QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ KIỂM DỊCH THỰC VẬT - Pdf 35

BAN CÔNG TÁC ĐẠI BIỂU
TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG ĐẠI BIỂU DÂN CỬ

B

TẬP SAN
ỒI DƯỠNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC
BẢO VỆ VÀ KIỂM DỊCH THỰC VẬT

TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤC VỤ HỘI NGHỊ
BỒI DƯỠNG ĐẠI BIỂU DÂN CỬ


BIÊN TẬP
Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử

TRỤ SỞ
37 HÙNG VƯƠNG
BA ĐÌNH - HÀ NỘI
ĐT: 080-44352
FAX :080-46003
Website:www.ttbd.gov.vn
Email:

2

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ KIỂM DỊCH THỰC VẬT




5. Định hướng hoạt động hợp tác quốc tế trong thời gian tới

15

PHẦN HAI: QUẢN LÝ VIỆC SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG

SẢN XUẤT RAU, QUẢ TƯƠI

17

1. Đánh giá chung về sản xuất rau, quả và công tác quản lý an toàn thực phẩm
hiện nay

18

2. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tồn dư thuốc BVTV trên rau
3. Kết quả kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm đối với rau, quả

20
25

4. Những tồn tại chủ yếu và nguyên nhân của những tồn tại trong công tác quản lý,
kinh doanh và sử dụng thuốc BVTV trên rau quả tươi hiện nay
31
5. Đề xuất, kiến nghị những giải pháp trong quản lý, kinh doanh và sử dụng thuốc
BVTV bền vững, an toàn và hiệu quả

33


MỞ ĐẦU
Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật được Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá X
thông qua ngày 25 tháng 7 năm 2001 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01
năm 2002 thay thế Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 1993 (sau đây gọi
tắt là Pháp lệnh). Để hướng dẫn thi hành Pháp lệnh, Chính phủ đã ban hành các
Nghị định: Nghị định số 58/2002/NĐ-CP ban hành Điều lệ bảo vệ thực vật, Điều lệ
kiểm dịch thực vật, Điều lệ quản lý thuốc bảo vệ thực vật; Nghị định số 02/2007/NĐ
-CP quy định về kiểm dịch thực vật; Nghị định số 26/2003/NĐ-CP quy định về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Thủ tướng
Chính phủ cũng đã ban hành các Quyết định về quy chế, cơ chế, chính sách trong
phòng chống sinh vật gây hại thực vật.
Sau 10 năm thi hành, Pháp lệnh và các văn bản pháp luật về bảo vệ và kiểm dịch
thực vật đã thực sự góp phần quan trọng, tạo cơ sở pháp lý trong việc phòng trừ
sâu bệnh, ngăn chặn kịp thời dịch hại, bảo vệ an toàn sản xuất nông nghiệp; tăng
cường hiệu lực quản lý nhà nước về công tác bảo vệ thực vật, kiểm dịch thực vật và
quản lý thuốc bảo vệ thực vật; góp phần ổn định và phát triển sản xuất nông nghiệp
bền vững, bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao đời sống nhân dân và thúc đẩy
xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của nước ta.
Tuy nhiên, sau 10 năm thực thi Pháp lệnh năm 2001 đã bộc lộ một số hạn chế là
chưa đáp ứng được những đòi hỏi của hoạt động quản lý nhà nước trong điều kiện
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN ở Việt Nam. Ở tầm Pháp lệnh năm 2001, các quy định chỉ mang tính cụ
thể trước mắt, chưa xác lập những quy định pháp luật với tầm nhìn chiến lược cho
một giai đoạn phát triển mới. Bên cạnh đó, việc thiếu các quy định đáp ứng yêu cầu
của thực tế trong hoạt động bảo vệ và kiểm dịch thực vật, đẩy mạnh xã hội hóa,
đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính đã làm giảm hiệu lực và hiệu quả của một
công cụ pháp lý quan trọng trong hoạt động bảo vệ và kiểm dịch thực vật trong thời
kỳ mới.
Dự án Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật (BV& KDTV) đã được Quốc hội cho ý
kiến lần đầu vào phiên họp thứ năm nhiệm kỳ khóa XIII, dự kiến sẽ được Quốc hội

2010, những thành tựu đã đạt được, và những định hướng cho
hoạt động hợp tác quốc tế trong thời gian tới.

Nội dung chính phần này:
1. Thời kỳ từ năm 1961 - 1990
2. Thời kỳ từ năm 1991 - 2000
3. Thời kỳ từ năm 2001 - 2010
4. Các thành tựu đạt được
5. Định hướng hoạt động hợp tác
quốc tế trong thời gian tới

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ KIỂM DỊCH THỰC VẬT

5


Phần I. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về bảo vệ và kiểm dịch thực vật qua các thời kỳ

Trong hơn bốn mươi năm xây dựng và phát triển, công tác hợp tác quốc
tế trong lĩnh vực KDTV đã đạt được nhiều thành tựu nhất định trong đó, phải
kể đến các sự kiện như tham gia Công ước quốc tế về BVTV (IPPC), Hiệp hội
các nước Đông Nam Á (ASEAN), Hiệp định về Vệ sinh an toàn thực phẩm và
kiểm dịch động thực vật (Hiệp định SPS) và ký kết nhiều Hiệp định, Thỏa
thuận, Bản ghi nhớ song phương với các nước khác. Công tác hợp tác quốc
tế (HTQT) đã đưa lại nhiều cơ hội cho việc nâng cao năng lực, phát triển
ngành, những cũng tạo ra nhiều thách thức và khó khăn trong việc đáp ứng
và thực hiện tốt các quy định của các tổ chức quốc tế mà chúng ta đã tham
gia, ký kết. Theo trình tự thời gian, quá trình hội nhập và HTQT trong lĩnh
vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật có thể được chia thành ba thời kỳ chính:
Từ năm 1961-1990; 1991-2000 và 2001-2010.

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ KIỂM DỊCH THỰC VẬT


Phần I. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về bảo vệ và kiểm dịch thực vật qua các thời kỳ

Về BVTV: Do phát sinh dịch rầy nâu tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu
Long, sản xuất lúa nước của nước ta đã bị thiệt hại nặng nề trên diện rộng.
Việc này đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam.
Để hỗ trợ Việt Nam khắc phục hậu quả, UNDP/FAO đã triển khai dự án
“Tăng cường công tác BVTV ở Việt Nam” với tổng kinh phí trên 4,5 triệu USD
trong 10 năm ( từ 1980-1991, chia thành ba giai đoạn). Mục tiêu chính của
dự án bao gồm: tăng cường cơ sở vật chất, phát triển chương trình phòng
trừ dịch hại tổng hợp, đào tạo cán bộ, xây dựng và củng cố hệ thống pháp
chế.
Sau 10 năm triển khai, dự án đã mang lại nhiều hiệu quả to lớn cho công
tác BVTV của Việt Nam. Thứ nhất là cơ sở vật chất được tăng cường cho
toàn hệ thống BVTV đặc biệt là các cơ quan BVTV ở tuyến huyện. Thứ hai,
công tác nghiên cứu ứng dụng được đẩy mạnh, nhiều tiến bộ khoa học kỹ
thuật được đưa vào sản xuất như thử nghiệm và đưa vào sản xuất giống mới
chống chịu sâu bệnh, sử dụng thuốc BVTV hợp lý và có hiệu quả. Ngoài ra,
nhiều cán bộ được đào tạo chuyên sâu về BVTV và công tác HTQT qua đó
cũng được tăng cường.
Có thể nói, những hoạt động HTQT trong thời kỳ này là tiền đề quan
trọng cho sự phát triển của cục BVTV.
2. Thời kỳ từ năm 1991-2000
Giai đoạn này đánh dấu rất nhiều cột mốc quan trọng quá trình hợp tác
quốc tế của ngành BVTV Việt Nam trong cả ba lĩnh vực KDTV, thuốc BVTV và
BVTV. Chính trong thời kỳ này, Việt Nam vừa bắt đầu mở cửa thị trường với
các nước ngoài khối xã hội chủ nghĩa, lượng nông sản hàng hóa xuất nhập
khẩu tăng rất nhanh, đồng nghĩa với việc có rât nhiều sức ép lên công tác

hợp tác có hiệu quả hơn nữa trong ASEAN cần phải có những đầu tư nhất
định về kinh phí và con người trong việc duy trì một cách liên tục và áp
dụng, triển khai những nội dung và kết qủa đạt được trong toàn ngành
BV&KDTV.
Năm 1996 - tham gia
APEC, ASEM: Đây là
những diễn đàn mở,
nguyên tắc hoạt động là
không bắt buộc, trong các
diễn đàn thì vấn đề
BV&KDTV đều được đưa
vào chương trình nghị sự,
các bên tham gia mang tính
chất tự nguyện, chủ yếu
tập trung vào vấn đề minh
Các hiệp định với ASEAN góp phần tăng cường sự giao lưu, trao đổi
bạch hoá các chính sách,
hợp tác giữa các bên trong lĩnh vực KDTV - Ảnh minh họa
biện pháp của mỗi nước,
tăng cường sự giao lưu, trao đổi và hợp tác giữa các bên. Mặc dù đây là một
diễn đàn mở nhưng Bộ Nông nghiệp &PTNT cũng đã cử cán bộ tham gia tích
cực vào các hoạt động liên quan thuộc tổ chức này. Đặc biệt là tham gia các
khoá tập huấn, đào tạo do APEC/ASEM hỗ trợ cho các nước đang phát triển.
Năm 1999 – ký kết hiệp định GMS: ngày 26/11/1999 tại Viêng chăn,
Chính phủ 3 nước: Việt Nam - Lào - Thái Lan đã cùng nhau ký kết Hiệp định
“ Tạo thuận lợi cho việc vận tải hàng hoá và người qua lại biên giới các nước
thuộc tiểu vùng sông Mê Kông”, gọi tắt là Hiệp định GMS. Cho đến nay có
chính thức 6 nước tham gia Hiệp định GMS bao gồm: Cộng hoà dân chủ
nhân dân Lào, Vương quốc Căm Pu Chia, Vương quốc Thái Lan, Công hoà xã


phòng trừ sâu bệnh này cũng được các tổ chức quốc tế khác và Chính phủ
Đan mạch viện trợ: Mục tiêu của chương trình là huấn luyện nông dân thực
hành BVTV để giảm tối đa lượng thuốc trừ sâu sử dụng trên đồng ruộng,
bảo vệ môi trường sinh thái, sức khoẻ nhân dân và giữ cân bằng hệ sinh
thái, đó là mục tiêu cuối cùng của chương trình IPM. Đến nay, thông qua
chương trình này đã có trên 1500 giảng viên IPM được đào tạo cho các tỉnh
và trên 400,000 nông dân đã được tập huấn.

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ KIỂM DỊCH THỰC VẬT

9


Phần I. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về bảo vệ và kiểm dịch thực vật qua các thời kỳ

- Chương trình Phòng trừ tổng hợp ốc bươu vàng do FAO/UNDP viện trợ
- Dự án “Cải tiến công tác BVTV ở Việt nam” do CHLB Đức viện trợ: Mục
tiêu chính của chương trình là nghiên cứu và sản xuất thuốc trừ sâu sinh học
nhằm thay thế 1 phần thuốc trừ sâu bằng hóa chất. Dự án đã rất thành công
trong việc nghiên cứu và sản xuất NPV, BT đặc biệt là sử dụng nấm có ích
MA cùng với một số loại thuốc thảo mộc để phòng trừ dịch hại.
- Chương trình xử lý ruồi đục quả phục vụ cho xuất khẩu hoa quả của Việt
nam đi các nước do ACIAR/Australia hỗ trợ. Kết quả nghiên cứu của chương
trình này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc xúc tiến thương mại, mở
cửa thị trường. Đây là tiền đề quan trọng để vượt qua hàng rào phân tích
nguy cơ dịch hại, xuất khẩu thành công các mặt hàng thanh long, xoài, chôm
chôm đi Mỹ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Chi-lê… Bên cạnh đó, qua chương
trình này, nhiều cán bộ KDTV đã được đào tạo, tập huấn. Một số trang thiết
bị để nghiên cứu xử lý ruồi đục quả cũng đã được chương trình chuyển giao
cho Cục.

thành lập Cục. Trong thời gian này, bên cạnh việc tiếp tục tích cực hoạt
động, củng cố vị trí của mình trong các hoạt động HTQT đã tham gia, Việt
Nam còn tham gia nhiều tổ chức quốc tế lớn khác đồng thời ký kết nhiều
Hiệp định cũng như bản ghi nhớ song phương với các nước.
2005 - trở thành thành viên của Công ước quốc tế về Bảo vệ thực
vật—IPPC:
IPPC có vị trí quan trọng trong thương mại quốc tế nhằm khuyến khích
các nước đảm bảo việc chứng nhận KDTV, ngăn ngừa sự lây lan dịch hại
kiểm dịch thực vật trong quá trình giao lưu, trao đổi hàng hóa nhưng phải
đảm bảo các biện pháp đang áp dụng đều dựa trên các chứng cứ khoa học.
IPPC cũng khuyến nghị không được sử dụng các biện pháp KDTV như những
rào cản thương mại.
Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức này từ năm 2005. Thông qua tổ
chức này các nước thành viên được hỗ trợ về kỹ thuật, đào tạo cán bộ, giải
quyết tranh chấp thương mại và tư vấn xây dựng hệ thống văn bản qui phạm
pháp luật; đồng thời IPPC cũng hỗ trợ các thành viên trong trường hợp khẩn
cấp như bùng phát dịch bệnh thông qua FAO hoặc các tổ chức quốc tế khác.
Ngoài ra IPPC có một ban xây dựng tiêu chuẩn quốc tế, các nước thành viên
có thể sử dụng các tiêu chuẩn này như một bằng chứng khoa học khi có
tranh chấp thương mại hoặc hài hòa chúng, chuyển hóa thành tiêu chuẩn
quốc gia nhằm tiết kiệm thời gian nghiên cứu, nhân lực đồng thời nắm bắt
được những tiến bộ khoa học mới nhất.
Trong thời gian qua IPPC đã hỗ trợ Việt Nam rất nhiều trong việc nâng
cao năng lực kiểm dịch thực vật. Một bộ phần mềm đánh giá năng lực kiểm
dịch thực vật (PCE) cũng đã được IPPC cung cấp để đánh giá năng lực kiểm
dịch thực vật quốc gia, qua đó đã xác định được các mặt mạnh yếu trong
công tác kiểm dịch thực vật để có kế hoạch chủ động tăng cường năng lực
ngành.
Trên cơ sở 31 tiêu chuẩn quốc tế được xây dựng, đã có 12 tiêu chuẩn
được chuyển dịch sang tiêu chuẩn Việt Nam, ngoài ra còn có một số tiêu

Trong thời gian qua Việt Nam đã có nhiều hoạt động để đáp ứng các
nghĩa vụ và nguyên tắc của hiệp định SPS như chuyển dịch các văn bản qui
phạm pháp luật sang tiếng Anh, thiết lập website để trao đổi và minh bạch
hóa thông tin; hài hòa các tiêu chuẩn quốc tế sang tiêu chuẩn Việt Nam;
thiết lập hệ thống phân tích nguy cơ dịch hại bao gồm nguồn nhân lực, cơ sở
pháp lý và nguồn dữ liệu.
Việc thực thi các nghĩa vụ của hiệp định SPS đã mang lại nhiều thuận lợi
cho công tác bảo vệ và kiểm dịch thực vật đồng thời cũng đem đến không ít
thách thức. Yêu cầu về SPS của các nước nhập khẩu rất cao, Việt Nam phải
rất nỗ lực mới có thể đáp ứng được các yêu cầu đó để xuất khẩu hàng nông
sản của mình.
Ký kết Hiệp định, thỏa thuận hợp tác song phương:
Bên cạnh việc tham gia các Hiệp định, tổ chức đa phương; rất nhiều Hiệp
định, thỏa thuận song phương cũng đã được ký kết giữa Việt Nam và các
nước. Tính đến năm 2010, đã có thêm nhiều Hiệp định song phương về bảo
vệ và kiểm dịch thực vật đuợc ký kết giữa Việt nam với Mông Cổ, Trung
Quốc, Rumani, Chilê, Belarus...; 03 thỏa thuận với Lào, Hàn Quốc và Australia; 04 bản ghi nhớ với Lào, Thái Lan và Trung Quốc.
Hiện nay Việt Nam đang hợp tác rất tốt với các nước Mỹ, Hàn Quốc, Nhật

12

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ KIỂM DỊCH THỰC VẬT


Phần I. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về bảo vệ và kiểm dịch thực vật qua các thời kỳ

Bản và Úc.
Xúc tiến thương mại:
Điểm nhấn của hợp tác song phương trong giai đoạn 2001 – 2010 là sự
khởi đầu và phát triển mạnh mẽ của công tác dỡ bỏ hàng rào kỹ thuật KDTV

các nước nhập khẩu như chiếu xạ (theo qui
định nhập khẩu của Mỹ, Chile, EU, Úc, New Zealand…), hơi nước nóng (Nhật,
Hàn Quốc, Úc, Chile…). Tính đến nay đã có 02 cơ sở chiếu xạ và 02 cơ sở xử lý
hơi nước nóng được các nước nhập khẩu chấp thuận. Điều này đã tạo ra lợi

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ KIỂM DỊCH THỰC VẬT

13


Phần I. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về bảo vệ và kiểm dịch thực vật qua các thời kỳ

thế đáng kể cho việc xuất khẩu hàng nông sản đặc biệt là trái cây tươi của
Việt Nam.
Các chương trình, dự án hợp tác:
Ở giai đoạn 2001-2010, Việt Nam đã nhận được rất nhiều hỗ trợ từ các
nước phát triển trên thế giới. Nhiều chương trình, dự án với nguồn vốn hỗ trợ
từ nước ngoài đã được triển khai ở Việt Nam:
- Dự án nghiên cứu xử lý ruồi đục quả bằng hơi nước nóng do cơ quan hợp
tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ;
- Chương trình đào tạo cho nước thứ 3 (Lào, Campuchia, Myanmar) do JICA
tài trợ;
- Chương trình chứng nhận khử trùng bằng Methyl Bromide theo tiêu chuẩn
của Úc. Chương trình này trong khuôn khổ thỏa thuận song phương với phía
Úc;
- Dự án “Tăng cường năng lực KDTV” do chính phủ New Zealand tài trợ;
- Dự án “Kế hoạch loại trừ Methyl Bromide” do Ngân hàng thế giới kết hợp
với Văn phòng Ozone Việt Nam tài trợ;
- Chương trình “Giám sát ruồi đục quả khu vực biên giới Việt Trung”, hợp
tác với Trung Quốc;

cách hiệu quả;
- Mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước khác cũng như với các tổ chức
quốc tế đã và đang được
mở rộng theo hướng tích
cực, đáp ứng kịp thời cho
tiến trình hội nhập của
chúng ta hiện nay;
- Việc dỡ bỏ rào cản kỹ
thuật nhằm hỗ trợ xúc
tiến mở cửa thị trường
xuất khẩu đối với hàng
nông sản đặc biệt là các
mặt hàng trái cây, rau quả
tươi được đẩy mạnh. Một
Dỡ bỏ rào cản kỹ thuật hỗ trợ hiệu quả cho thị
trường xuất khẩu nông sản - Ảnh minh họa
số mặt hàng có nguồn
cung lớn, giá trị thương
mại cao như thanh long, chôm chôm, xoài của Việt Nam vượt qua hàng rào
kỹ thuật, xuất khẩu thành công sang các thị trường tiềm năng như Mỹ,
Nhật, Hàn Quốc, Chile… Điều này đã góp phần tăng thu nhập cho người
nông dân, cho các tổ chức, cá nhân tham gia xuất khẩu các mặt hàng này
đồng thời tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Không những
thế, uy tín của hàng nông sản đặc biệt là trái cây của Việt Nam cũng được
củng cố và tăng cường đáng kế.
5. Định hướng hoạt động hợp tác quốc tế trong thời gian tới
- Tiếp tục tích cực tham gia các hoạt động do các tổ chức quốc tế như
IPPC, APEC, ASEAN hay Ủy ban SPS đề xuất. Chủ động nâng cao trình độ
của cán bộ cũng như năng lực hoạt động để xác định vị trí rõ ràng trong các
hoạt động quốc tế;


Phần II. Quản lý việc sử dung thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau quả tươi

Phần II:
QUẢN LÝ VIỆC SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ
THỰC VẬT TRONG SẢN XUẤT RAU QUẢ
TƯƠI
Mục đích:
Phần hai cung cấp cho đại biểu những đánh giá chung về công tác sản
xuất rau, quả và quản lý an toàn thực phẩm hiện nay, kết quả kiểm tra,
giám sát an toàn thực phẩm đối với rau, quả, và những tồn tại - nguyên
nhân của những tồn tại trong công tác quản lý, kinh doanh và sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trên rau, quả tươi. Cuối cùng, đề xuất,
kiến nghị những giải pháp trong quản lý, kinh doanh và sử dụng thuốc
BVTV bền vững, an toàn và hiệu quả.

Nội dung chính phần này:
1. Đánh giá chung về sản xuất rau, quả và
công tác quản lý an toàn thực phẩm hiện nay
2. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến
tồn dư thuốc BVTV trên rau
3. Kết quả kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm
đối với rau, quả
4. Những tồn tại chủ yếu và nguyên nhân của những tồn tại trong công
tác quản lý, kinh doanh và sử dụng thuốc BVTV
trên rau quả tươi hiện nay
5. Đề xuất, kiến nghị những giải pháp trong quản lý, kinh doanh và sử
dụng thuốc BVTV bền vững, an toàn và hiệu quả

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ KIỂM DỊCH THỰC VẬT

khó khăn và thách thức: công tác quy hoạch chưa được quan tâm đúng mức;
việc áp dụng các biệp pháp kỹ thuật tiên tiến, hiện đại trong sản xuất chưa
được hỗ trợ giải quyết thỏa đáng; thị trường, xúc tiến thương mại, khuyến
khích hỗ trợ hoạt động xuất khẩu chưa được quan tâm đúng mức. Trong quá
trình sản xuất rau, quả trên đồng ruộng, sự xuất hiện và gây hại của các loài
sâu, bệnh đã ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất, chất lượng rau. Tình hình sử

18

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ KIỂM DỊCH THỰC VẬT


Phần II. Quản lý việc sử dung thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau quả tươi

dụng thuốc BVTV để phòng trừ dịch hại bảo vệ cây trồng của nông dân còn
nhiều tồn tại, bất cập, việc lạm dụng thuốc BVTV và không tuân thủ các quy
định hiện hành gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho con người trong quá
trình sản xuất, không an toàn đối với sức khỏe người tiêu dùng và môi
trường. Bên cạnh đó, sự hiểu biết của người dân về các loại thuốc BVTV còn
hạn chế như: sử dụng thuốc không đúng kỹ thuật, không đúng chủng loại,
không đảm bảo thời gian cách ly, liều lượng sử dụng vượt quá mức cho phép
vẫn xảy ra đặc biệt ở những vùng sản xuất rau, quả là những nguyên nhân để
lại ô nhiễm về hoá chất BVTV đối với rau, quả tươi ngày càng phức tạp. Do
vậy, các sản phẩm rau, quả tươi thuộc nhóm thực phẩm có mối nguy cao về
an toàn thực phẩm (ATTP) đối với sức khỏe của con người.
Hiện nay, trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, an toàn
thực phẩm đang thực sự một thách thức quan trọng đối với nhiều quốc gia và
toàn cầu. Đối với các nước phát triển, vệ sinh an toàn thực phẩm đã trở thành
một tiêu chuẩn chất lượng hàng đầu đối với lương thực thực phẩm, một rào
cản kỹ thuật ngặt nghèo trong xuất nhập khẩu. Những mâu thuẫn giữa phát

Để nâng cao hiệu quả, hoàn tốt các nhiệm vụ được giao Cục Bảo vệ thực
vật luôn chủ động triển khai các biện pháp thu thập thông tin, xây dựng cơ sở
dữ liệu để tiến hành đánh giá, phân loại rau, quả có nguy cơ về an toàn thực
phẩm theo nguy cơ về tồn dư hóa chất Bảo vệ thực vật trong rau, quả. Nhằm
mục đích định hướng các giải pháp quản lý phù hợp, tăng cường hiệu quả
trong công tác quản lý an toàn thực phẩm đối với chuỗi thực phẩm có nguồn
gốc thực vật trong giai đoạn sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu.
2. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tồn dư thuốc BVTV trên rau

2.1. Thực trạng sử dụng chủng loại thuốc Bảo vệ thực vật trong
quá trình sản xuất rau, quả
Trong sản xuất rau, quả khó khăn lớn nhất để tăng năng suất và chất lượng
sản phẩm thì yếu tố ảnh hưởng quan trọng và lớn nhất là tác hại của sâu
bệnh. Kết quả điều tra thành phần sâu, bệnh hại trên rau, quả trong quá trình
sản xuất trong những năm vừa qua của Cục BVTV cho thấy đối tượng sâu,
bệnh hại chính trên rau, quả gồm có:
Bảng 1. Phân loại những loại sâu, bệnh trên rau quả

Một số loài sâu hại chính trên rau

Một số loài bệnh hại chính
trên rau

1. Sâu xanh

1. Bệnh sưng rễ rau cải

2. Sâu tơ

2. Đốm lá


10. Thối nhũn

11. Bọ nhảy

11. Bướu rễ
12. Thối thân

20

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ KIỂM DỊCH THỰC VẬT


Phần II. Quản lý việc sử dung thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau quả tươi

Kết quả “Điều tra thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở trong sản
xuất rau, quả, chè” của Cục BVTV năm 2012, cho thấy nông dân trong quá
trình sản xuất rau đã sử dụng 48 loại thuốc trừ sâu, bệnh để phòng trừ dịch
hại. Nông dân vùng truyền thống có sử dụng 9 hoạt chất không nằm trong
danh mục thuốc được phép sử dụng trên rau là Nereistoxin, Imidacloprid,
Fenobucarb, Carbosulfan, Cartap, Profenofos, Acetamiprid, Propiconazole,
Isoprothiolane. Nông dân sản xuất theo hướng an toàn có sử dụng 3 hoạt
chất không nằm trong danh mục thuốc được phép sử dụng trên rau là
Cartap, Acetamiprid, Nytenpyram.
Trên cây ăn quả, nông dân sử dụng 58 loại thuốc trừ sâu bệnh, trong đó
có 17 hoạt chất không nằm trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng
trên cây ăn quả.
Như vậy, việc sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ sâu bệnh trên, rau, quả
còn nhiều bất cập, nhất là việc sử dụng thuốc không nằm trong danh mục
thuốc được phép sử dụng vẫn còn xảy ra nhiều kể cả những vùng sản xuất

TB

41.8

37.50

39.65

0.0

1.04

0.52

58.1

57.81

57.96

Bảng 2. Tỷ lệ nông dân sử dụng nồng độ thuốc BVTV (%)

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ KIỂM DỊCH THỰC VẬT

21


Phần II. Quản lý việc sử dung thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau quả tươi

Biểu đồ 1. Tình hình sử dụng thuốc BVTV theo nồng độ


Có quan tâm tới thời gian cách ly

71.6

80.1

98.6

90.6

85.225

2

Không quan tâm tới thời gian
cách ly

28.4

19.9

1.4

9.4

14.775

3



20.3

0

0.0

0

5.075

15.2

14.2

8.8

4.6

10.7

28.7

17.1

36.3

47.8

32.475

9

Ý kiến khác:

6
7

truyền thống
Rau
Quả

hướng an toàn
Rau
Quả

TB

Biểu đồ 2. Tình hình thực hiện thời gian cách ly

Kết quả điều tra cho thấy đa số nông dân sản xuất theo truyền thống khi
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có quan tâm tới thời gian cách ly, tỷ lệ nông
dân có quan tâm đến thời gian cách ly của thuốc trung bình là 85,225%, tỷ
lệ này cao nhất đối với nông dân sản xuất rau an toàn chiếm (98,6 %) và
thấp nhất là nông dân sản xuất rau theo truyền thống (71,6%). Kết quả
điều tra việc thực hiện sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng thời gian cách ly
cho thấy tỷ lệ nông dân sản xuất rau theo hướng an toàn có thực hiện thời

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ KIỂM DỊCH THỰC VẬT

23

Quả

Rau

Quả

TB

1

Dưới 3 lần

31.3

3.9

37.2

2.8

18.8

2

Từ 3 đến 4 lần

31.3

19.8


31.3

26.98

Biểu đồ 3. Kết quả điều tra số lân phun thuốc trong một vụ sản xuất
(Đơn vị tính: Tỷ lệ % nông dân điều tra)

Kết quả điều tra cho thấy trong một vụ sản xuất nông dân sản xuất quả
có số lần phun thuốc nhiều hơn so với nông dân sản xuất rau, tỷ lệ nông dân
sản xuất theo truyền thống sử dụng trên 7 lần thuốc BVTV trong 1 vụ quả là
46%; và trong 1 vụ rau 17%. Như vậy để phòng trừ sâu bệnh hại trên rau,

24

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ VÀ KIỂM DỊCH THỰC VẬT


Phần II. Quản lý việc sử dung thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau quả tươi

ở lứa sau hoặc vụ sau và để lại tồn dư hóa chất BVTV nhiều loại khác nhau
đối với những cây trồng vụ sau. Đây chính là nhược điểm trong sử dụng
thuốc BVTV của nông dân và cũng có thể là nguyên nhân dẫn tới hiện tượng
sử dụng thuốc ngoài danh mục được phép sử dụng với rau, quả.
Nhận xét chung:
Như vậy, việc sử dụng thuốc BVTV trong quá trình sản xuất rau, quả hiện
nay còn nhiều bất cập, chưa tuân thủ đúng các qui định, sử dụng thuốc
không đúng kỹ thuật, không đúng chủng loại, không đảm bảo thời gian cách
ly, liều lượng sử dụng vượt quá mức cho phép vẫn xảy ra đặc biệt ở những
vùng sản xuất rau, quả là những nguyên nhân để lại ô nhiễm về hoá chất
BVTV đối với rau, quả.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status