Sáng kiến kinh nghiệm để việc dạy và học môn lịch sử đạt kết quả hơn - Pdf 35

SỞ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Trƣờng THPT Tôn Đức Thắng
Mã số: ………………..

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM


ĐỂ VIỆC DẠY VÀ HỌC
MÔN LỊCH SỬ ĐẠT KẾT QUẢ HƠN

Ngƣời thực hiện : Lê Thị Ngọc Lũy
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục
Phương pháp dạy học bộ môn:
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác:

Có đính kèm:
 Mô hình

 Phần mềm

 Phim ảnh

-Naê
1m
- hoïc: 2011- 2012






I.Lí do chọn đề tài

03

II.Những khó khăn

04

III.Những giải pháp

06

IV.Kết luận

13

-3-


I.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đất nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hoá, với mục tiêu đến năm
2020 trở thành nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Trong bối cảnh đó, đặt ra
những yêu cầu mới đối với phẩm chất và năng lực của người lao động, đào tạo con người Việt
Nam phát triển toàn diện. Để đáp ứng được yêu cầu này, cần phải nâng cao chất lượng giáo
dục, tăng cường bồi dưỡng cho thế hệ trẻ lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu quê hương
gia đình, lòng biết ơn, lòng nhân ái, tinh thần hiếu học, biết kế thừa, phát huy những giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở Trường THPT nhằm góp phần vào việc đào tạo con
người Việt Nam phát triển toàn diện. Trong quá trình hội nhập, môn Lịch sử, đặc biệt là lịch

số liệu (SGK lớp 10-Nâng cao trang 204, ghi Hoàng Việt luật lệ - Luật Gia Long có 398 điều
trong khi SGK lớp 10-Chuẩn trang 127, ghi Hoàng triều luật lệ -Luật Gia Long có 400
điều,…), về thời gian (thời gian Nguyễn Ái Quốc trở về nước sau 30 năm tìm đường cứu nước
chưa thống nhất, SGK lớp 10-Nâng cao trang 215, ghi: thời đại phong kiến độc lập, kéo dài
đến giữa thế kỉ XIX, là đúng hay sai?... ).
Thứ hai: số tiết học của môn Lịch sử trong tuần là quá ít, nếu nói là ít hơn so với các môn
học khác như môn Thể dục, Địa lí, Giáo dục công dân, Giáo dục ngoài giờ lên lớp cũng đúng,
còn để so sánh với môn Toán, Lí, Hoá, Sinh, Ngoại ngữ thì hoàn toàn không dám nghĩ đến.
Điển hình:
* Khối 10: Ban KHTN, KHCB và Ban KHXH-NV số tiết học môn Lịch sử 1,5 tiết/tuần.
Như vậy, Ban KHXH-NV nâng cao môn Lịch sử ở “chỗ” nào? Trong khi cũng đồng thời là
môn học nâng cao của Ban KHXH-NV, thì môn Văn là 4 tiết/tuần, Địa lí là 2 tiết/tuần, Ngoại
ngữ là 4 tiết/tuần; Còn môn Toán là 3 tiết/tuần (Toán không phải là môn nâng cao của Ban
KHXH-NV).
*Khối 11:
+Ban KHXH-NV số tiết môn Lịch sử là 2 tiết/tuần. Trong khi cũng đồng thời là môn
học nâng cao của Ban KHXH-NV, thì môn Văn là 4 tiết/tuần, Địa lí là 1,5 tiết/tuần, Ngoại ngữ
là 4 tiết/tuần; Còn môn Toán là 3,5 tiết/tuần (Toán không phải là môn nâng cao của Ban
KHXH-NV).
+Ban KHTN và Ban KHCB số tiết môn Lịch sử là 1 tiết/tuần (bằng số tiết khi chưa cải
cách SGK), môn GDCD cũng 1 tiết/tuần. Trong khi môn Văn 3,5 tiết/tuần, môn Ngoại ngữ là
3 tiết/tuần, cũng xin nêu rõ: môn Văn, Ngoại ngữ không phải là môn học nâng cao của Ban
KHTN và KHCB. Như vậy, môn Lịch sử và môn GDCD ở vị trí nào?

-5-


*Khối 12:
+Ban KHXH-NV số tiết môn Lịch sử là 2 tiết/tuần, còn môn Văn và Ngoại ngữ là 4
tiết/tuần, môn Toán là 3,5 tiết/tuần (Toán không phải là môn nâng cao của Ban KHXH-NV).

-6-


Để góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn Lịch sử trong nhà trường phổ
thông, tôi xin nêu một vài giải pháp để khắc phục những khó khăn chủ quan về phía người
thầy:
1. Để phần nào khắc phục nội dung “quá dài” trong sách giáo khoa:
a.Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc sách giáo khoa ở nhà:
Muốn hiểu được nội dung của bài, học sinh phải hiểu được các thuật ngữ, một số từ hay
một vài cụm từ quan trọng trong mỗi bài, phải có cách lập luận khoa học, phân tích vấn đề,
vận dụng kiến thức đã học ở từng bài để tổng hợp một giai đoạn hay một khoá trình lịch sử,…
đây là một trong những phương pháp lấy học sinh làm trung tâm. Để đáp ứng yêu cầu này,
đòi hỏi mỗi học sinh phải đọc sách giáo khoa ở nhà trước khi học bài mới. Nhưng trong thực
tế, học sinh chưa quen với việc đọc một tài liệu khoa học, các em có tâm lí chờ đợi, ít chịu
động não, mau nản chí trước những vấn đề khó. Học sinh chỉ đọc sách giáo khoa qua loa nên
không nắm được nội dung chính của bài, không dừng trước những từ, cụm từ “lạ” để suy nghĩ,
thậm chí có nhiều em không đọc bài trước, không biết bài mình sắp học có tựa là gì? gồm mấy
phần?...phần nào đó do người thầy không có đủ thời gian kiểm soát xem các em có đọc sách
trước hay không, từ đó các em ỷ lại, chủ quan và theo thời gian đã hình thành trong đa số học
sinh thói quen không đọc bài mới trước ở nhà.
Vì thế, sự hướng dẫn của người thầy là rất quan trọng, để học sinh làm quen với cách đặt
vấn đề, phân tích vấn đề, giải thích vấn đề, tổng hợp vấn đề và đánh giá vấn đề, giáo viên có
thể hướng dẫn học sinh làm việc với sách giáo khoa theo các bước sau:
-Đọc lần 1: đọc tựa chương, tựa bài, đọc lướt nhanh nội dung của mỗi mục, sau đó viết
nhanh ra giấy những nội dung cần lưu ý nhưng không cần thiết phải viết đầy đủ nội dung của
cả câu, cả đoạn mà chỉ cần thay thế nội dung đó bằng một từ hoặc một cụm từ để diễn tả.
+Ví dụ 1: Chương I, Bài13: Việt Nam thời nguyên thuỷ (SGK lớp 10-Cơ bản). Sau khi
đọc lướt, học sinh có thể tóm tắt theo cách sau:
Người tối cổ  Người tinh khôn  Công xã thị tộc (Cách mạng đá mới): văn hóa Hòa
Bình, văn hóa Bắc Sơn

nguyên thuỷ xã hội Việt Nam trải qua mấy giai đoạn? Đó là những giai đoạn nào? Cuộc sống
lúc bấy giờ ra sao?
+Trở lại ví dụ 2: sau khi đọc ba lần nội dung của bài, học sinh sẽ biết nguyên nhân nào
dẫn đến cách mạng? Nhiệm vụ của cách mạng? Kết quả của cách mạng? Bài học kinh nghiệm
cho những nước khác?
b.Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc sách giáo khoa trên lớp:
Khi học sinh đã quen dần với phương pháp đọc sách giáo khoa ở nhà, giáo viên có thể
rèn luyện cho học sinh cách đọc sách giáo khoa tại lớp. Hình thức này yêu cầu các hoạt động
của học sinh cao hơn, nhạy bén hơn và người thầy cũng phải kiên trì hơn, vì không phải một
sớm, một chiều mà học sinh làm tốt được. Nhưng khi học sinh đã có thói quen này thì sẽ khắc
phục phần nào tình trạng nội dung bài học quá dài.
Cụ thể: Khi dạy bài 17: Quá trình hình thành và phát triển của nhà nước phong kiến từ
X-XV(SGK lớp 10-Cơ bản), giáo viên yêu cầu HS đọc mục II phần 1 SGK trang 88và gọi lên
bảng vẽ sơ đồ tổ chức Bộ máy nhà nước ở trung ương.
Hoặc khi dạy Bài20: Xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc trong các thế kỷ X-XV
(Lớp 10-Cơ bản), giáo viên yêu cầu HS đọc mục I, SGK trang 101 và cho biết tình hình Phật
giáo trong giai đoạn này ra sao? HS nói những hiểu biết của mình về tôn giáo này?
Với phương pháp đọc sách giáo viên sẽ rèn luyện cho học sinh thói quen làm việc
với tài liệu khoa học, giáo viên tiết kiệm được thời gian trên lớp và giành thời gian mở rộng
kiến thức như kể những câu chuyện có liên quan hoặc nêu nhận định hoặc đặt câu hỏi mang
tính giáo dục học sinh, đặt học sinh vào tình huống có vấn đề,…Điều đó cũng đồng nghĩa với
việc giải quyết nội dung bài học quá dài, còn học sinh sẽ hứng thú hơn trong việc đọc sách
giáo khoa vì tự mình khai thác nội dung bài học dưới sự hướng dẫn của người thầy.
Để vận dụng phương pháp đọc sách giáo khoa có hiệu quả, giáo viên phải thường xuyên
đôn đốc, nhắc nhỡ, kiểm tra việc đọc sách giáo khoa của học sinh bằng cách kiểm tra sách
giáo khoa xem học sinh có gạch chân những từ hoặc cụm từ nào hay không? Hoặc hỏi các em
có biết bài học hôm nay có mấy phần, nội dung chính là gì?...Cũng sẽ có trường hợp khi nghe
thầy nói kiểm tra thì học sinh mới mở sách giáo khoa và gạch chân một vài từ cho có hoặc chỉ
trả lời một cách đối phó. Khi đó, giáo viên cũng cố gắng tìm ý đúng mà khen và “Nếu lần sau
-8-

-Giáo viên chuẩn sẵn một lọ nước, một miếng tả lót Baby, một bông mướp, một cái ly.
-Giáo viên tiến hành thí nghiệm: đổ nước vào ly rồi cho bông mướp vào. Học sinh quan
sát sẽ thấy bông mướp hút hết phần nước có trong ly, rồi giáo viên vắt bông mướp thì nước
trong bông mướp sẽ chảy ra. Sau đó, giáo viên thao tác các bước tương tự như vậy, nhưng
thay bông mướp bằng tả Baby.
-Sau khi học sinh quan sát thí nghiệm giáo viên đặt câu hỏi: vì sao tả Baby thấm nước
nhưng nước không chảy ngược trở ra? Sau khi học sinh trả lời, tuỳ theo câu trả lời của học
sinh mà giáo viên dẫn dắt vào bài mới: Trong tả Baby có thành phần Polime, Polime là một
trong rất nhiều thành tựu do CMKHKT mang lại nhằm phục vụ con người, hôm nay các em sẽ
được tìm hiểu về cuộc cách mạng này.
Hoặc khi dạy Bài 7: Những thành tựu văn hóa thời cận đại (SGK lớp 11-Chuẩn), giáo
viên phải biết kết hợp các môn học có liên quan, như văn học, nghệ thuật, tư tưởng, âm nhạc,
hội họa,… ở thời cận đại và những ảnh hưởng, tác động của nó đối với xã hội. Giáo viên có
thể kể một vài mẫu chuyện về danh họa nổi tiếng Pi-cát-xo (mẫu đàn ông trong mắt của nhiều
-9-


phụ nữ đương thời vì tài vẽ tranh của ông), hay những bản giao hưởng của thiên tài âm nhạc
Mô-da, kể về tác phẩm văn học AQ chính truyện,…hay giáo viên yêu cầu học sinh nói lên
những gì mình biết về hai nhà triết học: Hê-ghen, Phơi-ơ-bách (học ở môn GDCD),…
Hoặc khi dạy Bài 28: Xây dựng và phát triển nhà nước độc lập thống nhất từ thế kỉ X
đến thế kỉ XV (SGK lớp 10), giáo viên có thể kể chuyện về nguyên phi Ỷ Lan, bà được tôn là
cô Tấm sống, là Quan nữ âm, không lấy việc trau chuốt nhan sắc để được sự sủng ái của vua
Lý Thánh Tông mà chỉ chuyên vào việc nghiên cứu sách vỡ cùng vua lo cho dân cho
nước,…hay những câu chuyện về Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải,…
Hoặc dạy Bài 30: Kháng chiến chống ngoại xâm từ thế kỉ X đến thế kỉ XV (SGK lớp
10), giáo viên hỏi học sinh biết gì về hội nghị Bình Than (Trần Quốc Toản bóp nát quả
cam…) và Diên Hồng (các bô lão đều đồng thanh trả lời: “đánh”, tinh thần “sát Thát”,…)?
Hoặc khi dạy Bài 2: Phong trào cách mạng Việt Nam trong những năm (1919-1925)
(SGK lớp 12), để giảng về hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc giáo viên có


+Bước 4:GV nhận xét, bổ sung HS trả lời, hoàn thiện nội dung khai thác tranh ảnh cung cấp
cho HS.
Cụ thể: Trước khi chuyển vào phần ba: Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918 (SGK lớp 11Chuẩn), giáo viên yêu cầu học sinh quan sát ba hình trang 105 và cho biết ba hình đó nói lên
nội dung gì?

- 11 -


Học sinh quan sát hình và ít, nhiều sẽ nói lên được nội dung của những hình trên, sau đó
giáo viên dẫn dắt vào nội dung của phần học mới, điều này tạo cho các em có tính tò mò về
môn học và khi học sẽ thích thú hơn.
Hoặc khi dạy về sự xuất hiện loài người và bầy người nguyên thuỷ (SGK lớp 10), giáo
viên yêu cầu học sinh quan sát hình và miêu tả về sự tiến triển của loài người (có thể gợi ý cho
các em miêu tả về dóc dáng, gương mặt, sự thay đổi từ vị trí số 1 đến số 7,…):

Hoặc khi dạy về
tình hình nước ta
sau Cách mạng
tháng Tám năm
1945 (SGK 12)
giáo viên yêu cầu
học sinh quan sát
hình và miêu tả
về lớp Bình dân
- 12 -


học vụ: điều kiện lớp học, thành phần lớp học, thái độ học tập của học viên,…sau đó liên hệ
với lớp học mà bản thân các em đang ngồi.

thù của từng địa phương, có thể thông qua việc tổ chức cho học sinh tham quan học tập ở bảo
tàng, các di tích lịch sử phù hợp với chương trình, các trò chơi, đố vui, hoạt động nhóm hay
kiểm tra bài tập, sách giáo khoa, cho các em sưu tầm tranh, ảnh, tài liệu,… kèm theo đó là
những lời dặn dò, nhắc nhỡ, động viên, khích lệ,… bởi thông qua việc dạy chữ còn dạy người,
giúp các em hình thành nhân cách, tác phong làm việc, không “ngồi chờ”, không còn nhút
nhát mỗi khi muốn phát biểu hay hỏi về một nội dung nào, phải tạo một môi trường mà tất cả
mọi người đều phải có sự đóng góp, nếu học sinh chỉ nghe một chiều thì sẽ nhanh chóng quên
đi những gì mình đã nghe, còn khi tự các em làm thì các em sẽ nhớ và hiểu sâu sắc hơn về vấn
đề đó. Đây là một lợi thế rất lớn đối với các em khi bước vào đời, một môi trường mới lạ, các
em phải tự đi trên đôi chân của mình, không có cha, mẹ hay thầy, cô bên cạnh để dìu dắt.
Trên đây là một số giải pháp về nguyên nhân từ phía người thầy, còn những yếu tố khách
quan tôi hy vọng và tin tưởng trong một thời gian ngắn, môn Lịch sử sẽ trở về đúng vị trí của
nó.

VI.KẾT LUẬN:
- 14 -


Như vậy, để chuẩn bị cho một tiết dạy thật không đơn giản chút nào! Người thầy phải có
sự linh hoạt trong tổ chức thảo luận, tranh luận trên lớp học để vừa đảm bảo thời gian tiết học
vừa có thể phát huy tối đa tính tích cực, sự sáng tạo của học sinh. Yêu cầu học sinh làm việc
cũng có nghĩa là tạo cho các em tác phong làm việc trong thời đại của nền kinh tế tri thức,
kinh tế hội nhập, để các em sẵn sàng hoà nhập khi bước vào đời.
Con đường phía trước còn rất nhiều khó khăn, thử thách, nhưng tôi tin rằng với sự tận tuỵ,
lòng yêu nghề, mến trẻ, người thầy sẽ luôn tìm tòi những điều lý thú để đưa thế hệ trẻ trở về
quá khứ một cách sống động và hướng đến tương lai là những con người toàn diện.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành đề tài, nhưng chắc hẳn vẫn còn không ít thiếu
sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc, để chúng ta cùng nâng cao chất
lượng của môn học Lịch sử.
Người viết

- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai tại đơn vị có hiệu
quả 
3. Khả năng áp dụng
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách :
Tốt 
Khá 
Đạt 
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ đi
vào cuộc sống: Tốt 
Khá 
Đạt 
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong
phạm vi rộng: Tốt 
Khá 
Đạt 
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN

(Kí và ghi rõ họ tên)

THỦ TRƢỞNG ĐƠN VỊ

(Kí tên, ghi rõ họ tên và đóng dấu)

- 16 -




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status