Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Trang Thanh
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất đai là tài sản, là nguồn lực vô cùng quý giá của mỗi quốc gia. Trong
sản xuất đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không có gì thay thế được. Đặc biệt
là trong nông nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp là tư liệu đặc biệt, là nơi phát
triển sản xuất, tạo ra của cải vật chất nuôi sống đại bộ phận dân số cả nước, đảm
bảo an ninh lương thực quốc gia, góp phần cung ứng lương thực cho thế giới,
xuất phát từ tầm quan trọng này, Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm đến các
vấn đề quản lý và sử dụng đất đai nói chung và đất sản xuất nông nghiệp nói
riêng.
Ý thức được đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt có ý nghĩa quyết định trong
sản xuất nông nghiệp, cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, Huyện
Đô Lương đã tiến hành điều chỉnh, sắp xếp lại đất sản xuất nông nghiệp. Trước
năm 2012, riêng ở Đô Lương bình quân mỗi hộ vẫn còn sản xuất gần 8 thửa, cá
biệt có hộ vẫn còn tới 15 thửa ruộng, quy mô thửa đất còn nhỏ... Tình hình đó đã
ảnh hưởng không tốt đến việc đầu tư thâm canh, chuyển dịch cơ cấu cây trồng
vật nuôi, cản trở đưa máy móc vào đồng ruộng và phân công lao động nông
nghiệp. Đường giao thông nội đồng, hệ thống kênh mương thủy lợi xuống cấp…
ruộng đất manh mún không thể sản xuất hàng hóa nông sản có thương hiệu cạnh
tranh, nông dân chỉ làm đủ ăn, thu nhập thấp, đời sống bấp bênh và không thể có
cơ hội làm giàu trên đồng đất của mình.
Với vị trí một huyện trọng điểm lúa của tỉnh, năm 2013 huyện Đô Lương
đã có 3 xã hoàn thành việc dồn điển, đổi thửa gồm Trung Sơn, Lưu Sơn, Thuận
Sơn và chỉ đạo, đôn đốc các xã còn lại hoàn thành trong năm 2014, nhằm tạo
điều kiện chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp trong các năm tiếp theo. Đây là
một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân được đại đa số nhân dân đồng tình ủng
hộ. Quán triệt chủ trương của Đảng về nội dung chủ yếu của CNH – HĐH nông
thôn mới. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa ở xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương,
tỉnh Nghệ An”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn xã Đặng Sơn,
huyện Đô Lương, tìm ra những tồn tại hạn chế, nguyên nhân.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sau dồn điền đổi
thửa, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn
mới trên địa bàn xã.
3. Nhiệm vụ và giới hạn phạm vi nghiên cứu
3.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về công tác dồn điền đổi thửa.
SVTH: Bùi Thị Hiền
1252056576
2
MSSV:
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Trang Thanh
- Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa ở xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương,
tỉnh Nghệ An.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sau dồn điền đổi
thửa.
3.2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi xã Đặng Sơn thuộc huyện Đô Lương, tỉnh
3
MSSV:
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Trang Thanh
Tiến hành xử lý số liệu thống kê bằng phần mềm Excel sau khi điều tra, thu
thập thông tin. Trên cơ sở đó phân tích, đánh giá về thực trạng công tác dồn điền
và ảnh hưởng của nó đến sản xuất nông nghiệp của xã.
c. Phương pháp quan sát
Quan sát thực tế đồng ruộng và hệ thống giao thông thủy lợi trên địa bàn xã
Đặng Sơn.
7. Bố cục đề tài
Đề tài gồm có 3 phần:
Phần 1: Phần mở đầu
Phần 2: Nội dung nghiên cứu gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác dồn điền đổi thửa
Chương 2: Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa ở xã Đặng Sơn
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sau dồn điền
đổi thửa.
Phần 3: Kết luận và kiến nghị
SVTH: Bùi Thị Hiền
1252056576
4
vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản
cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống
và đất trồng hoa, cây cảnh;
1.1.1.2. Đặc điểm
Cũng như các loại đất khác nói chung và đất NN nói riêng chúng đều là sản
phẩm của tự nhiên. Ban đầu chúng chỉ là sản phẩm sơ khai, trải qua quá trình
SVTH: Bùi Thị Hiền
1252056576
5
MSSV:
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Trang Thanh
chinh phục con người đã tác động vào đất đai thông qua lao động nhằm mục đích
phục vụ lợi ích của con người. Theo thời gian sức lao động của con người đã được
kết tinh vào đất đai trong quá trình cải tạo, khai thác, sử dụng do đó đất đai có giá
trị và giá trị sử dụng. Bởi vậy đất NN có những đặc điểm sau:
- Đất NN là sản phẩm của tự nhiên có sự kết tinh giá trị sức lao động của
con người vào trong đó.
Đất NN nói riêng, đất đai nói chung được hình thành qua quá trình phong
hoá các loại đất đá, dưới tác động của các quy luật tự nhiên như: nhiệt độ, không
khí, độ ẩm, ánh sáng, động đất, hoạt động núi lửa, mưa bão, các phản ứng lý học,
hoá học v.v… Trải qua quá trình phong hoá và các vòng tuần hoàn biến đổi khác
nhau dần được “ổn định” đất đai được hình thành dưới nhiều dạng đồi, núi, đầm
lầy, suối, sông, hồ, biển, đất đồng bằng, cao nguyên…Trên cơ sở đó mà sự sống
chính hình thành địa tô chênh lệch I. Xuất phát từ đặc điểm này các quốc gia đã
lấy đó làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược, đưa ra các chủ trương giải
pháp, chính sách khai thác và sử dụng đất đai sao cho phù hợp với mỗi quốc gia,
mỗi địa phương, mỗi vùng khác nhau. Điều đó cũng giúp cho con người khai
thác có hiệu quả hơn đất sản xuất NN và đó cũng chính là biện pháp tác động để
rút ngắn khoảng cách địa tô chênh lệch I giữa các dạng đất SXNN khác nhau.
- Đất NN chỉ là hữu hạn, có vị trí cố định và phụ thuộc vào điều kiện tự
nhiên của từng vùng.
Như chúng ta đã biết trái đất của chúng ta vô cùng to lớn nhưng cũng chỉ là
hữu hạn so với vũ trụ. Vì vậy đất NN trên thế giới hiện nay của mỗi quốc gia
cũng chỉ là hữu hạn, bởi lãnh thổ của mỗi quốc gia chỉ là hữu hạn.
Ở đặc điểm thứ nhất đã nêu trên đây, đất NN là sản phẩm của tự nhiên. Do
đó nó tồn tại khách quan, con người chỉ có thể cải tạo khai thác nó phục vụ cho
mục đích của con người chứ không thể tạo ra được. Căn cứ vào tính chất hữu
hạn, chất lượng và mục đích sử dụng mà người ta phân thành các loại đất khác
nhau trong đó có đất SXNN. Do đặc điểm chỉ là hữu hạn, nên đòi hỏi mỗi quốc
gia phải có những phương thức, chính sách, biện pháp, sử dụng đất đai sao cho
có hiệu quả bền vững, đảm bảo các mối quan hệ xã hội nhất là quan hệ lợi ích
được đem lại từ đất đai.
Vì có vị trí, mặt bằng cố định và hữu hạn, cho nên mặt bằng đất NN không
thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác được. Đất NN được phân bố ở nơi nào
thì nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên cụ thể ở nơi đó. Nơi nào có điều kiện tự
nhiên khắc nghiệt, chất đất khô cằn, nghèo nàn thì nơi đó diện tích đất NN
chiếm phần rất nhỏ trong tổng diện tích đất tự nhiên và ngược lại. Bên cạnh đó
tính hữu hạn của nó còn bị chi phối, bị phụ thuộc vào mật độ dân số, cơ cấu kinh
tế, mức độ đô thị hoá ở nơi đó.
SVTH: Bùi Thị Hiền
1252056576
7
nghèo đi. Do đó ứng xử với đất đai trong quá trình sản xuất chúng ta cần phải
tôn trọng các quy luật tự nhiên, biết tiết kiệm, giữ gìn, bồi bổ đất đai, nâng cao
hệ số sử dụng đất, khai thác tốt và nâng cao hiệu quả tiềm năng đất đai.
Điểm đặc biệt nữa của đất NN không giống các TLSX khác là sau thời gian
sử dụng sẽ bị hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình. Còn đất NN sau một thời
gian hay một chu kỳ sản xuất nếu được sử dụng khoa học hợp lý, được tiếp tục
SVTH: Bùi Thị Hiền
1252056576
8
MSSV:
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Trang Thanh
bồi bổ thì đất đai không những còn nguyên mà độ phì nhiêu mầu mỡ của nó
được tăng lên, theo đó sức sản xuất của nó cũng được nhân lên.
Đất NN là TLSX không thể di chuyển được từ nơi này sang nơi khác như
các TLSX khác, mà nó chỉ được sử dụng, khai thác ở vị trí cố định và quá trình
sử dụng còn có sự gắn kết với môi trường tự nhiên khác như nước, không khí,
ánh nắng…
Chính những đặc điểm nêu trên của đất NN đòi hỏi người sử dụng đất phải
có những chính sách, chiến lược khai thác, sử dụng đất NN “Tư liệu sản xuất
đặc biệt” làm sao cho sức sản xuất của nó không ngừng được tăng cao.
Nhờ nắm bắt được quy luật khách quan và nhận thức được sự đặc biệt của
TLSX đất NN mà Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương đúng đắn đã
đưa Việt Nam từ một quốc gia thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu lương
chính là những tác động trực tiếp của con người vào đối tượng lao động là đất
đai.
1.1.1.3. Vai trò của đất nông nghiệp đối với quá trình sản xuất
- Đất NN là TLSX đặc biệt duy nhất, là nơi sản xuất ra lương thực thực
phẩm nuôi sống con người và xã hội.
Con người chúng ta muốn tồn tại phải có cái ăn, muốn có cái ăn không thể
chỉ dựa vào những sản vật sẵn có trong tự nhiên do thiên nhiên ban tặng mà phải
lao động sản xuất ra của cải vật chất là lương thực thực phẩm để nuôi sống con
người và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Và nơi duy nhất để sản
xuất ra của cải vật chất chính là đất NN.
Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội đến nay đã trải qua các thời kỳ
khác nhau từ kinh tế tự nhiên, tự túc tự cấp chuyển sang kinh tế hàng hoá, từ
sản xuất hàng hoá nhỏ lên sản xuất hàng hoá có quy mô lớn và hiện đại, tất
thảy trong sản xuất NN thì bao giờ đất đai cũng đóng vai trò cực kỳ quan
trọng. Xã hội càng phát triển thì vai trò của đó của đất NN cũng phát triển
theo.
- Đất NN là môi trường sống, môi trường không gian để SXNN.
SXNN có đặc thù là sản xuất ở ngoài trời, phải tiếp xúc với tự nhiên. Cây
phải sống trên đất, quang hợp nhờ ánh nắng mặt trời, hút nước từ trong đất, cá
phải sống dưới nước sông, hồ, biển; gia súc, gia cầm phải có chuồng trại, có bãi
chăn thả; con vật nuôi phải có thức ăn, mà thức ăn lại chính là các động thực vật
được sản xuất từ trong NN. Tất cả những yếu tố đó chính là môi trường sống, là
không gian để sản xuất. Muốn sản xuất phát triển thì chúng ta phải biết giữ gìn,
bảo vệ môi trường, không vi phạm các quy luật tự nhiên, không chỉ biết khai
thác đất đai mà còn phải biết bồi bổ đất đai, tạo lập môi trường sống tốt nhất cho
cây trồng vật nuôi.
SVTH: Bùi Thị Hiền
1252056576
10
phát triển kinh tế hộ và trang trại, củng cố quan hệ sản xuất, thực hiện
CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn.
1.1.3. Sự cần thiết phải thực hiện công tác dồn điền đổi thửa
Chủ trương của Đảng và Nhà nước là tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới
cơ chế kinh tế nông nghiệp, nông thôn, thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế
tự chủ trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên trước nhu cầu của sự nghiệp
SVTH: Bùi Thị Hiền
1252056576
11
MSSV:
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Trang Thanh
CNH-HĐH đất nước, nền nông nghiệp, đặc biệt là vấn đề ruộng đất trong nông
nghiệp đã bộc lộ những tồn tại, nảy sinh mới cần phải được quan tâm giải quyết,
đó chính là tình trạng ruộng đất quá manh mún, quá nhiều ô thửa nhỏ. Chuyển
đổi ruộng đất để tạo ra ô thửa lớn là việc làm cần thiết, tạo tiền đề cho việc thực
hiện CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Mặt khác, khi thực hiện giao đất còn nhiều sai sót, tùy tiện dẫn đến tình
trạng khiếu kiện kéo dài gây mất ổn định, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch
kiến thiết ruộng đồng thiếu khoa học, thiếu tầm nhìn chiến lược đang gây trở
ngại lớn cho việc đổi mới quản lý, tổ chức lại sản xuất, nhất là việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế.
Để khắc phục tình trạng trên, giải pháp có hiệu quả nhất là phải tiến hành
dồn điền đổi thửa hay thường gọi là chuyển đổi ruộng đất. Có 2 cơ chế chủ yếu
hoạch. Mặt khác, khi dồn điền, đổi thửa, số thửa giảm, ít bờ ruộng hơn, nên diện
tích đất canh tác chắc chắn sẽ tăng hơn so với trước DĐĐT;
- DĐĐT tạo tiền đề cho việc quy hoạch lại đồng ruộng, là cơ sở cho việc
hoạch định chính sách đầu tư phát triển SXNN, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ sản xuất như: đường giao thông
nội đồng, cứng hoá hệ thống kênh mương, quy hoạch những vùng chuyên canh,
khai thác được lợi thế của từng vùng đất khác nhau;
- DĐĐT thửa tạo điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nội
bộ ngành NN, thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá, làm tiền đề cho việc hình
thành các doanh nghiệp trong NN và có điều kiện để hình thành nhiều trang trại,
nông trại, góp phần đưa chăn nuôi ra khỏi khu dân cư, thúc đẩy phân công lại
lao động xa hội. Bởi vì hiện nay do ruộng có ô thửa nhỏ, trên một cánh đồng các
hộ canh tác những cây trồng khác nhau có thời gian sinh trưởng khác nhau, chế
độ chăm sóc thu hoạch khác nhau. Điều đó gây ảnh hưởng và hạn chế lẫn nhau,
không có loại cây trồng nào có diện tích đủ lớn dẫn đến không có khối lượng
hàng hoá lớn. Nếu thực hiện DĐĐT sẽ khắc phục được tình trạng này;
- DĐĐT thành công sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất:
Hiện nay do thửa ruộng nhỏ, khâu làm đất người nông dân chủ yếu cày bừa
thủ công theo lối truyền thống bằng trâu, bò, thậm chí nhiều nơi người dân vẫn
cuốc đất bằng tay. Mặt khác khâu gieo cấy, thu hoạch phổ biến hiện nay vẫn áp
dụng phương pháp thủ công là chính, chi phí cao, mất nhiều thời gian, năng suất
lao động thấp, nông dân vẫn phải lao động cực nhọc. Nếu đẩy mạnh việc DĐĐT
sẽ dễ dàng cho việc áp dụng máy móc vào sản xuất như máy cày bừa, máy gặt
đập liên hợp, máy gieo hạt, máy cấy, phương tiện vận chuyển cơ giới …khi đó
hao phí thời gian lao động ít, lao động sống được giải phóng, giảm được lao
SVTH: Bùi Thị Hiền
1252056576
13
dồn điền, đổi thưả trên tinh thần tự nguyện, tăng cường tình làng nghĩa xóm, góp
phần ổn định chính trị - xã hội ở địa phương.
- Phải lấy mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh làm căn cứ
chính, gắn việc dồn điền đổi thửa với chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng
chuyên canh sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị kinh tế trên đơn vị diện tích, mở
rộng cánh đồng thu nhập cao, đẩy mạnh xây dựng cánh đồng mẫu lớn và thực
SVTH: Bùi Thị Hiền
1252056576
14
MSSV:
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Trang Thanh
hiện đồng bộ các loại quy hoạch nông thôn mới, nhất là quy hoạch sử dụng đất,
quy hoạch lại đồng ruộng, quy hoạch lại hệ thống giao thông, thủy lợi nội đồng
để thực hiện kiên cố hóa kết cấu hạ tầng nông thôn, quy hoạch đất để phục vụ
xây dựng cơ sở hạ tầng và các nhu cầu khác nhằm phục vụ phát triển kinh tế- xã
hội của địa phương tạo thuận lợi cho việc cơ giới và tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất.
- Phương án dồn điền đổi thửa phải nhanh gọn, không ảnh hưởng đến thời
vụ sản xuất. Có hệ số bù trừ diện tích ở các vị trí xa gần, chất lượng tốt xấu để
các hộ dân bàn bạc, thỏa thuận lựa chọn. Sau khi thực hiện xong việc dồn điền
đổi thửa bình quân mỗi hộ nông dân chỉ có từ 1-2 thửa.
- Sắp xếp lại quỹ đất công ích tập trung, không để tình trạng xen lẫn giữa
đất giao ổn định cho dân với đất công ích ; lựa chọn vị trí thích hợp để phát huy
1.1.6. Những chủ trương, đường lối của chính quyền các cấp về dồn
điền đổi thửa
a. Đảng và Nhà Nước
- Văn kiện Đại hội Đảng khóa VII (1991), Văn kiện Hội nghị Ban chấp
hành Trung ương lần thứ 2 (khoá VII); Nghị quyết của Ban chấp hành Trung
ương lần thứ 4, khoá VIII (1996);
- Nghị quyết số 06 – NQ/TW ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị về một số
vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn;
- Đại hội IX (2001) của Đảng đã quyết định đường lối, chiến lược phát
triển kinh tế-xã hội nước ta 10 năm (2001-2010) trong đó nông nghiệp và nông
thôn được quan tâm đặc biệt. Tuy nhiên, một trong những vấn đề gây trở ngại
cho quá trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn chính là tình trạng đất đai
manh mún, phân tán;
- Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 12/3/2003 tại hội nghị lần thứ 7 ban chấp
hành Trung ương Đảng (khoá IX) về việc tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật
về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước đã nêu rõ: “Khuyến
khích tích tụ đất đai, sớm khắc phục tình trạng đất sản xuất nông nghiệp manh
mún. Quá trình tích tụ đất đai cần có sự chỉ đạo và quản lý của Nhà nước, có
quy hoạch, kế hoạch, có bước đi vững chắc trên từng địa bàn, lĩnh vực, gắn với
chương trình phát triển ngành nghề, tạo việc làm. Tích tụ đất đai thông qua việc
nhận chuyển nhượng và nhiều biện pháp khác phù hợp với từng thời kỳ, từng
vùng”; - Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung
ương khoá X về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn.
- Luật Đất đai số 13/2003/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003.
- Luật Đất đai số 45/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 29/11/2014.
SVTH: Bùi Thị Hiền
1252056576
giai đoạn 2011-2020.
- Chỉ thị số 08-CT/TU ngày 08/5/2012 của Ban thường vụ Tỉnh ủy về đẩy
mạnh vận động nông dân dồn điền đổi thửa và khuyến khích tích tụ ruộng đất để
phát triển sản xuất quy mô lớn trong nông nghiệp ;
- Quyết định số : 2928/QĐ-UBND.ĐC ngày 06/8/2012 của UBND Tỉnh
Nghệ An về việc ban hành kế hoạch tổ chức thực hiện cuộc vận động nông dân ‘
dôn điền đổi thửa’ theo chỉ thị số 08-CT/TU ngày 08/5/2012 của Ban thường vụ
SVTH: Bùi Thị Hiền
1252056576
17
MSSV:
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Trang Thanh
tỉnh ủy.
c. Huyện Đô Lương
- Quyết định số 1946/QĐ-UBND.TN ngày 15/11/2012 về việc ban hành Kế
hoạch tổ chức thực hiện cuộc vận động nông dân “dồn điền, đổi thửa” theo Chỉ
thị số 08-CT/TU trên địa bàn. UBND huyện Đô Lương triển khai đến cấp ủy,
chính quyền 32 xã, đã tổ chức tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho công chức
địa chính.
- Công văn số 339/UBND.TN ngày 02/4/2013 của UBND huyện Đô Lương về
việc chỉ đạo đẩy mạnh cuộc vận động nông dân “dồn điền, đổi thửa” trên địa bàn
huyện Đô Lương.
- Quyết định số 2016/QĐ-UBND ngày 15/10/2013 của UBND huyện Đô
Hội nghị quán triệt chủ trương dồn điền đổi thửa được tổ chức ở tỉnh,
huyện và xã với thành phần Bí thư, Chủ tịch HĐNĐ, UBND các cấp, thủ trưởng
các cơ quan, đoàn thể có liên quan.
Riêng cấp xã phải tổ chức Hội nghị quán triệt từ cấp uỷ Đảng cho đến
đảng viên, thành viên HĐND, UBND, Mặt trận, các đoàn thể, cán bộ HTX, đội
sản xuất, cán bộ thôn. Các xã phải có kế hoạch cụ thể để tổ chức quán triệt kỹ
trong nhân dân để tạo sự đồng tình cao trong nội bộ thôn xóm. Phải coi đây là
một cuộc vận động chính trị, tư tưởng sâu sắc, rộng khắp trong toàn Đảng, toàn
dân, không được xem nhẹ công tác này.
Bước 2: Thành lập Ban chỉ đạo các cấp
Ban chỉ đạo thuộc cấp nào thì do cấp đó quyết định; tùy tình hình cụ thể từng
huyện, từng xã mà quyết định số lượng thành viên tham gia Ban chỉ đạo. Các thành
viên trong Ban chỉ đạo phải được phân công nhiệm vụ cụ thể. Ban chỉ đạo có trách
nhiệm giúp UBND cùng cấp tổ chức thực hiện việc dồn điền đổi thửa; trực tiếp chỉ
đạo, kiểm tra đôn đốc Ban chỉ đạo cấp dưới hướng dẫn nông dân chuyển đổi ruộng
đất
Giúp việc cho ban chỉ đạo ở các cấp là tổ công tác gồm cán bộ từ các
ngành có thành viên tham gia Ban chỉ đạo; riêng cấp xã được hợp đồng một số
lao động từ 5 đến 7 người tùy theo khối lượng công việc.
Bước 3: Chỉ đạo xây dựng phương án dồn điền đổi thửa và hướng dẫn
nghiệp vụ
- Điều tra khảo sát hiện trạng, tình hình quản lý và sử dụng đất đai
+ Tiến hành điều tra, thống kê chi tiết thực trạng quản lý và sử dụng đất
trên cơ sở đó lập quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch giao thông thủy lợi nội
đồng, quy hoạch sản xuất và lựa chọn phương án thực hiện cho phù hợp.
+ Bản đồ hoặc sơ đồ ruộng đất theo hiện trạng, diện tích, danh sách các hộ
có ruộng phải được niêm yết công khai tại từng thôn.
SVTH: Bùi Thị Hiền
1252056576
thửa lớn theo cách “rút bù diện tích” không nên phân đất thành nhiều loại, hạng
đất trong 1 thôn mà nên căn cứ vào năng suất sản lượng để hình thành từ 2 đến 4
nhóm đất chính để khi dồn ghép giao đất cho hộ nông dân để thu nhỏ số thửa
đất.
+ Tổ chức lấy ý kiến phương án chuyển đổi ruộng đất sau khi xây dựng
thông qua hội nghị đại biểu nông dân, để tu sửa hoàn chỉnh cho đến khi đạt được
sự thống nhất theo quy chế dân chủ ở cơ sở thì trình UBNĐ huyện phê duyệt.
SVTH: Bùi Thị Hiền
1252056576
20
MSSV:
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Trang Thanh
- Tổ chức cho hộ nông dân đăng ký chuyển đổi ruộng đất cho nhau
Tổ chức cho các hộ nhận ruộng đất trên phương án và trên hồ sơ sổ sách:
có thể áp dụng hình thức đăng ký hoặc bốc thăm nhận ruộng; cho phép các hộ
chọn ghép theo dòng họ hoặc theo thuận lơi tiện canh tiện cư để đăng ký hoặc
bốc thăm nhận ruộng. Lưu ý dù tổ chức đăng ký hoặc bốc thăm thì cũng phải
tiến hành theo thứ tự: đăng ký hoặc bốc thăm ruộng xấu trước, ruộng tốt sau.
+ Tổ chức dồn điền đổi thửa gắn với huy động lao động công ích để kiến
thiết lại giao thông nội đồng và bờ vùng bờ thửa
Bước 4: Chỉ đạo, tổ chức hướng dẫn giao ruộng ngoài thực địa
Tổ công tác giúp việc Ban chỉ đạo xã cùng hộ sử dụng đất tiến hành đo đạc
cắm mốc giao ruộng theo mã bốc thăm ngoài thực địa. Lập biên bản giao đất
thành; Kết quả đó đã tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy phong trào sản xuất nông
nghiệp trên địa bàn tỉnh. Hộ nông dân được làm chủ trên diện tích được giao,
yên tâm đầu tư thâm canh, tăng năng suất, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, góp
phần xóa đói, giảm nghèo, giữ vững ổn định xã hội ở nông thôn. Tuy nhiên, tại
thời điểm thực hiện Nghị định số 64/CP, cơ sở hạ tầng còn nhiều bất cập, trình
độ năng lực sản xuất của nông dân còn hạn chế nên yêu cầu đặt ra trong giao đất
là phải tránh rủi ro trong sản xuất, đảm bảo công bằng, cơ bản giữ nguyên trạng
kết quả giao đất theo Khoán 10. Từ đó dẫn đến tình trạng ruộng đất chia cho
nông dân quá phân tán, manh mún; quỹ đất công ích của hầu hết các xã đều để
phân tán, xen lẫn trong quỹ đất giao cho hộ gia đình nên việc đấu thầu hoặc cho
thuê để tạo nguồn thu cho xã gặp nhiều khó khăn; hệ thống giao thông, thủy lợi
nội đồng bất cập, không đáp ứng được nhu cầu đi lại, vận chuyển vật tư, sản
phẩm và tưới tiêu trong sản xuất.
Để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên
địa bàn tỉnh, ngày 05/4/2001, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chỉ thị số
02/CT-TU về việc vận động nông dân chuyển đổi ruộng đất.
Thực hiện Chỉ thị số 02/CT-TU ngày 05/4/2001 của Ban Thường vụ Tỉnh
ủy, đến cuối năm 2004, tất cả các đơn vị cấp xã có khả năng chuyển đổi ruộng
đất trên địa bàn tỉnh đã tổ chức thực hiện (342 số xã có khả năng chuyển đổi/480
xã trong toàn tỉnh).
Quá trình chuyển đổi ruộng đất tại các địa phương đã hình thành nên các
thửa đất có diện tích lớn hơn so trước đó; bước đầu đã gắn công tác chuyển đổi
ruộng đất với quy hoạch cải tạo lại đồng ruộng, nâng cấp hệ thống giao thông,
thủy lợi nội đồng; từng bước chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, làm
tăng hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích; góp phần xóa đói, giảm nghèo, đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Công tác chuyển
đổi ruộng đất tại nhiều địa phương ở giai đoạn này còn một số tồn tại, hạn chế.
Chưa gắn việc chuyển đổi ruộng đất với quy hoạch lại đồng ruộng và chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, vật nuôi; quy mô diện tích của thửa đất sau chuyển đổi còn
SVTH: Bùi Thị Hiền
Phong 2/2 xã, Quỳ Châu 2/2 xã, Vinh 1/1 xã.
- Có 276,925 hộ tham gia thực hiện dồn điền, đổi thửa( gồm: Quế Phong
190 hộ, Quỳ Hợp 1.081 hộ; Thái Hòa 1.231 hộ, Cửa Lò 33 hộ, Con Cuông 1.727
hộ, Quỳ Châu 119 hộ, Nghĩa Đàn 10.250 hộ, Quỳnh Lưu 40.890 hộ, Hoàng Mai
4.812 hộ, Diễn Châu 57.457 hộ, Nghi Lộc 18.762 hộ, Nam Đàn 31.832 hộ,
Thanh Chương 51.275 hộ, Đô Lương 39.959 hộ, Yên Thành 19.504 hộ, Tân Kỳ
8.814 hộ, Anh Sơn 17.286 hộ, Hưng Nguyên 11.662 hộ).
- 77.877,1 ha đất sản xuất nông nghiệp đủ điều kiện dồn diền, đổi thửa đã
thực hiện dồn điền, đổi thửa ( gồm: Quế Phong 50,52 ha, Quỳ Hợp 181,06 ha;
Thái Hòa 172,99 ha, Cửa Lò 10,1 ha, Con Cuông 1.080,92 ha, thành phố Vinh
75 ha, Quỳ Châu 87,5 ha, Nghĩa Đàn 1.767 ha, Quỳnh Lưu 9.005,24 ha, Hoàng
SVTH: Bùi Thị Hiền
1252056576
23
MSSV:
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Trang Thanh
Mai 722,69 ha, Diễn Châu 11.621 ha, Nghi Lộc 6.062,18 ha, Nam Đàn 9.026,37
ha, Thanh Chương 10.240,19 ha, Đô Lương 8.387,23 ha, Yên Thành 13.100 ha,
Tân Kỳ 1.767,49 ha, Anh Sơn 4.348,6 ha, Hưng Nguyên 5.182,14 ha).
- Quy mô bình quân thửa đất sau dồn điền, đổi thửa là 1.214, 19 m 2, cụ thể
tại các địa phương như sau: Quỳ Hợp 2.006,6 m 2; Nghĩa Đàn 1.251 m2; Quỳnh
Lưu 1.552,1 m2; Diễn Châu 1.137 m2; Nghi Lộc 1.446 m2; Nam Đàn 1.235, 6m2;
Hưng Nguyên 1.213,5 m2; Thanh Chương 2.180 m2; Anh Sơn 1.277 m2; Đô
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Trang Thanh
được yêu cầu của thực tiễn. Tuy nhiên, một số xã có khó khăn về kinh phí nên
chưa hoàn thiện việc cứng hóa giao thông, thủy lợi nội đồng.
c. Kết quả chuyển đổi cơ cấu cây trồng – vật nuôi
Để nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích, việc chuyển đổi cơ
cấu cây trồng – vật nuôi là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, việc đưa ra mô hình mới
về chuyển đổi cơ cấu cây trồng – vật nuôi có sức thuyết phục cao để nông dân
mạnh dạn đầu tư còn hạn chế, vì vậy kết quả chuyển đổi cơ cấu cây trồng – vật
nuôi thời gian qua ở các địa phương có sự chuyển biến nhưng chưa tương xứng
với tiềm năng hiện có.
Toàn tỉnh đã xây dựng được trên 720 mô hình sản xuất có hiệu quả như:
sản xuất rau an toàn, lúa, ngô, lạc, dưa hấu, bí xanh, chuối, khoai lang, gấc, ớt
xuất khẩu, mía đường, cá – lúa, măng tây xanh, chăn nuôi lợn, gà ác.. có năng
suất, chất lượng cao.
d. Kết quả xây dựng cánh đồng mẫu
Đến hết năm 2015, các địa phương đã triển khai được 54 mô hình cánh
đồng mẫu, trong đó:
- 18 mô hình sản xuất lúa với diện tích 995 ha, năng suất đạt từ 65 – 70
tạ/ha ở các huyện: Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, Hưng
Nguyên, Đô Lương, Quế Phong, Con Cuông, Nam Đàn, Thanh Chương, Tân
Kỳ, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Anh Sơn.
- 06 mô hình sản xuất ngô với diện tích 204,9 ha, năng suất đạt từ 55 – 60
tạ/ha ở các huyện: Tân Kỳ, Anh Sơn và Con Cuông, Thanh Chương, Nam Đàn,
Đô Lương.
- 04 mô hình sản xuất lạc với diện tích 163,2 ha, năng suất đạt từ 20 – 30