống kê suy diễn, phương pháp tổng hợp
quy nạp, phương pháp đối chiếu so sánh, các phương pháp kiểm định của thống kê
học, hỗ trợ xử lý số liệu thông qua phần mềm EVIEWS 6.0 để tìm ra được các quan
Đề xuất giải pháp hoàn thiện
hệ tương tác ảnh hưởng củaQLNN
các nhân
tố HTĐHCĐTT
đến quản lý ởnhà nước trong lĩnh vực đào
Ý nghĩa khoa học của luận án:
Thứ nhất: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ, bổ sung thêm vào
hệ thống cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao
đẳng tư thục.
Thứ hai: Sử dụng các phương pháp thống kê với sự hỗ trợ của phần mền
SPSS để tính toán kết quả khảo sát, phục vụ cho công tác quản lý nhà nước đối với
khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục.
Thứ ba: Xây dựng hàm hồi quy bằng phương pháp OLS với sự hỗ trợ của
phần mềm EVIEWS 6.0 để tính toán một chỉ tiêu chủ yếu, kết hợp với kết quả khảo
sát làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp.
Ý nghĩa thực tiễn của luận án:
Thứ nhất: Đánh giá thực trạng tình hình hoạt động của khu vực giáo dục tư
thục. Chỉ ra được những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong quản
lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tư thục.
Thứ hai: Xây dựng mô hình quản lý nhà nước đối với khu vực giáo dục đại
5
học cao đẳng tư thục mang đặc thù của Việt Nam, có tham khảo mô hình của một số
quốc gia phát triển trên thế giới.
Thứ ba: Đề xuất những giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về giáo dục đại
học, cao đẳng tư thục trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ
nghĩa. Có những khuyến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống này ở nước ta trong thời
gian tới.
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI KHU VỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CAO ĐẲNG TƯ
THỤC
1.1 HỆ THỐNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TƯ THỤC VÀ CÁC NHÂN TỐ
Hình 1.1. Sơ đồ đào tạo nhân lực tại Việt Nam
Cùng với sự ra đời của nhà nước và sự phát triển của kinh tế xã hội, nhu cầu
nhân lực ngày càng cao cả về mặt số lượng và chất lượng, giáo dục tư nhân tự phát
không còn thích hợp và nhà nước cần phải nhận lãnh trách nhiệm hình thành và vận
hành hệ thống giáo dục quốc gia để đáp ứng nhu cầu này. Tuy nhiên do nguồn lực
của các chính phủ là hữu hạn và nhu cầu nhân lực lại rất lớn nên sự tham gia chính
thức của khu vực tư nhân là một tất yếu khách quan, kết quả là hệ thống giáo dục
quốc gia ngày nay được quản lý bởi chính phủ nhưng bao gồm cả khu vực nhà nước
và cả khu vực tư nhân.
7
Trên thế giới hiện nay, căn cứ vào tiêu chí quyền sở hữu, sự góp vốn và vai trò
của các sáng lập viên, người ta chia các trường đại học trên thế giới thành ba loại:
trường đại học công lập, trường đại học tư thục và trường đại học do các tổ chức tôn
giáo thành lập và quản lý. Tại các quốc gia khác nhau, tùy thuộc điều kiện kinh tế,
xã hội và lịch sử của mỗi nước, tầm quan trọng của mỗi loại trường này trong hệ
thống đào tạo quốc gia là rất khác nhau. Tại nhiều quốc gia Châu Âu như Áo, Đức,
Pháp, Thụy Sỹ hay Anh Quốc, các trường đại học tổng hợp hầu hết là công lập,
song được hưởng một chế độ tự trị, tự quản rất cao. Ngược lại, ở Hàn Quốc, Nhật
Bản hay Hoa Kỳ, các trường đại học tư thục chiếm vai trò và tỷ trọng lớn hơn,
nhiều trường đại học tư thục trong các quốc gia này có chất lượng hàng đầu thế
giới. Ở Hoa Kỳ, Châu Mỹ La tinh, và Philipines có những trường đại học được
thành lập và quản lý bởi các tổ chức tôn giáo. Ở các quốc gia khác, trong đó có cả
các quốc gia đang phát triển, từ gần ba thập kỷ nay người ta đã cho phép thành lập
các trường đại học tư thục.
Ở nước ta, trường đại học tư thục là cơ sở giáo dục đại học thuộc hệ thống
giáo dục quốc gia, do cá nhân hoặc một nhóm cá nhân là công dân Việt Nam xin
phép thành lập và tự đầu tư. Trường đại học tư thục có tư cách pháp nhân, có con
Như vậy, từ các quan điểm và thông tin trên, một cách chung nhất có thể hiểu:
“Trường đại học tư thục là cơ sở đào tạo do các tổ chức hay cá nhân đứng ra
thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất với nguồn kinh phí được huy động từ
nhiều nguồn khác nhau, hoạt động trong khuôn khổ luật pháp, nhằm đào tạo nhân
lực cho nhu cầu của xã hội với mục tiêu lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận”.
1.1.1.2 Các đặc điểm nổi bật của trường tư thục
Khái niệm về trường tư thục thường được sử dụng một cách lỏng lẻo, các nhà
nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách, các nhà giáo dục cũng như người dân
đôi khi sử dụng khái niệm này một cách không đồng nhất. Tuy nhiên, nhìn chung,
chúng ta có thể phân biệt khái niệm trường tư và trường công theo các tiêu chí sau
đây: (1) Quyền sở hữu (Vốn bằng tiền và bằng hiện vật ban đầu khi thành lập
trường); (2) Nguồn kinh phí hỗ trợ từ Nhà nước (Có hay không có sự hỗ trợ về vốn
của nhà nước); (3) Vì mục tiêu lợi nhuận hay phi lợi nhuận; và (4) Địa vị pháp lý
(theo văn bản pháp lý nào) và tư cách pháp nhân. Phần sau đây sẽ làm rõ hơn các
tiêu chí này.
(1) Quyền sở hữu
Chúng ta đều biết rằng cốt lõi của kinh tế thị trường là quyền sở hữu. Quyền
được hưởng trực tiếp lợi tức từ vốn đầu tư sẽ thúc đẩy việc đầu tư vào các nhà máy
hay cơ sở kinh doanh thương mại hoặc trường học, bệnh viện. Quyền được hưởng
thành quả lao động của bản thân sẽ thúc đẩy thị trường lao động và phân phối lợi
nhuận. Quyền chuyển nhượng tài sản là điều cần thiết cho việc sử dụng có hiệu quả
các nguồn lực. Chỉ có thông qua sự chuyển nhượng này mọi loại quyền sở hữu mới
có thể đạt được giá trị sử dụng cao nhất của nó.
Cơ sở pháp luật cho các loại hình khác nhau của quyền sở hữu bắt nguồn từ
Hiến pháp. Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới từ lâu đã thừa nhận quyền sở
hữu tư nhân trên mọi phương diện của đời sống xã hội. Ở nước ta trước năm 1992,
Hiến pháp chỉ quy định hai thành phần cơ bản trong nền kinh tế quốc dân: (1) Kinh
tế quốc doanh đại diện cho quyền sở hữu toàn dân, và (2) Kinh tế tập thể. Thời đó,
cùng tồn tại với thành phần kinh tế tập thể là các hoạt động hạn chế của thành phần
kinh tế tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Một
qua các dự án, các chương trình theo đơn đặt hàng của nhà nước.
Sự cần thiết của loại hình trường công, hay nói cách khác, sự cần thiết tài trợ
của xã hội dưới danh nghĩa nhà nước đối với giáo dục đào tạo, xuất phát từ các đặc
tính quan trọng sau đây của giáo dục trong nền kinh tế thị trường:
- Đặc tính phương tiện sản xuất có tính chất vô hình. Trong giáo dục đào tạo
phương tiện sản xuất có tính vô hình, chứ không phải hàng hóa dùng thỏa mãn nhu
cầu tiêu dùng. Điều này buộc người được giáo dục đào tạo phải có ý thức đầu tư.
- Đặc tính của hàng hóa chung (hàng hóa công cộng) hay lợi ích tỏa ra. Lợi
ích của giáo dục đào tạo không chỉ thu gọn vào thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của
người được giáo dục đào tạo, mà còn thỏa mãn lợi ích của toàn xã hội hay ít nhất
10
một số người khác kể cả những người không muốn được giáo dục đào tạo (không
chịu đi học).
- Đặc tính không thể tăng năng suất lao động của người làm thầy giáo như
tăng năng suất lao động sản xuất các loại hàng hóa thông thường khác.
Tuy nhiên, sự cần thiết của loại hình trường tư, tức là sự tham gia của khu vực
tư nhân trong giáo dục đào tạo cũng là một tất yếu khách quan vì:
- Nhà nước không thể có đủ mọi nguồn lực để trực tiếp đảm đương việc cung
cấp tất cả các hàng hóa công cộng (trong đó có giáo dục đào tạo), trong khi khu vực
tư nhân lại có sẵn những nguồn lực nhất định cần được khai thác.
- Ngoài ra, mức độ hiệu quả của khu vực tư nhân trong nhiều trường hợp
được coi là cao do các động lực cá nhân về lợi nhuận, danh tiếng cũng như lòng tự
trọng, và cả ý thức tuân thủ pháp luật [37].
(3) Trường tư vì lợi nhuận và phi lợi nhuận
Trong nền kinh tế thị trường, trường tư là một thực thể trên thị trường, nó phải
đầu tư vốn và tài sản để hoạt động giáo dục đào tạo nhằm mục đích sinh lợi. Vì vậy
điều kiện cơ bản đầu tiên của việc thành lập trường tư là người hay tập thể lập
trường tư phải có tài sản. Tài sản đưa vào để lập trường tư có thể là: (1) Vốn bằng
Muốn tham gia vào các quan hệ xã hội, trường phải có một địa vị pháp lý nhất
định để xác định ranh giới của nó trong mối quan hệ với các chủ thể pháp luật
khác. “Địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật là tổng thể các quyền và nghĩa
vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể
trong hoạt động của mình”.
Như vậy, địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật chính là “áo khoác pháp lý”
cho nó, giúp khách hàng, đối tác của chủ thể đó nhận dạng được mình sẽ, đang quan
hệ với loại chủ thể nào, quyền, nghĩa vụ của chủ thể đó ra sao để rồi họ quyết định
có tiếp tục có quan hệ với chủ thể đó hay không. Việc thiết kế một “áo khoác pháp
lý” cho tất cả các chủ thể pháp luật trong đó có ĐH-CĐTT khi họ tham gia vào
quan hệ pháp luật là hết sức cần thiết.
“Áo khoác pháp lý” của trường đại học cho phép sinh viên, đối tượng quan
trọng nhất của bất cứ một trường đại học nào biết được nơi mà họ sắp ghi danh có
quy chế pháp lý thế như nào, đây là cơ sở đào tạo vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận;
quyền lợi của họ được bảo vệ ra sao; để từ đó họ có thể lựa chọn cơ sở đào tạo thích
hợp. Tương tự như vậy, đối với bản thân những người chủ sở hữu của ĐH-CĐTT,
họ cũng cần biết nếu theo mô hình lợi nhuận hay phi lợi nhuận thì trường đại học
của họ có những lợi thế hoặc bất lợi gì. Đối với các cơ quan quản lý hay đối tác của
trường tư thục, việc biết đại học này khoác “áo khoác pháp lý” nào cũng rất cần
thiết. Nếu là mô hình phi lợi nhuận thì chính sách thuế của Nhà nước sẽ khác với
mô hình lợi nhuận ở chỗ nào? Nếu là mô hình lợi nhuận thì cơ chế kiểm soát tài
chính, cơ chế kiểm toán có khác gì không so với mô hình phi lợi nhuận? Cơ chế vay
vốn của các ngân hàng có khác hay không đối với hai mô hình này…
Địa vị pháp lý của các trường ĐH-CĐTT bao gồm tất cả những quy định của
pháp luật về quyền và nghĩa vụ của trường. Đây là vấn đề rộng được quy định ở
nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Các nghiên cứu cho thấy địa vị pháp lý của
trường ĐH-CĐTT thể hiện ở hai mặt cơ bản sau:
- Trường ĐH-CĐTT có địa vị pháp lý như trường đại học công lập. Trong
hệ thống giáo dục của một quốc gia ĐH-CĐTT là một thành viên có tư cách pháp
nhân, có con dấu và được mở tài khoản tại các ngân hàng, kho bạc nhà nước.
Có thể nói sự hình thành và phát triển của khu vực GDĐHCĐTT tại Việt Nam
cũng như hầu thế các quốc gia khác trên thế giới là một thực tế tất yếu nhằm phát
huy tối đa mọi nguồn lực trong xã hội, giảm bớt gánh nặng về ngân sách nhà nước
cho GDĐT để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội đối với nguồn nhân lực
và thỏa mãn nhu cầu được đào tạo của người học để tìm kiếm việc làm trên thị
trường lao động.
Với số lượng sinh viên đại học và cao đẳng là rất lớn, hầu như không có quốc
gia nào trên thế giới đủ ngân sách để bao cấp hoàn toàn cho giáo dục và đào tạo,
nên việc huy động các nguồn kinh phí ngoài nhà nước cho GDĐH-CĐ trở thành
chủ trương phổ biến của nhiều quốc gia trên thế giới, và công cuộc tư nhân hóa
GDĐH-CĐ đã phản ánh xu hướng đó.
13
Thực tế chỉ rõ rằng các cơ sở đào tạo tư nhân có năng lực tiềm tàng to lớn để
góp phần hiện thực hóa các mục tiêu nhiệm vụ của nhà nước giao cho họ. Các cơ sở
tư thục có thể tăng nguồn lực cho giáo dục bằng cách huy động các đóng góp tư
nhân (kể cả người học) bổ sung thêm cho nguồn tài chính do nhà nước cung cấp.
Các cơ sở này có thể tăng cường tính đa dạng cho cả hệ thống và vì vậy tăng khả
năng lựa chọn và đáp ứng nhu cầu của người sử dụng. Ngoài ra, khu vực
GDĐHCĐTT còn có khả năng thích ứng tương đối nhanh với những thay đổi và do
đó tăng cường tính đáp ứng của toàn bộ hệ thống. Nghiên cứu của ngân hàng thế
giới cũng chỉ ra rằng các HTĐH-CĐ tư là nguồn bổ sung quan trọng cho HTĐHCĐ công, có thể đáp ứng những nhu cầu của sinh viên và người thuê nhân công một
cách có hiệu quả và mềm dẻo.
Như vậy cả HTĐH-CĐ ngoài công lập và công lập đều cung cấp học vấn đại
học, nghề nghiệp cho người học và người sử dụng, nhưng mỗi khu vực thực hiện
một số công việc có sự khác biệt nhất định và việc đáp ứng nhu cầu người học,
người sử dụng cũng có sự khác biệt. Sự xuất hiện và phát triển của khu vực tư thục
trong hệ thống giáo dục nhằm bổ trợ những khiếm khuyết cho khu vực công lập. Về
mặt kinh tế xã hội, đóng góp của khu vực tư thục giúp xã hội đạt được bốn mục tiêu
Đại học
quốc gia –
Đại học
vùng
TrườngĐH
-CĐ Trực
thuộc Bộ
GDĐT
Trường
ĐH-CĐ,
Học viện
ngành
Cơ sở giáo dục ĐH –
CĐ ngoài công lập
Trường
ĐH-CĐ
cộng đồng
Trường
ĐH-CĐ
dân lập
Trường
ĐH-CĐ tư
thục
giới thiệu cho xã hội và cuối cùng là sáng tạo ra kho tàng tri thức mới. GĐĐHCĐ không chỉ cải thiện những lựa chọn cá nhân sẵn có cho tất cả mọi người, mà
còn tạo ra một lực lượng lao động có năng lực sáng tạo, biết chắt lọc và áp
dụng các tri thức thu được từ kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học vào
sản xuất và đời sống, góp phần làm tăng năng suất lao động và nâng cao mức sống
cho toàn bộ các thành viên trong xã hội, góp phần xóa bỏ khoảng cách thu nhập
giữa người giàu và người nghèo thông qua việc trang bị cho người học những tri
thức và kỹ năng cần thiết để làm việc.
Giáo dục đại học - cao đẳng với tư cách là phương tiện . GĐĐH-CĐ nói
chung và khu vực GDĐHCĐTT nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng cho sự
phồn thịnh của một nền kinh tế hiện đại, đó là nền “kinh tế tri thức”, nó ngày
càng có ý nghĩa quyết định đến sự thịnh vượng của nhân loại trong tương lai [ 17,
tr.227-237]; là phương tiện phát triển riêng của mỗi cá nhân, phương tiện xây
dựng nền văn hóa, chia sẻ truyền thống và cung cấp sức mạnh cho xã hội nói
chung. Là một phương tiện tích lũy tài sản và khả năng cạnh tranh của cá nhân
và xã hội.
Lợi ích lan tỏa hay lợi ích tràn xã hội của giáo dục đại học-cao đẳng. Một đặc
trưng riêng có của sản phẩm dịch vụ GDĐH-CĐ là lợi ích lan tỏa (hay còn gọi là lợi
ích tràn xã hội) không chỉ bản thân cho người học mà cho cả cộng đồng, do vậy khu
vực GDĐHCĐTT cũng không loại trừ hiệu ứng đó. Bởi vì những sản phẩm dịch vụ
GDĐH-CĐ với trình độ cao này có thể sẽ đem lại những thành tựu khoa học công
nghệ vượt bậc, đưa năng suất lao động tăng cao một cách đột biến hoặc tạo ra
những sản phẩm tiêu dùng có hàm lượng chất xám cao. Ngoài ra, loại sản phẩm của
dịch vụ này là những người công dân có ích với chính mình, có trách nhiệm với
gia đình, xã hội và quốc gia. Những sản phẩm như vậy được gọi là loại hàng hóa
có ngoại biên thuận. Nó không chỉ mang lại lợi ích cho cá nhân mà còn cho cả
xã hội và lợi ích xã hội luôn luôn lớn hơn lợi ích cá nhân. Tổng lợi ích xã hội sẽ
tăng lên nếu như loại sản phẩm này được sản xuất nhiều hơn. Đối với các lợi ích
của xã hội có được từ giáo dục đại học, ngoài cá nhân và gia đình, xã hội phải nhận
được những lợi ích này. Rất khó để xác định, định lượng và tính toán những lợi ích
đó. Do đó có rất nhiều tranh luận và sự phỏng đoán về việc chúng có tồn tại không
pháp như: Tài trợ trực tiếp cho đào tạo, nghiên cứu khoa học; khuyến khích tư nhân
(kể cả tư nhân nước ngoài) đầu tư phát triển GĐĐH-CĐ, nhất là đưới hình thức
không vụ lợi và điều tiết chất lượng kể cả lĩnh vực công cũng như tư.
Giáo dục đại học - cao đẳng với tư cách là một dịch vụ. Trong nền KTTT,
GĐĐH-CĐ nói chung và GDĐH-CĐ tư thục nói riêng được thực hiện dưới hình thức
cung cấp sức lao động của các giáo sư, giảng viên cho người học và người học mua
lao động của người dạy bằng phí, học phí, hoặc đóng thuế để nhà nước trả công, trả
lương cho họ. Dưới góc độ phân công lao động xã hội trong nền sản xuất hàng hóa,
loại lao động giảng dạy của các giáo sư, giảng viên không sản xuất ra tư bản. Theo
K.Marx, đó là loại lao động phi sản xuất và khi trao đổi, nó được mua-bán như một
dịch vụ và hàng hoá thông thường. Như vậy, sản phẩm GĐĐH-CĐ là một loại dịch
vụ và nó có đầy đủ tính chất kinh tế như các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ khác.
Thị trường dịch vụ GĐĐH-CĐ có một số ưu điểm chính sau:
- Một là, cơ chế thị trường làm cho dịch vụ GĐĐH-CĐ đáp ứng tốt hơn nhu
cầu của phát triển kinh tế - xã hội. Sự ra đời của thị trường dịch vụ GĐĐH-CĐ từng
bước giảm bớt sự tham gia trực tiếp của chính phủ trong hoạt động điều hành
17
trường đại học; chuyển quyền ra quyết định từ bộ, trường và khoa sang sinh viên và
gia đình; gắn kết các trường đại học với nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp
thông qua cơ chế đặt hàng đào tạo, thành lập trường đại học trong các công ty lớn
hay lập các công ty dịch vụ hoặc kinh doanh bên trong trường đại học, đồng thời
các giáo sư, giảng viên đại học có thể làm việc bán thời gian ở các doanh nghiệp...
- Hai là, cơ chế thị trường làm cho hệ thống giáo dục có khả năng thích nghi
và sáng tạo hơn. Một phần tài chính đại học được chia sẻ từ cha mẹ sinh viên hoặc
sinh viên những người được hưởng lợi cuối cùng của loại hình dịch vụ này.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, thị trường dịch vụ sản phẩm GĐĐH-CĐ cũng đầy
rẫy những rủi ro và bất trắc. Nó có thể làm xói mòn trách nhiệm xã hội, văn hóa và
các mục tiêu của nó. Vì nó chỉ đáp ứng các lợi ích và chi phí mà thực tế xuất
dụng mức giá (học phí) giống nhau đối với tất cả sinh viên, bất kể là chương trình
gì. Những người quản lý và các khoa trong trường đại học và cao đẳng, nhà lập
pháp, và bản thân sinh viên tin rằng đây chính là cách hợp lý để vận hành hệ thống.
Tuy nhiên một sự phản ánh nhỏ sẽ bộc lộ sự thiếu hiệu quả của nó.
Sự khác biệt về giá dựa trên sự khác biệt trong nhu cầu ví dụ xét hai
chương trình đào tạo đại học, quản trị kinh doanh và nông nghiệp. Giả sử ban đầu
sinh viên có nhu cầu về chương trình nông nghiệp được thể hiện bằng D a1Da1 trong
Hình 1.3. Chi phí cho một người một năm bao gồm tất cả các chi phí trừ các chi phí
vô hình đối với sinh viên cho một năm của chương trình. Đường cầu cho chương
trình nông nghiệp sẽ dốc xuống dưới về phía bên phải giống như hầu hết các đường
cầu – giá của chương trình càng thấp, thì sinh viên sẽ có nhu cầu nhiều năm hơn.
Đường cung Sa1Sa1 của chương trình nông nghiệp sẽ dốc lên trên về bên phải.
Trường đại học thu được càng nhiều tiền một năm từ việc bán các chương trình, thì
họ càng thu hút được nhiều nguồn lực hơn và sử dụng để mở rộng chương trình.
Đường cầu Db1Db1, và đường cung Sb1Sb1, đối với chương trình quản trị kinh doanh
về mặt lý thuyết giống như đối với chương trình nông nghiệp. Bây giờ tạm bỏ qua
đường Db2 Db2. Giả sử rằng do một sự trùng lắp, thì đường cung và đường cầu ban
đầu cho cả hai chương trình có các mức giá giống nhau; đó là P a1 tương đương với
Pb1. Mức độ của chương trình lần lượt là sa1 và sb1.
Bây giờ, để nhu cầu sinh viên trong chương trình quản trị kinh doanh tăng
ngang bằng với chương trình nông nghiệp, đường cầu quản trị kinh doanh di chuyển
tới Db2Db2, và đường cầu nông nghiệp di chuyển tới Da2Da2. Những tác động của việc
duy trì giá cân bằng cho hai chương trình là gì? Tại mức giá P b1, các trường đại học
không thể mở rộng chương trình quản trị kinh doanh và không có khả năng chi trả
các chi phí để làm như vậy. Việc thiếu cán bộ và cơ sở vật chất để giảng dạy quản
trị kinh doanh sẽ xảy ra. Các lớp học sẽ lớn hơn và phòng học sẽ chật chội hơn.
Chất lượng giáo dục sẽ bị giảm. Trong chương trình nông nghiệp, tại mức giá P a1
quy mô lớp học sẽ giảm xuống và các cơ sở vật chất sẽ ít bị sử dụng tối đa hơn. Có
sự dư thừa về cán bộ và thiết bị giảng dạy. Việc thiếu hoặc thừa những loại hình
này là phổ biến trong các trường đại học và cao đẳng hiện nay. Chúng thể hiện sự
tương đối đa dạng và phong phú.