P N MễN An toàn lao động hàng hải
H I HC
1.
Nêu các yêu cầu đảm bảo an toàn khi làm việc ngoài mạn tàu?
Công việc ngoài mạn tàu gồm có các công việc nh gõ rỉ, sơn, hàn vá,
sửa chữa....Thờng chỉ đợc phép tiến hành khi tàu neo đậu hoặc cập cầu, trong
điều kiện thời tiết tốt, còn khi hành trình trên biển nếu công việc đặc biệt khẩn
cấp đòi hỏi và tình hình thời tiết cho phép thì cần tiến hành hết sức thận trọng và
phải đợc sự cho phép của thuyền trởng. Trớc khi tiến hành các công việc ngoài
mạn tàu cần phải kiểm tra, đáp ứng các yêu cầu sau đây:
Những thuỷ thủ đợc phân công làm việc ngoài mạn tàu phải là những
thuỷ thủ có kinh nghiệm. Chỉ bố trí những thuỷ thủ trên 18 tuổi, đã có thời gian
làm việc trên các tàu biển ít nhất là hơn 12 tháng và đã từng làm những công
việc tơng tự nh vậy.
Tất cả thuỷ thủ phải mang đầy đủ các trang bị an toàn. Trớc khi công
việc đợc tiến hành thì đại phó hoặc thuỷ thủ trởng phải kiểm tra các trang bị an
toàn cá nhân của từng thuỷ thủ trong nhóm làm việc nh mũ bảo hộ, phao áo,
dây cứu sinh, dây đeo an toàn và các trang bị an toàn thông thờng khác.
Ngoài việc các thuỷ thủ phải mang phao áo khi làm việc ngoài mạn tàu
thì cần phải để ở gần khu vực làm việc một hoặc một số phao tròn cứu sinh có
dây buộc sẵn sàng để dùng trong trờng hợp khẩn cấp.
Ghế cabản phải đợc treo cân bằng và chắc chắn. Cần kiểm tra các chỗ
buộc ghế cabản (thờng là lan can hoặc các khuyết trên boong) không để dây
buộc vắt qua các gờ sắc cạnh. Ghế cần đợc treo cân bằng, không nghiêng lệch
về một bên. Không đợc dùng móc sắt để móc dây nâng ca bản hay ghế thuỷ
thủ Khu vực phía dới nên căng lới an toàn phù hợp, nếu có thể đợc.
Phải sử dụng thang dây để lên xuống ghế cabản. Không đợc sử dụng
dây buộc ca bản hoặc một dây sợi nào để trèo từ cabản lên boong hoặc từ trên
boong xuống cabản mà phải sử dụng thang dây (Jacob's ladder) để lên xuống.
Không đợc phép treo hai ca bản cái nọ ngay trên cái kia, mà phải treo
boong trớc khi dịch chuyển.
Mọi thuỷ thủ trong quá trình đang làm việc ngoài mạn tàu bắt buộc phải
đeo dây an toàn (Safety belt). Dây an toàn phải đợc móc vào nơi phù hợp, bảo
đảm chắc chắn, nhng không đợc gây trở ngại cho ngời đeo khi làm việc.
Các dụng cụ làm việc phải đợc cho vào một cái túi hoặc xô, không đợc
để dụng cụ ngay trên ca bản hoặc cho vào túi quần áo. Đa dụng cụ lên boong
hoặc từ boong xuống ca bản phải dùng dây và do ngời đứng trên boong thực
hiện. Các dụng cụ cần dùng liên tục nh búa gõ rỉ thì nên buộc một sợi dây nhỏ
từ cán búa vào cổ tay để khi lỡ trợt tay thì cũng không rơi mất búa.
2.
Nêu các yêu cầu đảm bảo an toàn khi làm việc ở các cấu trúc
trên cao ở trên tàu?
Công việc trên cao gồm các công việc nh sửa chữa, thay thế thiết bị, gõ
rỉ, sơn...công việc này có thể tiến hành cả khi tàu đang hành trình hoặc khi tàu
đang neo đâụ. Đây cũng là một trong những công việc nguy hiểm trên tàu vì có
thể gây nên tai nạn cho thuyền viên, vì vậy trớc khi tiến hành công việc trên cao
cũng nh trong quá trình làm việc cần kiểm tra và bảo đảm các yêu cầu về an
toàn nh sau:
Điều kiện thời tiết phải phù hợp để tiến hành các công việc trên cao. Thời
tiết phù hợp là thời tiết tốt, không có ma, gió nhẹ không quá cấp 3 bôpho (khi
tàu chạy ngợc gió cần phải tính đến cả sức gió do tàu chạy gây ra), nhiệt độ
2
không quá cao hoặc quá thấp, cần đặc biệt lu ý đến ảnh hởng của sóng tác
động làm cho tàu lắc, chỉ đợc phép làm việc trên cao khi tàu không bị tác động
lớn của sóng gió làm cho tàu lắc ngang , hoặc lắc dọc nhiều.
Các thuỷ thủ đợc phân công làm việc phải có đủ kinh nghiệm làm việc
trên cao. Chỉ cho phép các thuỷ thủ trên 18 tuổi, đã có thời gian làm việc liên
tục trên các tàu biển hơn 12 tháng và đã có kinh nghiệm tiến hành các công
thang, không nên ngần ngại khi phải dịch chuyển thang cho phù hợp với vị trí
làm việc, vì làm việc ở t thế với tay ở trên cao sẽ dễ dẫn đến tai nạn.
3
Không đợc sử dụng máy tời để nâng hạ cabản hoặc ghế thuỷ thủ trởng,
mà phải nâng hạ bằng tay. Ngời lên xuống thì phải trèo theo đờng cầu thang
(thang cố định hoặc thang tạm thời ).
Cần phải thống nhất tín hiệu liên lạc giữa các thành viên trong nhóm
cùng làm việc, tốt nhất nên sử dụng tín hiệu còi.
Phải bố trí ngời cảnh giới phù hợp. Ngời cảnh giới phải ở gần ngay phía
dới khu vực đang tiến hành các công việc trên cao để có thể quan sát tình hình
và nhận rõ đợc các tín hiệu liên lạc .
Cần phải đặt biển cảnh báo:Tại khu vực đang có ngời làm việc trên cao
cần đặt biển cảnh báo "Men at work aloft" để tránh không cho những ngời
khác đi lại phía dới.
Phải thông báo cho những bộ phận liên quan: Khi làm việc trên cao ở
những nơi hoặc lân cận những nơi nh ống khói, còi, anten radar, anten vô
tuyến...cần phải báo cho những ngời có trách nhiệm liên quan biết để tránh cho
các thiết bị đó hoạt động ảnh hởng đến những ngời đang làm việc trên cao. Sau
khi công việc trên cao đã hoàn tất phải ngay lập tức báo cho các bộ phận liên
quan biết để có thể cho các thiết bị trên hoạt động trở lại bình thờng.
Phải lu ý đến việc các dụng cụ có thể rơi từ trên cao xuống: Cần đặc biệt
quan tâm đến việc các dụng cụ dùng để làm việc trên cao có thể dễ dàng rơi
xuống phía dới gây tai nạn cho con ngời hoặc làm hỏng các trang thiết bị ở phía
dới. Các dụng cụ cần phải đợc cho vào một cái túi hoặc xô riêng và đợc kéo lên
bằng tay thông qua ròng rọc, không đợc cho dụng cụ vào túi quần, áo.
Các dụng cụ sử dụng trên cao cần phải đợc buộc dây an toàn để khi sử dụng
không may rơi ra thì không bị rơi xuống phía dới.
Trớc khi làm việc Đại phó, sĩ quan phụ trách an toàn hoặc thuỷ thủ trởng
phải kiểm tra trang bị bảo hộ cá nhân của mỗi thành viên trong nhóm làm việc
nh: quần áo bảo hộ, mũ bảo hộ (nếu trời nắng phải dùng mũ có vành hay có dải
để che nắng) , găng tay, khẩu trang, kính bảo hộ, giày bảo hộ, cái bịt tai
(Earplugs), dây an toàn (nếu làm việc trên cao), phao áo cứu sinh (nếu làm việc
ngoài mạn tàu)...Nếu ai cha mang đầy đủ hoặc các trang bị đó không đáp ứng
yêu cầu an toàn thì kiên quyết bắt buộc trang bị đầy đủ mới cho phép làm việc.
Cần phải chuẩn bị đầy đủ và kiểm tra các dụng cụ làm việc: Các thành
viên trong nhóm phải nắm đợc đặc điểm của khu vực sẽ tiến hành gõ rỉ, từ đó
biết đợc cần phải chuẩn bị những dụng cụ gì cho phù hợp, tránh tình trạng khi ra
đến nơi làm việc thấy thiếu mới quay trở lại lấy. Các dụng cụ gõ rỉ cần đợc kiểm
tra kỹ lỡng trớc khi mang ra dùng. Búa gõ rỉ (Chipping hammer) phải đợc nêm
chặt chẽ, không dùng búa có hiện tợng lỏng cán, cổ búa đã bị dập có thể gãy
khi gõ rỉ. Khi sử dụng búa máy (hơi) (Air hammer) để gõ rỉ cần kiểm tra chất lợng ống dẫn hơi khí nén, không để ống bị gấp, do búa máy gây tiếng ồn lớn nên
cần mang thiết bị giảm âm cho ngời sử dụng và những ngời cùng làm việc xung
quanh. Không dùng bàn nạo rỉ (Scraper) đã bị quăn mép, quá mòn. Bàn chải
sắt (Wire brush) không có những sợi thép bị rời ra. Đặc biệt khi sử dụng máy
mài điện (Disc sander) cần chú ý một số điểm sau đây:
+ Thiết bị cần đợc nối đất hoàn hảo.
+ Công tắc để tắt nguồn phải ở ngay tay cầm để có thể cắt nguồn đợc ngay khi
dùng xong hoặc khi thiết bị có sự cố.
+ Bảo đảm đờng dây dẫn điện không bị hở mạch. Không để đờng dây chạy qua
những mép gờ sắc cạnh, những khu vực có thể có ngời qua lại thờng xuyên.
+ Thiết bị phải đợc kiểm tra cho chạy thử trớc khi bắt đầu làm việc.
Khi sử dụng các thiết bị máy gõ rỉ nh búa hơi hay máy mài rỉ cần chú ý
không để luồng bụi rỉ bắn ra từ máy vào những ngời cùng làm việc xung quanh.
3.
5
cấp 3.
Trong khi làm việc cấm tuyệt đối không đợc hút thuốc lá, không đợc làm
những việc gây nên tia lửa gần khu vực đang sơn.
Nếu sơn trên boong thì cần đặt biển cảnh báo "wet paint", vạch phấn
quanh khu vực mới sơn hoặc chăng dây giới hạn để những ngời khác không đi
vào dẫm lên khu vực mới sơn.
Nếu sơn trên diện tích rộng thì bắt đầu sơn từ trong ra ngoài, sơn các chỗ
khó (các ngóc nghách, gờ mép...) trớc. Không đợc đứng từ phía trên gió sơn
6
xuôi lùi về phía dới gió vì làm nh vậy sẽ liên tục hít phải hơi sơn độc hại có thể
gây nên choáng ngất.
Khi tiến hành sơn ngoài mạn tàu hay trên cao thì cần phải tuần tự sơn từ
trên xuống dới, từ trong ra ngoài, từ dới gió lên phía trên gió. Đặc biệt khi có
nhiều ngời cùng làm thì ngời sơn phía dới gió bao giờ cũng phải ở cao hơn ngời
sơn phía trên gió.
Khi tiến hành sơn ngoài mạn phải lu ý không để sơn rơi vãi xuống vùng
nớc phía dới làm ô nhiễm môi trờng. Một dây cứu sinh phải đợc bố trí dọc từ mũi
về lái ở phía mạn đang có ngời làm việc.
Khi tiến hành sơn trong phòng, kho hay các khu vực kín thì cần tiến hành
thông gió tốt trong suốt quá trình sơn.
Để tránh tác động của hơi độc từ sơn, ngoài những điểm lu ý trên cần
phải mang khẩu trang cẩn thận, đối với các loại sơn rất độc và/hoặc sơn ở
những khu vực kín cần thiết phải mang mặt nạ phòng độc. Khi sơn không để
sơn dây vào da hoặc bắn vào mắt.
Đối với các dụng cụ sơn bằng tay nh các loại bút sơn, thì cần đặc biệt lu
ý loại bút sơn lăn, đây là dụng cụ rất thông dụng vì nó dễ sử dụng và cho năng
suất cao, tuy nhiên nếu không đợc bảo quản tốt các sợi của bút sơn có thể bị
hết sức thận trọng và tuân thủ nghiêm ngặt một số yêu cầu đợc nói đến sau
đây.
a. Không bao giờ đợc tự động đi vào các khu vực kín mà không báo cáo
và khi cha đợc phép của những ngời có trách nhiệm. Điều này là đặc biệt quan
trọng vì nếu khi xẩy ra tai nạn sẽ không có ngời cứu giúp, ngoài ra bản thân ngời đi vào khu vực kín bị thiệt mạng đã đành mà những ngời có trách nhiệm ở
trên tàu cũng sẽ bị liên đới chịu trách nhiệm rất nặng nề, đặc biệt rắc rối cho
việc giải quyết hậu quả của những trờng hợp nh vậy.
b. Khi cần thiết phải vào làm việc trong các khu vực kín thì điều đầu tiên
là phải báo cáo sĩ quan trực ca (Officer-in-charge), hoặc sĩ quan an toàn
(Safety officer) đây là những ngời có đủ thẩm quyền quyết định, họ có thể là Đại
phó, máy nhất, các sĩ quan đầu ngành hoặc sĩ quan trực ca, tuỳ thuộc vào loại
tàu, khu vực kín nào, thời gian vào khu vực kín vào ban ngày hay ban đêm, tàu
đang neo đậu hay đang hành trình. Sĩ quan an toàn là những sĩ quan có đầy đủ
khả năng, có kiến thức và kinh nghiệm cho hoạt động này. Ông ta sẽ xem xét
và quyết định có cho phép ngời vào khu vực kín đó không. Nếu ông ta thấy rằng
việc phải vào khu vực kín để làm việc là cần thiết thì ông ta phải đa ra các chỉ thị
để bảo đảm rằng tất cả các yêu cầu cho việc vào khu vực kín đã đợc thực hiện.
Các chỉ thị này phải đợc đa ra dới hình thức là một danh mục kiểm tra (
Maritime safety checklist hay Permit-to-work checklist hoặc là Enclosed
space entry checklist). Sĩ quan có trách nhiệm phải thông báo cho những ngời liên quan biết rằng khu vực kín đã đợc mở, điều này để tránh việc ngời nào đó
vô tình bơm nớc ballast vào khoang đó hay xả khí trơ vào.
c. Khu vực kín phải đợc mở hoàn toàn và đợc thông gió hết sức cẩn thận.
Trớc khi tiến hành mở một khoang kín nào đó phải xét xem cửa vào, nắp đậy có
bị tác động của áp lực bên trong hay không, và nếu áp lực bên trong là khí dễ
cháy hoặc dễ nổ thì việc mở ra phải hết sức thận trọng và cần thiết phải sử dụng
các dụng cụ an toàn để mở. Mức độ an toàn của khu vực kín đó tuỳ thuộc vào
việc thông gió có tốt hay không. Tuỳ điều kiện cụ thể để tiến hành thông gió tự
nhiên hay bằng quạt gió. Một số khu vực nh các kho thờng có các cửa sổ thì
việc lu thông gió dễ dàng hơn những nơi nh là các két chỉ có lỗ cho ngời chui
xuống vì vậy đối với két đó cần phải mở hai lỗ lên xuống (Manhole) để gió có
dụng thêm các máy chuyển tiếp trung gian, ngời trực phải thỉnh thoảng thử thiết
bị liên lạc với ngời bên trong để bảo đảm thông tin luôn đợc thông suốt. Phơng
pháp giật dây cũng thờng đợc sử dụng, khi ngời trong khu vực kín có sự cố sẽ
giật dây liên tục để báo cho ngời trực ở ngoài biết rằng "Tôi đang bị nguy
hiểm, hãy kéo tôi ra", khi dùng phơng pháp này cần lu ý không để dây bị mắc
kẹt trên đờng dẫn. Khi danh mục kiểm tra để vào khu vực kín đã đợc duyệt thì
một bản copy của nó phải đợc dán ngay lối vào khu vực kín, đồng thời treo biển
cảnh báo có ngời đang làm việc ở bên trong "Men inside", nếu công việc liên
quan đến đờng ống thì treo biển cấm đóng hoặc cấm mở ở tại các van phù hợp
"Do not open" hay "Do not close".
f. Đối với khu vực kín đợc biết rằng không an toàn mà cần phải vào khẩn
cấp để thực hiện một công việc nào đó khi cha kịp tiến hành các biện pháp
thông gió hoặc không thể thông gió đợc thì cần phải sử dụng thiết bị thở cá
nhân (Self contained breathing apparatus - CABA) . Thiết bị thở cá nhân phải đợc kiểm tra cẩn thận trớc khi sử dụng, kiểm tra với áp lực cao, kiểm tra với còi và
kiểm tra với áp lực thấp, để bảo đảm rằng tình trạng thiết bị là hoàn hảo. Thêm
vào đó phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đã nêu trên đây .
9
g. Với các khu vực đã đợc kiểm tra và đợc xem là an toàn thì đối với ngời
đi vào làm việc trong khu vực kín đợc khuyên là nên mang theo thiết bị thở thoát
hiểm khẩn cấp (EEBD - Emergency Escape Breathing Devices). Đây là một
thiết bị gọn nhẹ, dễ dàng mang theo bên ngời và rất dễ tự sử dụng khi khẩn cấp
để tự thoát ra khỏi khu vực nguy hiểm.
8
Nêu các yêu cầu đảm bảo an toàn khi sử dụng các thiết bị điện vô
tuyến điện trên tàu?
Đối với tất cả các thiết bị trớc khi sử dụng phải đọc kỹ hớng dẫn và những
lu ý đặc biệt của nhà chế tạo ghi rõ trong sổ tay hớng dẫn sử dụng để tránh tác
phải làm nh vậy thì sau đó phải có văn bản báo cáo chính thức cho phòng kỹ
thuật công ty quản lý tàu và ghi chú cẩn thận trên sơ đồ mạng.
Nếu công việc đang tiến hành phải lúc đóng, lúc mở công tắc nguồn thì
phải bảo đảm có sự thống nhất liên lạc với những ngời cùng làm việc.
Tuyệt đối không đợc sử dụng cầu chì sai công suất.
Không đợc để các vật t, dụng cụ, dẻ lau ... chất đống hoặc nhét phía sau
bảng điện.
Nếu cần thiết phải tiến hành công việc sửa chữa hoặc bảo dỡng các thiết
bị mà không đợc tắt công tắc nguồn thì phải sử dụng các trang bị bảo hộ thích
hợp để bảo đảm rằng cơ thể bạn hoàn toàn đợc cách ly với nguồn điện
9
Nêu các yêu cầu chung đối với một cầu thang hoa tiêu?
Cầu thang dây đợc sử dụng cho hoa tiêu lên xuống tàu khi mạn khô của
tàu nhỏ hơn 9mét.
Để đảm bảo an toàn cho việc lên, xuống tàu của hoa tiêu trên biển, tổ
chức hàng hải thế giới IMO cùng với hiệp hội hoa tiêu thế giới I.M.P.A.
(INTERNATIONAL MARITIME PILOTS' ASSOCIATION) đã thống nhất đa ra
một số yêu cầu đối với cầu thang hoa tiêu trên tàu biển, có thể tóm lợc nh sau:
a. Cầu thang hoa tiêu phải đảm bảo chắc chắn, các thanh gỗ (các bậc
cầu thang - Steps) không bị dập, gãy, sạch sẽ, không đợc dính dầu mỡ hoặc
các chất gây trơn trợt khác, không đợc sơn lên các bậc cầu thang để có thể dễ
dàng phát hiện sự h hỏng của chúng. Dây cầu thang (Sides ropes) phải là loại
dây bền, có thể là dây nilon hay dây sợi với đờng kính ít nhất là 18mm.
b. Khoảng cách theo chiều đứng giữa các bậc cầu thang là từ 30 đến
38cm. Khoảng cách theo chiều rộng giữa hai dây cầu thang (Sides ropes) ít
nhất là 40cm.
c. Các thanh chống lật (Spreader) phải có chiều dài ít nhất là 180cm.
11
Cầu thang hoa tiêu kết hợp đợc sử dụng trong trờng hợp nào ? vì
sao?
Cầu thang hoa tiêu kết hợp đợc sử dụng khi mạn khô của tàu lớn hơn 9mét và
khi tàu không có cửa mạn (Side door - loại cửa này thờng đợc bố trí trên các tàu
khách, tàu Ro-Ro, tàu Container...). Nó là sự kết hợp giữa một cầu thang dây và
một cầu thang mạn (Accommodation ladder) đợc bố trí đặc biệt cho việc lên
xuống của hoa tiêu, cầu thang mạn này thờng đợc lắp đặt ở khu vực gần giữa
tàu, ở chỗ thấp nhất của boong chính. Việc sử dụng cầu thang hoa tiêu kết hợp
cho thấy là một phơng pháp nâng cao sự an toàn cho hoa tiêu khi lên xuống ở
những tàu lớn có mạn khô lớn hơn 9 mét.
12
Nêu công tác an toàn khi đón và trả hoa tiêu từ xuồng hoa tiêu?
Để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hoa tiêu khi lên, xuống tàu từ xuồng
hoa tiêu , phía tàu cần phải tiến hành tốt công tác chuẩn bị và đáp ứng các yêu
cầu cơ bản sau đây:
a. Cầu thang hoa tiêu cần phải đợc kiểm tra cẩn thận trớc khi đem ra sử
dụng, đáp ứng các yêu cầu nh đã đợc nói đến ở phần (2.1.1 a và b) ở trên. Khi
lắp đặt cầu thang xong phải dùng trọng lợng của cơ thể đứng lên và nhún để thử
kiểm tra mức độ chắc chắn của cầu thang.
b. Cầu thang hoa tiêu phải đợc bố trí ở mạn dới gió (Lee side) để thân tàu
sẽ trở thành lá chắn che sóng , gió cho xuồng hoa tiêu. Việc bố trí cầu thang ở
mạn nào là do sự xem xét của thuyền trởng đã có sự thống nhất của hoa tiêu và
phải đợc thông báo cho xuồng hoa tiêu. Cầu thang hoa tiêu sau khi lắp đặt xong
phải hoàn toàn tỳ sát vào thành mạn tàu, muốn thế phải chọn vị trí mà thành
12
gian hoa tiêu lên xuống tàu thì việc giữ một tốc độ an toàn là một vấn đề cần
phải quan tâm. Thờng tốc độ đợc giữ ở mức tới thật chậm (dead slow ahead)
hoặc stop máy chỉ dùng trớn để điều khiển tàu. Chính quyền cảng hoặc công ty
hoa tiêu thờng quy định tốc độ của tàu khi đón và trả hoa tiêu.
13.
Trình bày công tác an toàn khi đón và trả hoa tiêu từ trực thăng?
Để đảm bảo đa, đón hoa tiêu an toàn từ trực thăng, cần lu ý một số điểm
cơ bản sau đây:
a. Vệ sinh sạch sẽ khu vực bãi đáp, bãi thả, không để bề mặt dính các
chất dầu, mỡ... gây trơn trợt, nên sử dụng loại sơn chống trợt hoặc pha các chất
13
tăng ma sát cho khu vực này (Anti-slip surface). Không để các vật dễ bị xê dịch
gần xung quanh bãi đáp, nếu không thể di chuyển đi chỗ khác đợc thì phải
chằng buộc lại.
b. Các cấu trúc ở trên cao nh dây anten, cần cẩu... phải hạ xuống vào vị
trí và chằng buộc lại.
c. Một lá cờ đuôi nheo hay ống gió (Wind-sock) phải đợc treo ở nơi mà từ
trực thăng có thể thấy rõ nhất để hoa tiêu dễ dàng xác định đợc hớng gió. Ban
đêm phải cung cấp đầy đủ ánh sáng phù hợp cho khu vực bãi đáp, ánh sáng
không đợc rọi về phía trực thăng, ánh sáng phải rọi đợc vào cờ đuôi nheo hay
ống gió, ngoài ra cần có một ngời sử dụng gậy phản quang để hớng dẫn trực
thăng hạ cánh.,
d. Bơm cứu hoả phải đợc chạy và cung cấp một áp lực nớc đủ mạnh lên
mặt boong. ít nhất có hai vòi rồng cứu hoả sẵn sàng cùng với 2 bình bột cứu
hoả có tổng dung lợng ít nhất là 45Kg. Ngoài ra cần có thêm các bình CO 2
(Carbon dioxide) với tổng dung lợng ít nhất là 18Kg. Các hệ thống cứu hoả cố
định và di động khác trên tàu cũng phải ở trạng thái sẵn sàng hoạt động. ít nhất
Cần lu ý là không để khói từ ống khói tàu ảnh hởng đến hoạt động của
trực thăng, không để sóng làm tung bọt nớc lên khu vực bãi đáp, và điều động
làm sao để mức độ hỗn độn của gió tại bãi đáp là nhỏ nhất.
14.
Trình bày công tác kiểm tra an toàn chung trớc khi tàu chuẩn bị
vào cảng?
Để bảo đảm cho việc tàu vào bến đợc an toàn công tác kiểm tra an toàn
về trang thiết bị cũng nh các khâu chuẩn bị phải đợc tiến hành thận trọng và tỉ
mỉ. Thuyền phó nhất là ngời trực tiếp chịu trách nhiệm trớc thuyền trởng về công
tác kiểm tra này. Có thể nêu ra sau đây một số công tác cơ bản kiểm tra an
toàn chung trớc khi tàu vào cảng:
a. Cầu thang hoa tiêu phải đợc bố trí phù hợp với quy định và yêu cầu
của hoa tiêu, đặc biệt cần kiểm tra lại về độ cao tính từ mặt nớc lên đến bậc đầu
tiên của cầu thang vì có thể thuỷ thủ khi lắp đặt ớc lợng không chính xác, kiểm
tra xem các phao cứu sinh, dây kéo (Man-ropes), đèn chiếu sáng (nếu là ban
đêm) đã đợc chuẩn bị sẵn sàng cha....Bảo đảm rằng lối lên của hoa tiêu từ cầu
thang lên boong tàu là không có vật cản, lối đi trên boong là không bị trơn tr ợt
và đảm bảo đủ ánh sáng nếu vào ban đêm.
b. Yêu cầu cho chạy thử các máy tời trên boong, kiểm tra sự rò rỉ dầu của
các đờng ống và thiết bị. Nếu ở khu vực thời tiết lạnh phải cho máy tời neo, tời
dây chạy khởi động trớc (Warming) để làm ấm thiết bị.
c. Không đợc để bất kỳ một cấu trúc hay thiết bị nào của tàu nhô ra phía
ngoài mạn tàu. Các thiết bị nh cần cẩu nếu đã đợc dựng lên thì phải nằm gọn
trong khu vực của tàu, đề phòng trờng hợp khi vào cập cầu sẽ vớng vào các
thiết bị trên cầu cảng. Đối với cầu thang mạn thì có thể hỏi ý kiến hoa tiêu xem
việc chuẩn bị sẵn sàng có ảnh hởng đến an toàn của việc cập cầu hay không.
d. Kiểm tra sự sẵn sàng để sử dụng của hệ thống cứu hoả, cho chạy thử
bơm cứu hoả sự cố. Đối với tàu chở nhiên liệu hoặc trên tàu có hàng hoá dễ
cháy nổ thì còn phải tuân thủ một số yêu cầu nghiêm ngặt của chính quyền
cảng.
Phải hết sức chú ý đề phòng tai nạn khi đi ra ngoài boong, các dụng cụ, thiết bị,
các mảnh sắt thép... có thể rơi vào người bất kỳ lúc nào, tránh đi qua dưới khu
vực đang có người làm việc trên cao. Tai nạn cũng có thể xảy ra do trượt ngã vì
vướng phải các dây điện, dây hàn, các đường ống, vật tư.... để ngổn ngang trên
boong. Đặc biệt lưu ý một số lỗ lên xuống các tank két (Manhole) thường được
mở sẵn để kiểm tra hoặc làm việc ở dưới đó, nếu không cẩn thận sẽ bị rơi xuống
các lỗ đó, khi hết giờ làm việc phải đi kiểm tra xem các lỗ này đã được đóng lại
chưa.
Các công việc gõ rỉ, phun cát tẩy rỉ thường dễ dẫn đến tổn thương về mắt. Các
công việc sơn, phun sơn dễ dẫn đến các tai nạn về đường hô hấp và ngoài da.
Cần phải lưu ý đề phòng các tai nạn này bằng cách mang đầy đủ trang bị bảo hộ
và tránh xa các khu vực đó nếu có thể được.
Mọi công việc sửa chữa trên tàu như hàn, cắt, gõ rỉ, sơn... đều có thể tạo nên các
loại khí độc hại cho cơ thể nên cần phải đề phòng cẩn thận, nên mang khẩu trang
và cố gắng tránh xa các khu vực có nồng độ khí độc cao.
Cần phải kiểm tra xem những bộ phận tiến hành các công việc trong các khu vực
kín đã thực hiện đầy đủ các công tác bảo đảm an toàn chưa, đặc biệt là công việc
thông gió các khu vực kín.
16
i vi cỏc kột vn cũn cú nhiờn liu thỡ phi c cỏch ly hon ton vi cỏc
cụng vic liờn quan n hn ct, v trớ cỏc kột ú phi c thụng bỏo rừ rng cho
cỏn b k thut ca cng nh treo bin thụng bỏo mi ngi khi lờn tu
lm vic u nm c.
16.
Nêu nhng lu ý đảm bảo an toàn trong thao tác làm dây khi tàu cập
cầu?
, An toàn trong thao tác làm dây cho tàu cập cầu.
17
Thuỷ thủ phụ trách việc điều khiển tời phải là thuỷ thủ có kinh nghiệm (thờng là thuỷ thủ trởng hoặc thuỷ thủ phó), trong khi điều khiển tời phải hết sức
tập trung chú ý vào công việc, chú ý thực hiện theo mệnh lệnh của sĩ quan chỉ
huy. Không đợc tự ý làm theo suy nghĩ cá nhân của mình.
Đối với việc làm dây phía lái phải báo cáo cho Thuyền trởng biết đợc tình
trạng của dây có thể bị vớng vào chân vịt hay không nếu sử dụng máy.
Khi bốt dây phải hết sức cẩn thận, đứng đúng t thế , tránh để tay và chân
quá gần dây đang căng, không đứng phía trong vòng lợn của dây.
Sau khi buộc dây xong phải đảm bảo tất cả các dây đều căng đều, đặc
biệt các dây trên cùng một hớng (chẳng hạn nh các dây dọc, các dây ngang
hay các dây chéo) phải căng đều và chịu lực nh nhau.
Nếu cảng sử dụng xuồng bắt dây thì lu ý khi xông dây xuống cho xuồng
không đợc thả tự do mà phải kiểm soát bằng cách quấn lên bích khoảng 1,5
vòng và xông ra với tốc độ tuỳ thuộc vào tốc độ của xuồng.
Khi thu dây tàu lai không đợc dùng sức mà phải dùng tời kéo dây mồi
(Tail rope), thời điểm đặc biệt nguy hiểm là khi cởi dây tàu lai, lúc này phải lu ý
quấn sẵn dây mồi lên bích ít nhất là hai vòng sau đó mới cởi khuyết dây của tàu
lai ra khỏi bích rồi từ từ xông dây mồi qua bích thả xuống cho tàu lai.
Không nên cô dây trên trống tời mà tất cả các dây đều phải đợc cô vào
bích cẩn thận, trừ trờng hợp trên các tàu bố trí đủ các trống quấn dây cho tất cả
các dây.
Sau khi hoàn tất việc làm dây cho tàu cập cầu phải thu dọn gọn gàng và
vệ sinh khu vực làm việc, các dụng cụ phải đợc cất vào chỗ quy định, các phần
thừa của dây phải đợc xếp gọn vào trống hoặc vào thành các cuộn riêng rẽ. và
cuối cùng là lắp đặt các tấm chắn chuột vào tất cả các dây.
17. Nêu công tác kiểm tra an toàn hệ thống tời neo và chuẩn bị dụng cụ
neo tàu?
- Mang theo đèn chiếu sáng nếu là ban đêm, phải kiểm tra để bảo đảm là pin
vẫn còn tốt, đèn vẫn sáng.
- Mặc đầy đủ quần áo bảo hộ phù hợp, cần lu tâm đến điều kiện thời tiết, nếu
trời lạnh, gió thì phải mặc đủ ấm. Nếu trời có ma phải mang áo ma và đặc
biệt khi có sóng gió mạnh cần mang phao áo cứu sinh.
- Đeo kính bảo hộ để bảo vệ mắt , đề phòng khi rỉ hoặc bùn đất bắn ra trong
quá trình neo.
- Mang đầy đủ giày bảo hộ hoặc ủng, mũ bảo hộ (nếu trời lạnh giá cần đội mũ
lông che tai).
- Nếu trong thời gian chạy biển bóng tròn đen (dấu hiệu neo) đã đợc cất vào
kho thì phải nhớ mang ra theo.
- Ngoài ra cần mang theo một cái búa tạ, xà beng đề phòng có khi phải dùng
đến trong trờng hợp lỉn neo bị kẹt.
18
Trình bày công tác kiểm tra an toàn trên buồng lái ?
, Công tác kiểm tra an toàn ở buồng lái khi tàu rời bến
Kiểm tra an toàn ở buồng lái thuộc trách nhiệm của thuyền phó 3 và có
sự kết hợp của thuyền phó 2. Một số mục chính trong công tác kiểm tra an toàn
có thể liệt kê ra sau đây:
Kiểm tra và làm đồng bộ đồng hồ tàu, đặc biệt là đồng hồ giữa buồng lái
và buồng máy.
Thử tay chuông truyền lệnh và các thiết bị thông tin liên lạc giữa buồng
lái và buồng máy cũng nh giữa buồng lái với mũi và lái.
Thử máy lái ở tất cả các chế độ (kết hợp giữa phó 3 và phó 2, một ngời ở
buồng lái còn một ngời ở buồng máy lái), trớc khi thử phải kiểm tra và bảo đảm
rằng phía sau lái không có gì vớng.
19
mỏy trờn tu sn cú hoc bng cỏch nghe, gi th cỏc tu xung quanh. S dng
mt mỏy VHF liờn tc trc trờn kờnh 16, cũn mt mỏy trc trờn kờnh quy nh
ca trm b m tu cú ý nh liờn lc (Chng hn trm hoa tiờu, cng v, i
lý...)
- Kim tra, thng nht kờnh liờn lc v th nghe, gi cỏc mỏy b m (Walkitalki) liờn lc ni b trờn tu. Nu b nhiu ca cỏc mỏy ca tu bn thỡ chuyn
sang cỏc kờnh khỏc m bo liờn lc c thụng sut v khụng b nhm ln.
- Thng nht vi bung mỏy kim tra v th tay chuụng truyn lnh cng nh
cỏc thit b liờn lc gia bung lỏi v bung mỏy. i vi cỏc tu cú ch iu
khin t bung lỏi thỡ khụng cn ng tỏc ny.
20
- Bt mỏy o sõu v kim tra tỡnh trng hot ng ca nú.
- Bt c hai radar v kim tra tỡnh trng hot ng ca chỳng.
- Chun b hi khu vc cng, chn hi cú t l xớch ln nht m tu sn cú,
kim tra i chiu vi thụng bỏo hng hi mi nht xem vic tu chnh ó tin
hnh chớnh xỏc cha.
- Kim tra s sn cú dựng ca cỏc loi c hiu theo quy nh, c quc gia..
- Nu vo cng vo ban ờm phi kim tra h thng chiu sỏng t bung lỏi, ốn
pha, ốn tớn hiu v c bit l h thng ốn hnh trỡnh.
- Bo m rng mn nc hiờn ti ca tu cú tớnh n t trng ca nc vựng
cng v nh hng ca hiu ng "Squat" l phự hp vi sõu ca lung vo
cng.
- S quan trc cng phi tớnh toỏn lp sn bng thu triu (Tide table) cho
ngy hụm ú v trong sut c thi gian tu d nh nm cng.
Sau khi tt c cỏc cụng vic kim tra an ton bung lỏi ó tin hnh xong thỡ s
quan ph trỏch phi bỏo cỏo vi thuyn trng nhn cỏc ch th tip theo.
(Tham kho thờm phn ph lc v :Departure and arrival safety check list).
19. Trình bày công tác kiểm tra an toàn chằng buộc, thu dọn trớc khi tàu
chuẩn bị rời bến?
trên tàu (Critical shipboard operation) do việc nếu có một sơ suất xẩy ra sẽ dẫn
đến sự cố nghiêm trọng đó là ô nhiễm môi trờng do dầu gây nên, do vậy công
việc này phải đợc tiến hành hết sức thận trọng, với sự phối hợp nhịp nhàng của
cả 2 bộ phận boong và máy dới sự chỉ huy trực tiếp của Thuyền trởng. Một số
điểm lu ý chính để bảo đảm an toàn trong việc tiếp nhận nhiên liệu đợc nêu lên
sau đây:
Trớc khi tiếp nhận nhiên liệu Máy trởng căn cứ vào lợng nhiên liệu sẽ
nhận, lợng nhiên liệu còn lại trên tàu và tình hình các két để lập kế hoạch tiếp
nhận nhiên liệu (Bunkering plan) và trình Thuyền trởng duyệt. Thuyền phó nhất
và Máy trởng phải kiểm tra và lập danh mục kiểm tra cho hoạt động tiếp nhận
nhiên liệu :Checklist for bunkering operation (Xem chi tiết ở phần phụ lục). Đồng
thời ít nhất 1 ngày trớc khi hoạt động tiếp nhận nhiên liệu phải cho tiến hành
thực tập tiếp nhận nhiên liệu (Bunkering training) và thực tập chống tràn dầu
(Oil spill drill).
Trong mọi trờng hợp không cho phép lợng nhiên liệu lấy vào một két vợt
quá 85% thể tích của két đó.
Trớc khi bắt đầu công việc phải tổ chức họp bàn giữa Máy trởng, Thuyền
phó nhất và những ngời phụ trách việc cấp nhiên liệu (từ bờ hoặc từ xà lan dầu)
để thống nhất với nhau một số vấn đề quan trọng nh: ngôn ngữ để liên lạc, tín
hiệu liên lạc giới thiệu kế hoạch tiếp nhận, chỉ rõ những ngời trực tiếp làm việc
của cả hai bên, thảo luận về quy trình dừng khẩn cấp ....
- Những công việc quan trọng đối với bộ phận boong cần nhớ là:
a) Kéo cờ hoặc đèn tín hiệu quốc tế lên (Ban ngày cờ chữ B, ban đêm thì
đèn đỏ chiếu sáng khắp bốn phía)
b) Kiểm tra và thu căng tất cả các dây buộc tàu (nếu đang cập cầu). Trong
suốt thời gian đang xẩy ra hoạt động tiếp nhận nhiên liệu phải thờng xuyên kiểm
tra tình trạng của các dây buộc tàu để bảo đảm rằng tàu không bị dịch chuyển.
Đồng thời kiểm tra tình trạng của các dây buộc giữa phơng tiện cấp dầu với tàu
mình.
c) Kiểm tra để bảo đảm rằng tất cả các lỗ thoát nớc trên boong đã đợc đóng
thời gian phù hợp (thờng là trớc 15 phút) để làm quen với tình hình của tàu
nh vị trí hiện tại, hớng đi, tốc độ và tình trạng hoạt động của các trang thiết bị
cũng nh tình hình hoạt động của các tàu bè khác chung quanh... đặc biệt
vào ban đêm phải có thời gian để mắt làm quen với bóng tối.
b. Sĩ quan giao ca sẽ không đợc phép giao ca trực cho sĩ quan nhận ca khi
nhận thấy rằng anh ta không đủ khả năng đảm nhận ca trực một cách an
toàn (chẳng hạn nh anh ta đang bị ốm, đang say rợu, say thuốc phiện hay
các chất kích thích khác hoặc đang có vẻ mệt mỏi...) đồng thời phải ngay lập
tức báo cáo Thuyền trởng biết.
c. Sĩ quan nhận ca sẽ cha nhận ca cho đến khi anh ta nhận thấy rằng thuỷ thủ
cùng đi ca với anh ta hoàn toàn đủ khả năng để thực hiện an toàn ca trực
của mình. Đồng thời anh ta cũng đảm bảo rằng thị giác của thuỷ thủ đi ca và
anh ta đã quen với bóng tối (nếu là ca trực đêm)
23
d. Khi đang tiến hành điều động tránh va hay đang thực hiện một hành động
ngăn ngừa các nguy hiểm khác đối với tàu thì việc giao nhận ca sẽ tạm thời
cha thực hiện cho đến khi các hành động nêu trên đã hoàn tất.
e. Sĩ quan nhận ca sẽ xác nhận việc hoàn thành quy trình giao ca của thuỷ thủ
trực ca.
f. Sau khi giao ca xong, sĩ quan giao ca phải cùng với thuỷ thủ tiến hành tuần
tra chung quanh tàu để kiểm tra an toàn chung và các hiện tợng bất thờng
khác của tàu sau đó ghi chép vào sổ tuần tra đêm (Night patrol).
Những điểm cần thiết khi giao nhận ca:
Sĩ quan giao ca trớc khi rời buồng lái phải đảm bảo rằng đã giao cho sĩ quan
nhận ca các điểm chủ yếu sau đây:
a. Các mệnh lệnh thờng trực (Standing orders) cũng nh các lệnh và chỉ thị khác
(nếu có) của Thuyền trởng (thờng ghi trong sổ lệnh đêm: Night order book).
Khi có sự hỏng hóc đối với thân tàu, máy móc, máy lái hoặc các thiết bị hàng
hải chủ yếu khác của tàu.
Khi có bất kỳ tình trạng tổn thất nào do tác động của thời tiết trong thời gian
thời tiết xấu xẩy ra.
Khi nhận đợc các bản điện cấp cứu, các cảnh báo hàng hải và các bức điện
quan trọng khác liên quan đến an toàn hàng hải.
Khi nhận đợc các bức điện quan trọng hoặc các tín hiệu từ các tàu chiến
hoặc từ các trạm đài bờ.
Khi nhận thấy các tình trạng bất thờng đợc liệt kê sau đây:
a. Khi không phát hiện đợc đất liền hoặc các mục tiêu hàng hải mà theo dự tính
là sẽ phải thấy vào thời điểm đó.
b. Khi độ sâu xác định đợc tơng ứng với vị trí tàu là sai lệch nhiều so với độ sâu
ghi trên hải đồ.
c. Khi có sự thay đổi lớn hoặc sự bất thờng của các điều kiện thời tiết hoặc tình
trạng biển (nh khi khí áp suy giảm rõ rệt, hớng và tốc độ gió thay đổi lớn, tầm
nhìn xa suy giảm mạnh).
d. Khi có ngời bị thơng nặng hoặc ốm đau nặng trên tàu.
e. Khi có sự tăng lên bất thờng của mực nớc lacanh hầm hàng, buồng máy hoặc
sự tăng trởng trong nhiệt độ hầm hàng.
f. Khi phát hiện thấy hoặc đợc báo cáo về bất kỳ một sự bất thờng nào khác liên
quan đến an toàn của tàu.
Tuy nhiên trớc tình hình nguy cấp mà nguy hiểm sắp xẩy ra và không còn đủ
thời gian để gọi Thuyền trởng đợc thì sĩ quan trực ca phải không ngần ngại đa ra
các hành động cần thiết phù hợp mà hoàn cảnh lúc đó đòi hỏi và báo cáo cho
Thuyền trởng càng sớm càng tốt.
23.
Nêu yêu cầu an toàn chung khi sử dụng các thiết bị xếp dỡ hàng
hoá trên tàu?
Thuyền trởng phải đảm bảo rằng bất kỳ một thiết bị xếp dỡ nào đợc sử
dụng trên tàu phải luôn ở trong tình trạng hoạt động tốt, luôn đáp ứng an toàn