Bộ giáo dục v đo tạo
Trờng Đại học kinh tế quốc dân
W X
TRầN VĂN THịNH
HON THIệN QUảN Lý NH NƯớC
ĐốI VớI LĩNH VựC VIễN THÔNG Việt Nam Chuyên ngành:
Kinh tế, Quản lý v Kế hoạch hoá KTQD
Mã số:
5.02.05
tót tắt luận án tiến sĩ kinh tế
Phản biện 3:
PGS.TS. Vũ PHáN
Trờng Đại học Phơng Đông
Luận án sẽ đợc bảo vệ tại Hội đồng chấm Luận án cấp Nhà nớc họp tại:
Trờng Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội
Vào hồi . giờ . ngày . tháng . năm 2007
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Th viện Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
Th viện Quốc gia
Danh mục các công trình của tác giả đã công bố
liên quan đến luận án
1. Trn Vn Thnh (2003), to th cnh tranh hóy hng ti vic
tha món khỏch hng, Thụng tin khoa hc k thut v kinh t Bu
in, s thỏng 3.2003, trang 3-4.
2. Trn Vn Thnh (2003), Mt s ý kin gúp phn hon thin chin
lc phỏt trin ngnh Bu in, Tp chớ ngõn hng, s thỏng
6.2003, trang 45-46.
3. Trn Vn Thnh (2004), Tp on kinh doanh v vic thnh lp
tp on Bu chớnh Vin thụng Vit Nam, Thụng tin khoa hc k
thut v kinh t Bu in, s thỏng 6.2004, trang 32-37.
4. Trn Vn Thnh (2006), Ci cỏch vin thụng v mt s vn t
các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông; chính sách viễn thông công ích… Cho đến tháng 7
năm 2006, tại Thư viện Quốc gia cũng không có luận án nào trùng lắp hoàn toàn với đề
tài luận án này. Chỉ có một số luận án dưới đây có nội dung gần gũi với đề tài của tác giả.
1)- Luận án tiến sỹ chính trị học công bố n
ăm 2004 của tiến sỹ Trần Đức Lai với
đề tài “Quyền lực nhà nước đối với lĩnh vực bưu chính viễn thông trong quá trình hội
nhập và phát triển của Việt Nam”.
2)- Luận án phó tiến sỹ khoa học kinh tế công bố năm 1994 của tiến sỹ Vũ Đức
Đam với đề tài “Xu hướng kinh nghiệm phát triển viễn thông trên thế giới và việc vận
dụng vào Việt Nam”.
3)- Luận án tiế
n sỹ kinh tế công bố năm 2004 của tiến sỹ Trần Văn Thắng với đề
tài “Quản lý nhà nước về thương mại trong giai đoạn hiện nay ở nước ta”. Mặc dù đề tài
này không nghiên cứu trực tiếp về lĩnh vực viễn thông, nhưng đây cũng là một đề tài có
nội dung gần gũi vì đề tài này cũng nghiên cứu về quản lý nhà nước, bên cạnh đó thì
phạm trù th
ương mại lại bao trùm phạm trù dịch vụ viễn thông.
Tóm lại, cho đến nay đã có những luận án, những công trình nghiên cứu công bố
tại các hội đồng khoa học và trên một số báo, tạp chí chuyên ngành có liên quan đến công
tác quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bưu chính viễn
thông nói riêng. Tuy nhiên, xét về hướng tiếp cận và nội dung nghiên cứu thì đề tài “Hoàn
thiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực viễ
n thông Việt Nam” vẫn là một công trình
nghiên cứu độc lập, không trùng lắp với các công trình nghiên cứu khoa học của các tác
giả khác đã công bố.
2
PHẦN MỞ ĐẦU
nhà nước đối với lĩnh vực viễn thông hiện nay đang được Bộ Bưu chính Viễn thông đặt ra
nghiên cứu và hoàn thiện. Thứ hai là, lĩnh vực kinh doanh viễn thông luôn là lĩnh vực có
sức hấp dẫn, số lượng nhà kinh doanh viễn thông sẽ không ngừng tăng lên, mối quan hệ
giữa chúng cũng sẽ ngày càng phức tạp, vai trò quản lý nhà nước đối với lĩnh vực viễn
thông cũng không ng
ừng cần phải có sự hoàn thiện.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực viễn thông.
Phạm vi nghiên cứu: Quản lý nhà nước đối với lĩnh vực viễn thông là một phạm trù với
nội hàm bao gồm nhiều vấn đề rất lớn như: Xây dựng định hướng, chương trình, chiến
lược, quy ho
ạch, kế hoạch phát triển viễn thông quốc gia; Định hướng và tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp viễn thông phát triển; Nghiên cứu, dự thảo các văn bản quy phạm
pháp luật về viễn thông; Ban hành các chính sách quản lý; Tổ chức thực hiện các văn bản
quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển viễn thông. Thanh tra,
kiểm tra, giải quyết khiếu nại và xử lý các vi phạm pháp luật về
lĩnh vực viễn thông. Tuy 3
nhiên, do thời gian, điều kiện và khả năng nghiên cứu có hạn, luận án này chỉ tập trung
nghiên cứu riêng lĩnh vực viễn thông của ngành Bưu chính Viễn thông trong giai đoạn
đầu hội nhập kinh tế thế giới của nước ta. Trong đó chuyên sâu về các chính sách điều tiết
thị trường viễn thông và cải cách ngành viễn thông Việt Nam.
4. Các phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện ch
ứng, duy vật lịch sử; phương pháp
phân tích hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp diễn giải, phương pháp quy nạp.
5. Những điểm mới của luận án
à Phân tích hệ thống và làm rõ thêm những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối
4
điểm riêng của một ngành công nghệ cao. Dưới đây là một số đặc điểm chính của ngành
viễn thông.
1. Quá trình sản xuất là quá trình truyền đưa tin tức từ người gửi đến người nhận, sản
xuất gắn liền với tiêu thụ.
2. Sản phẩm của viễn thông là sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao.
3. Viễn thông hoạt động “không biên giới”.
4.
Viễn thông hoạt động “đa phương”.
5. Viễn thông đòi hỏi lượng vốn đầu tư vào hạ tầng rất lớn.
6. Viễn thông chịu sự chi phối của quy luật “hiệu quả kinh tế nhờ quy mô”.
7. Viễn thông có thuộc tính “ngoại ứng mạng”.
8. Viễn thông mang đặc điểm của một ngành hạ tầng kinh tế
1.1.2- Sự phát triển và xu thế phát tri
ển viễn thông
1.1.2.1- Công nghệ và thiết bị
Công nghệ thông tin đã có sự biến đổi mang tính đột phá, đó là sự chuyển đổi từ
công nghệ tương tự (analog) sang công nghệ số (digital). Việc phát triển công nghệ thông
tin làm cho các thiết bị viễn thông trở nên thông minh hơn. Các hệ thống quản lý tự động
giúp con người dễ dàng phát hiện các vị trí lỗi trên mạng, chuyển đổi cấu hình mạng một
cách mềm dẻo và giám sát đượ
c liên tục chất lượng các dịch vụ.
Về thiết bị, việc phát hiện và ứng dụng cáp sợi quang vào truyền dẫn tín hiệu là
một sự cải cách lớn trong viễn thông. Cáp sợi quang đã làm cho hệ thống truyền dẫn có
được dung lượng lớn và có thể truyền đi ở cự ly xa. Cáp sợi quang có độ tin cậy cao hơn
và chất lượng tốt hơn so với cáp đồng trục và vi-ba trong khi chi phí đầu tư lạ
i thấp hơn
so với các thiết bị trước đó. Hệ thống thông tin di động phát triển đã thay thế một phần
các nước nhằm giành được cơ hội thu lợi nhuận cao.
Viễn thông hiệ
n nay và trong tương lai vẫn còn là lĩnh vực kinh doanh có lợi nhuận
cao, vì vậy nó sẽ thu hút một lượng không nhỏ các nhà kinh doanh trong và ngoài nước
đầu tư vào lĩnh vực này. Mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông sẽ ngày càng cao.
1.2- QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LĨNH VỰC VIỄN THÔNG
1.2.1- Sự cần thiết quản lý nhà nước đối với lĩnh vực viễn thông
1)- Tạo lập thị trường cạnh tranh
Trong giai đoạn chuyển đổi từ một thị trường độc quyền sang thị trường cạnh tranh, quản
lý nhà nước đối với lĩnh vực viễn thông là hết sức cần thiết vì những lý do sau:
1. Cơ quan quản lý nhà nước phải ủy quyền hoặc cấp phép cho các nhà khai thác mới,
phải hạ thấp hoặc gỡ bỏ các hàng rào gia nhập cho các nhà khai thác mới có điều
kiện thâm nhập thị tr
ường để tạo một thị trường viễn thông cạnh tranh.
2. Cơ quan quản lý nhà nước phải giám sát việc kết nối giữa các nhà khai thác mới với
nhà khai thác chủ đạo để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khai thác mới gia nhập
thị trường.
3. Cơ quan quản lý nhà nước phải đứng ra làm trọng tài cho các nhà khai thác khi có những
tranh chấp, đặc biệt là tranh chấp giữa các nhà khai thác với nhà khai thác chủ đạo.
4. Cơ quan quản lý nhà nước phải điều tiết để đảm bảo thị trường cạnh tranh mà vẫn
phục vụ được các vùng có chi phí khai thác cao hay các thuê bao có thu nhập thấp.
2)- Duy trì môi trường cạnh tranh
Khi thị trường cạnh tranh đã được xác lập, thường thì các nhà khai thác có xu
hướng muốn giảm sự can thiệp của nhà nước, nhưng ngay cả trong giai đoạn này sự can
thiệp của cơ quan quản lý nhà nước cũ
ng vẫn rất cần thiết vì các lý do sau đây:
1. Tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động. Tạo môi trường thuận lợi để
gọi vốn đầu tư cho hạ tầng thông tin quốc gia từ mọi nguồn vốn trong và ngoài nước.
2. Thúc đẩy môi trường cạnh tranh nhằm đem lại cho xã hội các dịch vụ viễn thông tiên
phát triển để làm phương tiện cho nhà nước điều khiển nền kinh tế đi đúng định
hướng. Bên cạnh đó cơ quan quản lý nhà nước cũng tạo điều kiện cho các thành phần
kinh tế khác phát triển một cách bình đẳng.
5)- Tổ chức thực hiện các văn bả
n quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
phát triển viễn thông. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại và xử lý các vi phạm
pháp luật về lĩnh vực viễn thông.
1.3- QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LĨNH VỰC VIỄN THÔNG Ở MỘT SỐ
NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ KHẢ NĂNG VẬN DỤNG VÀO NƯỚC TA
Do mục đích của việc nghiên cứu kinh nghiệm các nước là nghiên cứ
u giai đoạn
bắt đầu mở cửa thị trường viễn thông nên dữ liệu được thu thập và nêu ra dưới đây chỉ
cập nhật đến giai đoạn thực hiện cải cách viễn thông của từng nước. Thuật ngữ cải cách
hoặc cải tổ ở đây được lấy theo nghĩa của từ reform trong tiếng Anh mà hầu hết các tài
liệu đề
u sử dụng để chỉ việc tổ chức lại lĩnh vực viễn thông của nước mình cho phù hợp
với yêu cầu chuyển đổi sang nền kinh tế mở, hội nhập với kinh tế thế giới.
1.3.1- Anh
Vào đầu những năm 80, bưu chính và viễn thông Anh cùng nằm chung trong một
doanh nghiệp độc quyền sở hữu nhà nước có tên Bưu chính Anh. Các dịch vụ bưu chính
và viễn thông đều do Bưu chính Anh cung cấ
p. Chỉ riêng dịch vụ viễn thông quốc tế là do
công ty Cable & Wriless (C&W) cung cấp. Năm 1981, luật viễn thông Anh được thông
qua, viễn thông được tách ra khỏi bưu chính, thành lập Công ty Viễn thông Anh British
Telecom (BT) và Công ty Bưu chính Hoàng gia Royal Mail (RM). Dưới đây là bảng thống
kê các mốc sự kiện của quá trình cải cách viễn thông Anh: 7
Bảng 1.1: Những sự kiện lớn trong quá trình mở cửa của viễn thông Anh
nước. Đến năm 1989, Viễn thông Úc được cải tổ. Chức năng quản lý nhà nước đã được
chuyển giao cho Uỷ ban quản lý viễn thông Úc (AUSTEL).
Bảng 1.2: Những mốc quan trọng trong quá trình cải cách viễn thông Úc
Nguồn ITU
1990
Lĩnh vực Viễn thông bắt đầu được mở cửa cho cạnh tranh. Viễn thông Úc được hợp nhất với
OTC và đổi tên thành Telstra.
Ban hành Luật Viễn thông (1991)
Thành lập Cơ quan quản lý nhà nước AUSTEL
1991
Mở rộng cạnh tranh, cấp thêm 3 giấy phép di động cho Telstra, Optus và Vodafone, nhưng thị
trường viễn thông Úc vẫn hạn chế số lượng nhà cung cấp hạ tầng mạng và dịch vụ
Ban hành Luật Viễn thông (1997)
Chuyển trách nhiệm quản lý nhà nước từ AUSTEL sang ACCC (Uỷ ban Người tiêu dùng và
Cạnh tranh Úc) và ACA (Uỷ ban Viễn thông Úc)
Cổ phần hóa Telstra (cho phép bán 49% giá trị tài sản của công ty này)
Giới hạn trần về số lượng các công ty tham gia thị trường bị xoá bỏ
1997
Telstra được chỉ định là nhà cung cấp dịch vụ phổ cập và cung cấp dịch vụ truyền số liệu số tới
mọi người dân Úc.
1.3.3- Trung Quốc
Trung Quốc là một trong những nước mới cải cách ngành viễn thông trong những
năm cuối cùng của thế kỷ 20. Đến nay, viễn thông Trung Quốc đã phát triển khá mạnh mẽ
và ổn định. Mạng điện thoại cố định và di động của Trung Quốc được đánh giá rất cao 8
trên thế giới. Tuy nhiên, quá trình cải cách ngành viễn thông Trung Quốc cũng mới chỉ ở
giai đoạn đầu để tiến tới một thị trường hoàn hảo hơn trong tương lai.
Bảng 1.3: Quá trình cải cách viễn thông Trung Quốc
Tư nhân được phép sản xuất thiết bị viễn thông. Các nhà sản xuất thiết bị quốc tế lớn như
Alcatel, AT&T, Ericsson, Fujitsu và Siemens tham gia thị trường
1992 Cho phép tư nhân cạnh tranh trên thị trường các dịch vụ giá trị gia tăng
1994
Công bố Chính sách Viễn thông.
Công bố văn bản hướng dẫn việc tư nhân tham gia thị trường dịch vụ cố định.
Cấp các giấy phép cung cấp dịch vụ di động cellular tại 4 đô thị.
1997
DOT ký giấy phép và thoả thuận kết nối cho nhà cung cấp dịch vụ cơ bản đầu tiên với để cung
cấp dịch vụ ở Madhya Pradesh; Tiếp theo, các vùng Gurajat, Andhra và Punjab cũng được cấp
phép cho các nhà khai thác cung cấp đối với viễn thông cơ bản.
1999
Chính sách Viễn thông mới được phê chuẩn.
TRAI ban hành Thể lệ đầu tiên về Cước kết nối và cước sử dụng.
Các nhà khai thác cellular được phép sử dụng bất cứ công nghệ số nào.
MTNL được cấp phép cung cấp dịch vụ di động cellular với các điều khoản linh hoạt về công
nghệ.
Chính phủ phê chuẩn việc chuyển từ mức đấu thầu lệ phí giấy phép sang lệ phí giấy phép trên cơ
sở phân chia doanh thu cho các dịch vụ cơ bản và dịch vụ di động cellular. 9
1.3.5- Những vấn đề rút ra từ kinh nghiệm của các nước
1)- Cơ quan quản lý viễn thông
Trong giai đoạn mới hình thành, nhà nước vừa quản lý vừa độc quyền kinh doanh.
Nhưng xu hướng của các nước là tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng
kinh doanh càng rõ ràng càng tốt. Bên cạnh đó, các nước đều nhận thấy việc thành lập
một Ủy ban xử lý tranh chấp trong lĩnh vực viễn thông là hết sứ
c cần thiết.
2)- Hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực viễn thông
trường viễn thông, đảm bảo lợi ích quốc gia.
1.3.6- Khả năng vận dụng vào Việt Nam
Mặc dù có những điểm tương đồng với các nước trên thế giới, nhưng Việt Nam
cũng có những đặc thù riêng nên việc vận dụng kinh nghiệm của các nước cần
được chọn
lọc và nghiên cứu kỹ lưỡng. Nước ta có thể áp dụng một số vấn đề sau: 10
Một là, cơ quan quản lý nhà nước
Nghiên cứu điều chỉnh chức năng nhiệm vụ của Bộ Bưu chính Viễn thông hướng
tới độc lập hóa chức năng hoạch định chính sách và chức năng quản lý. Xem xét việc
thành lập Ủy ban xử lý tranh chấp để giải quyết các vấn đề tranh chấp trong viễn thông.
Hai là, hệ thống pháp luật
Nước ta hiện mới chỉ có pháp lệnh bư
u chính viễn thông, mà việc hội nhập kinh tế
thế giới lại luôn đòi hỏi tất cả các nước phải xây dựng hệ thống luật pháp đầy đủ, rõ ràng.
Vì vậy, nước ta cũng cần sớm nghiên cứu, ban hành luật viễn thông.
Ba là, tạo lập và thúc đẩy cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông
Mục tiêu trong dài hạn của nước ta cũng sẽ là mở cửa hoàn toàn thị trường viễn
thông. Tuy nhiên, giai đoạ
n hiện tại nước ta nên cấp bao nhiêu giấy phép và tương lai sẽ
cấp bao nhiêu giấy phép cho các nhà khai thác viễn thông.
Bốn là, chính sách kết nối các mạng viễn thông
Muốn tạo lập môi trường cạnh tranh cần phải có chính sách kết nối nhằm tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp mới được kết nối mạng của mình vào mạng của các doanh
nghiệp thống lĩnh thị trường.
Năm là, quản lý chất lượng dịch vụ viễn thông
Song song với việc thúc đẩy cạnh tranh cần có một chính sách quản lý chất lượng
dịch vụ viễn thông nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và cũng là để duy trì sự cạnh
điện chủ yếu phục vụ sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, phục vụ sự nghiệp đấu tranh giải
phóng dân tộc của nhân dân ta. Trong những năm từ 1975 đến 1986, đất nước ta vẫ
n tiếp
tục duy trì một nền kinh tế chỉ huy tập trung, cơ chế bao cấp bao trùm tất cả các ngành các
cấp. Toàn bộ lĩnh vực viễn thông của cả nước chỉ do một đơn vị là Tổng cục bưu điện
phục vụ.
2.1.1.2- Từ năm 1986 đến nay
Tích cực thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, ngành viễn thông
Việt Nam đã t
ăng tốc độ phát triển mạng lưới và dịch vụ.
1)- Phát triển hạ tầng mạng lưới viễn thông
Trong 20 năm đổi mới của đất nước (1986 - 2006), viễn thông Việt Nam đã có
những thay đổi lớn về cơ sở hạ tầng mạng phù hợp với yêu cầu của giai đoạn hội nhập phát
triển. Điều này đã dẫn đến việc số máy thuê bao đ
iện thoại phát triển một cách vượt bậc.
-
5
10
15
20
25
30
thueâ bao
100,000 1,000,000 2,500,000 5,000,000 10,000,000 15,000,000 30,000,000
1986 1996 1999 2002 2004 2005 2006
Biểu đồ 2.1: Số máy điện thoại tại các năm 1986 đến 2006
2)- Phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ
Trong 20 năm qua, viễn thông Việt Nam đã có những bước phát triển cực kỳ nhanh
x x x x x x
Các dịch vụ trên nền mạng
thế hệ sau NGN
x x x x x
Điện thoại di động
S-Fone
x x x x
Điện thoại di động
Viettel Mobile
x x x
Điện thoại di động
HT Mobile x
4)- Mở cửa thị trường viễn thông
Thực hiện đường lối đổi mới, ngành viễn thông Việt Nam đã nhanh chóng chuyển
từ cơ chế bao cấp với một doanh nghiệp duy nhất là Tổng cục bưu điện, sang cơ chế thị
trường, xoá bỏ độc quyền doanh nghiệp, thúc đẩy cạnh tranh, tạo điều kiện cho nhiều
thành phần kinh tế tham gia phát triển và cung cấp dịch v
ụ bưu chính viễn thông.
Thị phần điện thoại di động năm
2002
Mobifone,
48%
S-fone, 0%
Vinaphone,
52%
Viettel, 0%
Mạng truyền dẫn
Cáp quang; viba
công nghệ PDH và SDH
Cáp quang; viba
công nghệ SDH toàn bộ
Mạng truy nhập
Cáp đồng; dây sub; vô tuyến
thoại; VSAT
Sử dụng 1 kênh thoại POTS
Cáp đồng; dây sub; vô tuyến thoại; VSAT;
Wireless local loop; Cáp quang
Sử dụng POTS; N-ISDN; xDSL
Mạng thông tin di
động
GSM GSM
CDMA
GMPCS
2.1.2.3 - Phát triển về sản phẩm và dịch vụ viễn thông
Các lĩnh vực viễn thông, truyền thông, công nghệ thông tin sẽ hội tụ trong một dịch
vụ thông tin đơn nhất. Internet sẽ trở thành một phương tiện truyền thông mới. Điện thoại
di động phát triển lấn át điện thoại cố định. Dịch vụ gia tăng giá trị được mở rộng. Các
dịch vụ đ
iện thoại truyền thống, nhắn tin, fax, điện báo sẽ dần dần bị thay thế bởi các dịch
vụ đa phương tiện.
2.1.2.4 - Xu hướng phát triển thị trường viễn thông
Thị trường viễn thông sẽ chuyển mạnh sang cạnh tranh. Khi Việt Nam gia nhập
WTO, ngoài các doanh nghiệp viễn thông trong nước sẽ có thêm các doanh nghiệp nước
ngoài tham gia cạnh tranh. Đồng thời các doanh nghiệp viễn thông trong nước cũng sẽ
tích cự
c vươn ra hoạt động trên thị trường quốc tế.
tổ chức và chức năng nhiệm vụ. Cùng trong năm này, Nhà nước cho phép Công ty viễn
thông quân đội (Viettel) và Công ty cổ phần dịch vụ bưu chính viễn thông Sài Gòn
(SaigonPostel) tham gia vào thị trường viễn thông. Chính thức từ thời điểm này thị trường
viễn thông Việt Nam mới bắt đầu có cạnh tranh và cũng từ thời gian này công tác quản lý
nhà nước về viễn thông mới có những chức năng nhiệm vụ khác hơn so với trước
đó.
Cùng với việc ban hành Pháp lệnh bưu chính viễn thông (ngày 25/5/2002), việc
thành lập Bộ bưu chính viễn thông (ngày 05/8/2002) thể hiện sự tăng cường công tác quản
lý của Nhà nước đối với lĩnh vực viễn thông nước ta.
2.2.2.2- Chức năng nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước
Ngày 11 tháng 3 năm 1996, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 12/CP quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chứ
c bộ máy của Tổng cục Bưu điện. Tiếp tục phát
huy vai trò của cơ quan quản lý nhà nước và để nâng cao hơn nữa vai trò quản lý của Bộ
Bưu chính Viễn thông, nghị định số 90/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy
định cụ thể các chức năng, nhiệm vụ cho Bộ bưu chính viễn thông. Nghị định này quy
định rõ chức năng nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về vi
ễn thông Việt Nam trên
các lĩnh vực: pháp luật và chính sách; quy hoạch, kế hoạch và kinh tế; kỹ thuật, nghiệp
vụ; hợp tác quốc tế; thanh tra, kiểm tra; quản lý phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
2.2.3- Thực tiễn triển khai công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực viễn thông
2.2.3.1- Ban hành văn bản quản lý điều hành
Trong thời gian từ tháng 3/1996 đến tháng 7/2002, Tổng cục Bưu điện đã trình
Chính ph
ủ xem xét ban hành 5 nghị định, trình Thủ tướng chính phủ ban hành hàng chục
quyết định. Đặc biệt, trong thời gian này Tổng cục Bưu điện đã tham gia soạn thảo trình
Quốc hội phê chuẩn Pháp lệnh bưu chính viễn thông. Ngoài ra, theo thẩm quyền Tổng cục
bưu điện cũng đã ban hành đầy đủ các quyết định, chỉ thị, tiêu chuẩn, quy phạm, thể lệ,
định mức kinh tế-kỹ thu
ật, tiêu chuẩn chất lượng… nhằm thực hiện tốt chức năng nhiệm
và Hanoi Telecom. Số lượng nhà khai thác viễn thông như vậy không phải là nhỏ.
2)- Chính sách về kết nối các mạng viễn thông
Mặc dù đã có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ kết nối các mạng viễn
thông của các doanh nghiệp, nhưng trong thực tế đã xảy ra tranh chấp kết nối giữa các
doanh nghiệp với nhau. Việc này đã từng trình lên tới Chính phủ và Bộ bưu chính viễn
thông đ
ã phải đứng ra xử lý.
3)- Chính sách giá cước viễn thông
Trong môi trường cạnh tranh chỉ có một số giá có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế
và giá cước của doanh nghiệp chiếm thị phần khống chế bị kiểm soát. Còn đối với các
loại giá khác và các doanh nghiệp viễn thông khác thì được phép tự xác định giá theo cơ
chế thị trường cạnh tranh. Nhà nước tôn trọng quyền tự định giá cước và cạnh tranh về
giá cước theo quy định của pháp luật, khuyến khích doanh nghiệp nâng cao hiệu quả
giảm giá thành cung cấp dịch vụ, giảm giá cước để nâng cao mức độ sử dụng dịch vụ của
xã hội và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
4)- Chính sách cạnh tranh
Từ năm 1995 ngành viễn thông Việt Nam đã chính thức phá bỏ thế độc quyền
bằng việc cho phép Công ty điện tử Viễn thông quân đội (Viettel) và Công ty cổ ph
ần
dịch vụ bưu chính viễn thông Sài Gòn (SPT) tham gia vào thị trường. Từ đó đến nay, thị
trường Viễn thông cạnh tranh đã được xác lập và không ngừng phát triển. Cơ quan quản
lý nhà nước đã có nhiều biện pháp tích cực thúc đẩy cạnh tranh trong viễn thông.
5)- Chính sách quản lý chất lượng
Hiện nay cơ quan quản lý nhà nước về bưu chính viễn thông thường xuyên công
bố danh sách các loại thiết bị, mạng, công trình và dịch vụ vi
ễn thông phải áp dụng tiêu
chuẩn chất lượng. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phải công bố chất lượng thiết bị,
mạng và dịch vụ viễn thông phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng và chịu trách nhiệm về
tiêu chuẩn, chất lượng do mình công bố.
2 ,
x
3
, x
4
, x
5
và biểu diễn bằng đồ thị:
2.3.2- Những kết quả đạt được của quá trình cải cách lĩnh vực viễn thông Việt Nam
1)- Bộ máy quản lý nhà nước
Đã tách riêng chức năng quản lý nhà nước và quản lý doanh nghiệp. Ngày
11/3/1996, Chính phủ đã ban hành nghị định số 12/CP quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục bưu điện. Tiếp đến ngày 05/8/2002 đã thành
lập Bộ
bưu chính viễn thông. Việc thành lập Bộ bưu chính viễn thông thể hiện sự tăng
cường công tác quản lý của nhà nước đối với lĩnh vực viễn thông.
Xuất phát
ị
a v
ị
p
há
p
l
ý
Tư du
y
kinh doanh D
ạ
n
g
sở hữu Th
ị
t
r
ư
ờn
g
17
2)- Quan hệ giữa hai lĩnh vực bưu chính và viễn thông
Dưới sự chỉ đạo Tổng cục bưu điện (sau này là Bộ bưu chính viễn thông), việc tách
riêng hai lĩnh vực bưu chính và viễn thông đã được thực hiện tại VNPT. Việc tách bưu
chính, viễn thông từng bước hoạt động độc lập là một trong những bước đi quan trọng
cứu giải quyết.
Với kích cỡ thị trường của nước ta hiện nay cần phải xem xét nên cấp phép cho
bao nhiêu nhà khai thác là hợp lý nhằm tránh lãng phí vốn đầu tư củ
a các doanh
nghiệp mới, đó cũng là bảo vệ lợi ích chung cho toàn xã hội.
Để giải quyết vấn đề kết nối liên mạng Pháp lệnh bưu chính viễn thông cần phải có
các quy định cụ thể; các chế tài mạnh đối với các doanh nghiệp viễn thông khi thực
hiện kết nối với nhau.
Chính sách quản lý cước hiện nay của Bộ bưu chính viễn thông chủ yếu vẫn còn
nặ
ng về mục tiêu xã hội hơn là mục tiêu thúc đẩy cạnh tranh. Giá cước dịch vụ
viễn thông của doanh nghiệp thống lĩnh thị trường do Cơ quan quản lý nhà nước
ban hành trên cơ sở xác định giá thành sản phẩm dịch vụ. Tuy nhiên, vấn đề xác
định giá thành các dịch vụ viễn thông cũng chưa hoàn toàn được minh bạch.
Tiếp tục thúc đẩy cạnh tranh: Mặc dù có khá nhiều nhà khai thác, nhưng cho đến nay
thị trường vi
ễn thông Việt Nam vẫn chưa thể xem là một thị trường cạnh tranh theo 18
đúng nghĩa của nó. Việc này xuất phát từ một nguyên nhân quan trọng, đó là hạ tầng
mạng. Một nguyên nhân nữa là doanh nghiệp tận dụng các lợi thế về vị thế chính trị,
về sử dụng các nguồn lực đầu tư từ ngân sách (quốc phòng) để làm kinh tế.
Thị trường viễn thông nước ta hiện nay đang bắt đầu tiến tới một thị trườ
ng cạnh
tranh, nhưng nhìn chung mới chỉ đặt nặng vấn đề cạnh tranh về giá, còn về chất
lượng dịch vụ thì hầu như lại bỏ ngỏ.
Hiện nay chúng ta chưa có một công bố rõ ràng về dịch vụ phổ cập, các tiêu chí
của dịch vụ, các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ và giá cả dịch vụ. Quỹ dịch vụ viễn
thông công ích đã được thành lậ
xuất 4 vấn đề sau đây:
Thứ nhất, thông qua chính sách cấp phép nhà nước điều tiết số lượng nhà cung cấp
dịch vụ theo kích cỡ thị trường. 19
Nếu cân nhắc kỹ quy mô thị trường thì có thể nhận thấy rằng thị trường cầu dịch vụ
viễn thông ở nước ta còn hạn chế do dân số ít (82 triệu dân); thu nhập bình quân của người
dân còn thấp (dưới 600 USD/ người/năm); nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp hiện đang
trên đường chuyển dịch cơ cấu sang công nghiệp và dịch vụ… Vì vậy, Nhà nước cần kiểm
soát số l
ượng nhà cung cấp dịch vụ viễn thông ở một mức hợp lý: dịch vụ điện thoại cố
định khoảng 5 - 6 nhà cung cấp; dịch vụ điện thoại di động từ 4 - 5 nhà cung cấp.
Thứ hai, lựa chọn hình thức cấp giấy phép nào cho phù hợp với điều kiện nước ta
hiện nay. Việt Nam đang ở trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế thị trường, mức độ cạnh
tranh trong lĩnh vực viễn thông còn hạn chế, khung pháp lý chưa rõ ràng và ổn định, vì
vậy nên áp dụng hình thức cấp giấy phép chi tiết cho các nhà khai thác viễn thông.
Thứ ba, sử dụng cơ chế cấp phép nào cho nước ta hiện nay. Ở Việt Nam, hiện tại
chúng ta nên áp dụng hình thức hợp đồng nhượng khoán và tăng cường sử dụng giấy phép
riêng. Nhưng trong tương lai, chúng ta sẽ
phải tiến tới: chủ yếu sử dụng hình thức cấp
phép chung (ngoại trừ giấy phép sử dụng tần số, vì nó là nguồn tài nguyên khan hiếm của
quốc gia).
Thứ tư, để đáp ứng yêu cầu của Tổ chức thương mại thế giới WTO, việc cấp giấy
phép viễn thông cần đảm bảo những tiêu chí: Thủ tục cấp phép phải minh bạch, công
khai; Phí cấp phép ph
ải hợp lý và rõ ràng; Giấy phép viễn thông phải đảm bảo độ ổn định
và linh hoạt; Người xin cấp phép phải đảm bảo năng lực tài chính, kỹ thuật và có kinh
nghiệm để khai thác thành công những dịch vụ được cấp giấy phép.
3.2.2 - Hoàn thiện chính sách kết nối mạng viễn thông
P = Pο + (1 + I - X) (1)
Trong đó:
P : Giá cước trong năm (mức giá cước tối đa mà doanh nghiệp được phép)
P
ο
: Giá cước ban đầu
I : Hệ số lạm phát trong năm
X : Hệ số năng suất
Đối với một nhóm dịch vụ với nhiều mức giá cước khác nhau thì phải tính chỉ số giá cước
thực tế (API) sao cho:
API
≤
PCI (2)
Trong đó:
API là chỉ số giá cước thực tế (Actual Price Index)
PCI là chỉ số khung giá cước (Price Cap Index)
* Chỉ số khung giá cước (PCI) được cơ quan quản lý nhà nước xác định trước căn cứ vào
Giá cước ban đầu của các loại dịch vụ; Hệ số lạm phát dự tính trong năm và Hệ số năng
suất mà doanh nghiệp phải bù đắp cho khách hàng.
Lần đầu tiên PCI được tính bằng cách sử dụng công thức (1) để tính giá cho từng sản
phẩm dịch vụ, sau đó dùng phương pháp trọng số để tính PCI cho nhóm dịch vụ đó.
Từ lần kế tiếp PCI được tính như sau:
PCIt = PCI t-1 x (1+ It – Xt) (3)
* Chỉ số giá cước thực tế cũng được tính bằng phương pháp trọng số:
API = Σ
1
n
thôn
tính của các doanh nghiệp nước ngoài khi thị trường viễn thông mở cửa với quốc tế.
5)- Đưa Ủy ban cạnh tranh vào hoạt động. Ủy ban này có thể thuộc Quốc hội hoặc
Chính phủ, nhưng hoạt động độc lập với các Bộ, đảm trách các vấn đề liên quan đến Luật
cạnh tranh, trong đó có cả cạnh tranh viễn thông.
3.2.5- Hoàn thiện chính sách quản lý chất lượng dịch vụ viễn thông
1)- Đối với cơ quan quản lý
Rà soát lại các quy định trong Pháp lệnh bưu chính viễn thông và các thông tư
hướng dẫn, cập nhật những khiếm khuyết đã nảy sinh trong thời gian qua, tham khảo kinh
nghiệm của các nước trên thế giới, để hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý chất lượng
viễn thông trong Luật viễn thông Việt Nam.
Yêu cầu các doanh nghiệp viễn thông
đăng ký một cách minh bạch chất lượng các
dịch vụ viễn thông cung cấp ra thị trường, giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện, có chế tài
mạnh để bắt buộc các doanh nghiệp viễn thông phải thực hiện đúng cam kết.
Tuyên truyền phổ biến rộng rãi trong công chúng về chất lượng dịch vụ viễn thông,
về quyền lợi người tiêu dùng. Thiết lập các kênh để người tiêu dùng cung cấp kịp thời
thông tin v
ề tình trạng vi phạm chất lượng dịch vụ của các doanh nghiệp viễn thông.
Tăng cường hoạt động của Ủy ban bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo Pháp
lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã ban hành.
2)- Đối với doanh nghiệp viễn thông
Đăng ký tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ viễn thông với cơ quan quản lý; Thông tin
đầy đủ cho khách hàng biết về chất lượng dị
ch vụ; Thực hiện đầy đủ các cam kết về chất
lượng dịch vụ với khách hàng; Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO hoặc TQM để tự
kiểm soát chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp mình.
3)- Đối với khách hàng
Tìm hiểu đầy đủ quyền lợi của khách hàng trong Pháp lệnh bưu chính viễn thông
sử dụng một định lượng 30% để làm ví dụ minh họa cho việc xác định vùng công ích.
Vuøng coâng ích
30%
0%
70%
Thuê bao lãi Thuê bao hòa v
ố
n Thuê bao l
ỗ
Vuøng chöa xaùc ñònh
30%
40%
30%
Thuê bao lãi Thuê bao hòa v
ố
n Thuê bao l
ỗ
Vuøng kinh doanh
70%
0%
30%
Thuê bao lãi Thuê bao hòa v
ố
n
Thuê bao l
ỗ
Biểu đồ 3.1: Vùng công ích và vùng kinh doanh
3. Xác định chất lượng và giá cả cho dịch vụ công ích
Với quy định danh mục dịch vụ công ích như hiện nay (chủ yếu là điện thoại tiêu