MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỂ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ THỰC VẬT - Pdf 26

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỂ CHẾ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ THỰC VẬT
ThS. TRẦN THỊ THU HƯƠNG
rong sản xuất nông nghiệp, ngành
bảo vệ thực vật (BVTV) đóng vai
trò rất quan trọng trong phòng, chống
côn trùng, sâu bọ, vi sinh vật và cỏ dại
gây hại tài nguyên thực vật nhằm phát
triển nền nông nghiệp bền vững, giữ
vững an ninh lương thực và nâng cao
kim ngạch xuất khẩu lương thực, hàng
hóa nông sản.
T
Hiện nay việc người nông dân quá
lạm dụng thuốc BVTV, phân hóa học
trong chăm sóc các loại cây ăn trái, ăn lá,
không chờ thuốc có thời gian cách ly
phân hủy đã thu hoạch, nên xảy ra nhiều
vụ ngộ độc thực phẩm. Một nguyên nhân
quan trọng gây mất an toàn vệ sinh thực
phẩm (ATVSTP) là người nuôi trồng, chế
biến sử dụng thuốc BVTV cấm, thuốc
giả, thuốc ngoài danh mục, hay không rõ
nguồn gốc bón cho cây, sử dụng trong
bảo quản để thực phẩm được tươi lâu.
Bên cạnh đó, việc sử dụng quá
mức nhiều loại hóa chất độc hại vào các
hoạt động sản xuất nông nghiệp hiện là
nguyên nhân chính làm môi trường nông
thôn bị ô nhiễm nghiêm trọng. Mặt
khác, sự kém hiểu biết và chạy theo lợi

chức hành chính nhà nước thực hiện
hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ
và kiểm dịch thực vật (KDTV);
+ Khách thể quản lý gồm người
trồng trọt, các tổ chức cung ứng dịch vụ
công, kinh doanh trong lĩnh vực bảo vệ
và kiểm dịch thực vật; cộng tác viên.
- Thứ hai, cơ chế vận hành của
hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVTV:
hệ thống pháp luật về bảo vệ và KDTV.
- Thứ ba, điều kiện vật chất để
thực hiện hoạt động bảo vệ và KDTV.
Nội dung QLNN trong lĩnh vực
BVTV gồm 3 nội dung sau: bảo vệ thực
vật, kiểm dịch thực vật và quản lý thuốc
bảo vệ thực vật.
Thể chế quản lý nhà nước trong
lĩnh vực BVTV đã đạt được những kết
quả tích cực nhất định. Cụ thể là:
(i) Về cấu trúc tổ chức
- Hệ thống các cơ quan QLNN về
BVTV ở địa phương được tổ chức trên
63 tỉnh thành của cả nước. Các Chi cục
BVTV thực hiện chức năng QLNN và
thanh tra chuyên ngành về bảo vệ thực
vật, kiểm dịch thực vật và thuốc bảo vệ
thực vật.
- Cơ cấu tổ chức của ngành
BVTV từ Trung ương đến địa phương
đang từng bước được hoàn thiện, đóng

hệ sinh thái, Pháp lệnh bảo vệ và KDTV
được ban hành và có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2002, trong
đó tại điều 36, Chương V: QLNN về
bảo vệ và KDTV quy định chi tiết các
nội dung QLNN về bảo vệ và KDTV.
BVTV.
- Nghị định số 26/2003/NĐ-CP
ngày 19/3/2003 của Chính phủ quy định
các chế tài xử phạt vi phạm trong lĩnh
17
vực bảo vệ và KDTV đủ mạnh để xử lý
các vi phạm trong việc chấp hành điều
lệ quản lý thuốc BVTV.
- Liên bộ Bộ Nông nghiệp và
PTNT và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của cơ quan chuyên môn thuộc
UBND cấp tỉnh, cấp huyện và nhiệm vụ
quản lý nhà nước của UBND cấp xã về
nông nghiệp và PTNT trong Thông tư
liên tịch số 61/2008/TTLT-BNN-BNV,
ngày 15/5/2008, trong đó có hệ thống cơ
quan quản lý nhà nước về BVTV.
- Tùy theo tính chất, đặc thù của
các Chi cục ở từng địa phương mà các
trạm KDTV có thêm một số nhiệm vụ cụ
thể khác. Các tỉnh giáp biên giới như An
Giang, Tây Ninh thực hiện công tác
KDTV đối ngoại tại các cửa khẩu với

quy mô nhỏ trên toàn quốc.
- Thực hiện Điều lệ BVTV, từ
năm 2002 đến nay, các địa phương dưới
sự chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Nông
nghiệp và PTNT đã thực hiện các biện
pháp phòng, trừ sinh vật gây hại tài
nguyên thực vật, phổ biến, tuyên truyền
sâu rộng trong nhân dân.
- Thực hiện Điều lệ KDTV, từ khi
có Pháp lệnh bảo vệ và KDTV năm
2002 đến nay, công tác KDTV nội địa
đã thực hiện các nhiệm vụ theo quy định
trong Điều lệ. Kết quả hàng hóa nông
lâm sản nhập khẩu vào Việt Nam qua
các cửa khẩu đều được KDTV và được
cấp giấy chứng nhận.
- Thực hiện Điều lệ quản lý thuốc
BVTV, bộ phận thanh tra chuyên ngành
thường xuyên tổ chức các đợt thanh,
kiểm tra phát hiện, xử lý kịp thời các vi
phạm. Hệ thống các đại lý, cửa hàng
18
kinh doanh thuốc BVTV dần đi vào nề
nếp. Ở An Giang, Tây Ninh 100% các
cửa hàng đủ điều kiện và được cấp
chứng chỉ hành nghề, trong quá trình
buôn bán số vụ vi phạm pháp luật giảm
đáng kể.
- Công tác phổ biến, hướng dẫn
các văn bản mới được về BVTV cho các

khẩu và sử dụng thuốc BVTV cũng như
việc thực hiện tốt các quy định của Pháp
lệnh Bảo vệ và KDTV đã có những
đóng góp phần nhất định trong việc xây
dựng một nền nông nghiệp sạch và bền
vững, hạn chế đến mức thấp nhất ảnh
hưởng xấu của thuốc BVTV đến sức
khỏe cộng đồng và môi trường.
(iii) Về điều kiện vật chất để
thực hiện hoạt động bảo vệ và KDTV
- Việc đầu tư cơ sở vật chất, máy
móc thiết bị phục vụ cho công tác của
các Chi cục BVTV ngày càng được
quan tâm để giúp các chi cục BVTV có
điều kiện thực hiện tốt nhiệm vụ của
mình.
- Các thiết bị kiểm tra nhanh trên
cây trồng, hệ thống tổ chức kiểm
nghiệm, trang thiết bị kiểm nghiệm
trong công tác bảo vệ và KDTV được
đầu tư khá đầy đủ tại các Chi cục.
Tuy đã đạt được những kết quả
tích cực, nhưng thể chế quản lý nhà
nước trong lĩnh vực bảo vệ thực vật
cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế. Cụ thể:
(i) Về cấu trúc tổ chức
- Đánh giá chung về cơ cấu tổ
chức của ngành BVTV ở địa phương là
tổ chức bộ máy của các Chi cục không
giống nhau, cụ thể:

Chi cục BVTV. Riêng cơ cấu tổ chức
Chi cục BVTV Cần Thơ khác với phần
lớn các Chi cục khác là có Phòng Điều
tra dự báo phòng chống dịch hại cây
trồng và Phòng Quản lý trồng trọt.
+ Về bộ phận thanh tra chuyên
ngành của các Chi cục, có một số chi
cục lại thành lập Phòng Thanh Tra, có
chi cục là phòng Thanh tra – Pháp chế,
nhưng có chi cục lại chỉ có Thanh tra
Chi cục chứ không thành lập phòng.
- Ngoài ra, trong cấu trúc tổ chức
của ngành BVTV cho thấy những bất
hợp lí như sau:
+ Chưa phân biệt được các cơ
quan QLNN với đơn vị dịch vụ công.
Về tính chất của các tổ chức thuộc Cục
BVTV cho thấy:
* Cơ quan QLNN gồm: Phòng
KDTV, Phòng BVTV, Phòng
thuốc BVTV;
* Các đơn vị thực hiện dịch vụ
công gồm các trung tâm: kiểm
định và khảo nghiệm thuốc,
KDTV vùng, KDTV sau nhập
khẩu, Kiểm định thuốc BVTV.
Như vậy theo quy định của pháp
luật, về cấu trúc tổ chức có vấn đề cần
lưu ý: các cơ quan nhà nước lại tổ
chức các đơn vị thực hiện hoạt động

nay, diện tích sản xuất nông nghiệp bình
quân là 5–7 công/hộ gia đình. Với quy
mô nhỏ như vậy thì không thể thực hiện
sản xuất theo tiêu chuẩn Global GAP
được. Ngoài ra, với diện tích sản xuất
nhỏ như vậy thì không thể dùng luật để
chế tài, nên phải thực hiện công tác
khuyến nông về BVTV, trong khi công
tác khuyến nông đáng lẽ phải do Trung
tâm khuyến nông Quốc gia thống nhất
quản lý và tổ chức thực hiện.
(ii) Về cơ chế vận hành và quá
trình thực thi các văn bản về BVTV
- Công tác phối hợp của các cơ
quan có thẩm quyền như: cảnh sát kinh
tế, an ninh kinh tế, quản lý thị trường
trong việc ngăn chặn, kiểm tra, giám sát
chất lượng thuốc và nguyên liệu thuốc
BVTV và xử lý các loại thuốc BVTV
cấm, thuốc ngoài danh mục, thuốc giả
nhập lậu qua biên giới. Việc kiểm soát
thuốc nhập lậu qua biên giới không thể
thực hiện được vì không đủ lực lượng
và còn một nguyên nhân khác làm cho
đối tượng thuốc này vẫn có chỗ đứng
trên thị trường là do người nông dân còn
tìm mua các loại thuốc này. Trước đây,
nhiều ngành chức năng tích cực phối
hợp với ngành BVTV bắt giữ thuốc
BVTV nhập lậu, nhưng bắt giữ rồi

sở kiểm
tra
Số cơ
sở vi
phạm
Tỷ lệ
(%)
Số cơ sở
kiểm tra
Số cơ
sở vi
phạm
Tỷ lệ
(%)
Số cơ sở
kiểm tra
Số cơ sở
vi phạm
Tỷ lệ
(%)
375 12 3,2 90 0 0 391 18 4,6
Nguồn: điều tra, tổng hợp
- Ngoài ra, thực tế hiện nay, việc
cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh
doanh cho các cơ sở kinh doanh thuốc
BVTV là do các Chi cục BVTV tổ chức
tập huấn và cấp Giấy chứng nhận. Như
vậy, dẫn đến tình trạng “vừa đá bóng,
vừa thổi còi”.
- Việc kiểm tra các hộ nông dân

với người sử dụng thuốc BVTV gặp rất
nhiều khó khăn. Khi phát hiện các lỗi vi
phạm, đoàn thanh tra chỉ dừng lại ở hình
thức nhắc nhở. Hơn nữa, Thanh tra Chi
cục BVTV lại không có quyền khám
kho của các cửa hàng, doanh nghiệp
kinh doanh thuốc BVTV nên rất khó
phát hiện các trường hợp giấu giếm, tẩu
tán thuốc. Một thực tế là việc buôn bán
thuốc BVTV nhập lậu phổ biến ở từng
thôn, từng xã. Nếu không có lực lượng
thanh tra BVTV chuyên ngành thì rất
khó kiểm soát. Nhưng có một nghịch lý
là ở rất nhiều địa phương chỉ công nhận
22
thanh tra Sở Nông nghiệp và PTNT chứ
không công nhận thanh tra BVTV.
(iii) Về điều kiện vật chất để
thực hiện hoạt động bảo vệ và KDTV
- Trang thiết bị để cán bộ kỹ thuật
nâng cao nghiệp vụ chưa đủ, không có
dụng cụ hỗ trợ cho các buổi tập huấn,
chuyển giao kỹ thuật như: máy chiếu,
máy vi tính xách tay. Ngoài ra, trang
thiết bị để cán bộ kỹ thuật kiểm tra,
quản lý ATTP từ các trang trại chưa
được quan tâm đầu tư.
- Việc thực hiện KDTV không
hiệu quả do việc lấy mẫu và gửi giám
định các đối tượng KDTV mất nhiều

http://www.thanhnien.com.vn ( 02/06/2009)]
- Hiện nay, ở mỗi địa phương, các
Chi cục BVTV đều có 01 phòng thí
nghiệm trực thuộc, điều này dẫn đến
tình trạng trùng lắp gây lãng phí, khó
đầu tư lớn.
- Phần lớn các chi cục không có
kho chứa chuyên trách để cất giữ các
loại thuốc BVTV bị tịch thu do vi phạm
hành chính.
Từ thực trạng trên, chúng tôi xin
đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thể
chế quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo
vệ thực vật như sau:
(i) Giải pháp về cấu trúc tổ
chức
- Về bộ máy tổ chức của ngành
BVTV: để hoạt động QLNN trong lĩnh
vực BVTV đạt hiệu quả, thì cấu trúc tổ
chức của ngành BVTV cần được tổ
chức thành một hệ thống quản lý thông
suốt theo chiều dọc từ Trung ương đến
cơ sở, chỉ phân định theo vùng sinh thái
23
để quản lý và không bị ảnh hưởng bởi
địa giới hành chính.
- Về biên chế của ngành BVTV:
đội ngũ cán bộ ngành BVTV cần được
tăng cường đào tạo trong và ngoài nước
để nâng cao trình độ; Tăng biên chế cán

và áp dụng được các kế hoạch sản xuất
nhất quán.
- Cần đẩy mạnh các biện pháp
tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao
năng lực quản lý môi trường, nâng cao
nhận thức về trách nhiệm và nghĩa vụ
của những người sản xuất, kinh doanh
và sử dụng thuốc BVTV trong việc bảo
vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường,
đặc biệt cần đẩy mạnh việc tuyên
truyền, giáo dục người sản xuất sử dụng
thuốc BVTV an toàn và hiệu quả theo
hướng dẫn của Cục BVTV.
(iii) Về điều kiện vật chất để
thực hiện hoạt động bảo vệ và KDTV
- Tăng cường đầu tư trang thiết
bị, phòng thí nghiệp đủ năng lực thực
hiện công tác giám định và kiểm tra dư
lượng thuốc BVTV.
- Nhà nước đầu tư thành lập các
phòng thí nghiệm độc lập, các phòng thí
nghiệm được trang bị đầy đủ các trang
thiết bị đủ điều kiện để kiểm tra, đủ
năng lực thực hiện công tác giám định
một cách hiệu quả. Điều này, sẽ làm
giảm kinh phí đầu tư phòng thí nghiệm
ở các chi cục BVTV. Các phòng thí
nghiệm được thành lập là những đơn vị
làm dịch vụ công cần được thành lập và
hoạt động một cách độc lập để đảm bảo

- Nhà nước đảm bảo kinh phí
khuyến nông để tổ chức các cuộc tập
huấn chuyển giao kỹ thuật theo yêu cầu
thực tế, cũng như kinh phí tổ chức kiểm
tra định kì để phát hiện thuốc kém chất
lượng, kinh phí đầu tư cho nghiên cứu
khoa học tại các cơ quan QLNN về
BVTV để nâng cao trình độ cho cán bộ
BVTV phù hợp với việc quản lý và sự
vận động phát triển không ngừng của
sản xuất nông nghiệp.
- Tổ chức tập huấn, bổ sung kiến
thức chuyên môn, nâng cao nghiệp vụ,
cập nhật kiến thức mới cho cán bộ kỹ
thuật ở các trạm BVTV.
- Nhà nước đầu tư xây dựng hệ
thống kho chứa chuyên trách, các kho
này cũng là những đơn vị làm dịch vụ
công cần được thành lập và hoạt động
độc lập hoặc cho các đơn vị có nhu cầu
thuê. Đồng thời, đầu tư công nghệ tiêu
hủy thuốc ở các địa phương đảm bảo
chất lượng, hiệu quả và bảo vệ môi
trường.
Tóm lại, trong bối cảnh hội nhập
kinh tế thế giới, vấn đề chất lượng
VSATTP là một đòi hỏi bức bách để sản
phẩm nông nghiệp của Việt Nam có thể
đứng vững trên thị trường và bảo đảm
an toàn cho người tiêu dùng. Mặt khác,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status