TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
------***------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
SO SÁNH PHÁP LUẬT HẢI QUAN VIỆT NAM VÀ QUY
ĐỊNH CỦA HIỆP ĐỊNH THUẬN LỢI HÓA THƯƠNG MẠI
CỦA WTO
Họ và tên sinh viên
Mã sinh viên
Lớp
Khóa
Người hướng dẫn khoa
học
: Hoàng Thị Thúy Hường
: 1111110541
: Anh 6 – Khối 2 – KT
: 50
: TS. Phan Thị Thu Hiền
MỤC LỤC
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ Giao thông Vận tải
Bộ Khoa học công nghệ và môi
trường
Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn
Bộ Tài chính
CP
Chính phủ
DNƯT
Doanh nghiệp ưu tiên
Hiệp định chung về Thương
mại và Thuế quan
Hiệp hội Vận tải Hàng không
Quốc tế
Tổ chức Hàng không Dân dụng
Quốc tế
BKHCNMT
BNNPTNT
MFN
General Agreement on Tariffs
and Trade
International Air Transport
OECD
Phòng Thương mại Quốc tế
Tổ chức Hàng hải Quốc tế
Chế độ tối huệ quốc
Chữ viết tắt
Tên tiếng Anh
Tên Tiếng Việt
Small and medium – sized
enterprises
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trade Facilitation Agreement
TTCP
Tổng cục Hải quan
Hiệp định Thuận lợi hóa
Thương mại
Thanh tra Chính phủ
TTg
Thủ tướng Chính phủ
Ủy ban Kinh tế Xã hội khu vực
châu Á – Thái Bình Dương của
Liên Hiệp quốc
Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa
Kỳ
Văn bản quy phạm pháp luật
WB
World Bank
Ngân hàng Thế giới
WCO
World Customs Organization
Tổ chức Hải quan Thế giới
WTO
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Quốc tế
SMEs
TCHQ
TFA
góp phần vào công cuộc tạo thuận lợi hóa thương mại.
Là một quốc gia đang phát triển tham gia tích cực vào tiến trình hội
nhập sâu rộng với thế giới, Việt Nam cần phải chuẩn bị các điều kiện cần và đủ
8
nhằm đáp ứng các quy định về minh bạch hóa, các điều khoản về phí, thủ tục,
quá cảnh và hợp tác hải quan theo tiêu chuẩn WTO. Vì vậy, rà soát và đối chiếu
các văn bản pháp luật Hải quan Việt Nam hiện hành với nội dung của Hiệp
định Thuận lợi hóa Thương mại mới được thông qua của WTO là việc làm vô
cùng quan trọng và cấp thiết. Do đó, người viết quyết định lựa chọn đề tài “So
sánh pháp luật hải quan Việt Nam và quy định của Hiệp định Thuận lợi hóa
Thương mại của WTO” để nghiên cứu trong thời gian thực hiện bài khóa luận
tốt nghiệp.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Bài khóa luận được tiến hành với mục tiêu đề xuất một số giải pháp
nhằm thực thi đồng bộ Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại của WTO đối với
pháp luật Hải quan Việt Nam trong thời gian tới. Để đạt được mục tiêu này,
người viết đã triển khai và thực hiện bốn nhiệm vụ chính:
Một là, nghiên cứu Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại của WTO.
Hai là, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật chính trong hệ thống
pháp luật Hải quan của Việt Nam.
Ba là, so sánh các cam kết trong Hiệp định Thuận lợi hóa thương mại và
các văn bản pháp luật Hải quan Việt Nam tương ứng.
Bốn là, đề xuất giải pháp cho pháp luật Hải quan Việt Nam nhằm thực
hiện Hiệp định Thuận lợi hóa thương mại.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Bài khóa luận tập trung vào hai đối tượng nghiên cứu:
-
và TFA của WTO.
Chương 3: Đề xuất đối với pháp luật Hải quan Việt Nam nhằm thực thi đồng
bộ Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại.
Tuy đã nỗ lực hết sức để hoàn thiện đề tài nghiên cứu, nhưng người viết
chắc chắn không tránh khỏi một số thiếu sót trong nội dung bài khóa luận, do
hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm và tài liệu. Người viết rất hi vọng quý thầy
cô và các độc giả lượng thứ, đóng góp ý kiến để bài nghiên cứu được hoàn
thiện hơn.
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, người viết đã nhận được sự động
viên, chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của Cô giáo, TS. Phan Thị Thu Hiền, giảng
viên khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế. Người viết xin được gửi đến Cô lời
cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất. Ngoài ra, người viết cũng xin bày tỏ lòng
biết ơn tới các Thầy Cô giáo trường Đại học Ngoại Thương đã truyền đạt
những kiến thức quý báu suốt bốn năm học để người viết có thể hoàn thành bài
khóa luận này.
10
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ HIỆP ĐỊNH THUẬN LỢI HÓA
THƯƠNG MẠI CỦA WTO
I.1. Những vấn đề cơ bản về thuận lợi hóa thương mại
Cho đến thời điểm hiện nay, thế giới vẫn chưa có một khái niệm thống nhất
về thuận lợi hóa thương mại. Trong một tài liệu đăng trên website chính thức của
WTO, thuận lợi hóa thương mại (trade facilitation) được hiểu là “việc đơn giản hóa,
hài hòa hóa các thủ tục thương mại quốc tế”. Trong đó, thủ tục thương mại quốc tế
bao gồm những hoạt động, thông lệ và các thủ tục liên quan đến việc thu thập, lưu
chuyển và xử lý số liệu cũng như các thông tin khác liên quan đến việc lưu chuyển
hàng hóa trong thương mại quốc tế (Grainger, 2008).
mức độ đối thoại và hợp tác cần thiết.
Công bố các luật lệ, thủ tục, quy trình liên quan đến xuất/nhập khẩu theo
-
cách dễ tiếp cận trong khoảng thời gian hợp lý.
Giảm thiểu, đơn giản hóa và tiêu chuẩn hóa dữ liệu, chứng từ do Hải quan
-
và các cơ quan khác yêu cầu.
Hài hòa hóa luật lệ của các cơ quan quản lý biên giới.
Cho phép doanh nghiệp được quyền khiếu kiện khi không đồng ý với
quyết định của cơ quan quản lý biên giới. Thời hạn khiếu kiện phải quy
-
định hợp lý.
Thiết lập các “điểm giải đáp thương mại”, tích hợp mọi thông tin liên
-
quan đến thương mại.
Điều chỉnh giờ hoạt động của các cửa khẩu dựa theo nhu cầu thương mại,
-
linh hoạt trong làm việc ngoài giờ.
Tăng cường phối hợp giữa Hải quan và các cơ quan quản lý khác, nhằm
Chỉ số
Nội dung
Cho phép xác định phân loại, xuất xứ, phương
pháp định giá... đối với một số hàng hóa trước
khi hàng đến; các quy định và thủ tục áp dụng
cho xác định trước.
Khả năng khiếu nại, phương thức khiếu nại
quyết định hành chính của cơ quan biên giới.
Hợp tác với các nước láng giềng và nước thứ
ba.
Hợp tác giữa các cơ quan biên giới của một
nước; phân chia quyền kiểm soát giữa các đơn
vị hải quan.
Quy định liên quan đến phí và lệ phí áp dụng
đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Trao đổi thông tin dưới dạng điện tử; thủ tục
hải quan điện tử; sử dụng hệ thống quản lý rủi
ro.
Đơn giản hóa chứng từ thương mại; hài hòa
hóa theo các tiêu chuẩn quốc tế; chấp nhận
bản sao.
Tổ chức hợp lý bộ máy quản lý biên giới; thiết
lập điểm tập trung các chứng từ cần thiết (cơ
chế một cửa); kiểm tra sau thông quan;
DNƯT.
Cấu trúc và chức năng của Hải quan; trách
nhiệm giải trình; chính sách đạo đức.
Công bố thông tin thương mại trên mạng
8
Thủ tục – Quy trình
9
Quản lý và Công bằng
10
Tính sẵn có của thông tin
11
Sự tham gia của cộng đồng
Tham vấn với doanh nghiệp.
doanh nghiệp
Nguồn: Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD), 2014
I.2. Nguyên tắc và ý nghĩa của thuận lợi hóa thương mại
I.1.1. Nguyên tắc của thuận lợi hóa thương mại
Ngay từ năm 1974, UN/CEFACT đã đưa ra tuyên bố về bốn nguyên tắc của
việc thuận lợi hóa thương mại trong Khuyến nghị số 4. Theo đó, các chương trình
thuận lợi hóa thương mại nên hướng tới sự đơn giản hóa, hài hòa hóa, tiêu chuẩn
hóa và minh bạch hóa các thủ tục thương mại, để quá trình giao dịch trở nên dễ
dàng hơn, nhanh chóng và kinh tế hơn so với trước đó (Grainger, 2008).
Đơn giản hóa được hiểu là quá trình loại bỏ tất cả các yếu tố không cần thiết
và trùng lặp trong các quy trình, thủ tục quản lý. Mục đích của việc đơn giản hóa
phí chuẩn bị giấy tờ thông quan, chi phí vận chuyển hàng hóa, chi phí tài chính...
được gọi là chi phí trực tiếp, trong khi chi phí gián tiếp bao gồm các chi phí cơ hội
14
của khoảng thời gian vận chuyển hàng hóa từ người bán đến người mua, có tính đến
các trở ngại có thể phát sinh trong toàn bộ chu trình.
Tiến hành thuận lợi hóa thương mại không những làm giảm chi phí giao dịch
thương mại, mà còn có tác dụng giảm bớt rủi ro tiềm ẩn trong các giao dịch quốc tế.
Theo Ủy ban Kinh tế châu Âu (ECE), khi tham gia vào tiến trình thuận lợi hóa
thương mại, chính phủ và doanh nghiệp đều được hưởng lợi, như được liệt kê tại
Bảng 1.2 dưới đây.
Bảng 1.2: Lợi ích của thuận lợi hóa thương mại
Lợi ích của Chính phủ
Lợi ích của doanh nghiệp
- Tăng hiệu quả kiểm soát
- Tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực và
khai thác tài nguyên
- Tăng lợi nhuận
- Cải thiện quan hệ mua bán
- Tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế
- Thu hút đầu tư nước ngoài
- Giảm chi phí, tiết kiệm thời gian
- Hàng hóa thông quan nhanh hơn do
có sự thống nhất về chính sách
- Đơn giản hóa quá trình trao đổi
chấp thương mại phát sinh giữa các thành viên WTO trong quá trình hoạt động
thương mại, kinh doanh quốc tế. Thứ tư, rà soát định kỳ nội dung các chính sách
thương mại của các quốc gia thành viên.
Một nội dung nữa cần chú ý khi nghiên cứu về WTO là năm nguyên tắc hoạt
động cơ bản của tổ chức này. Theo đó, các chính sách, hiệp định đều phải tuân thủ
đúng các điều sau: Một là, hoạt động thương mại phải được tiến hành một cách
công bằng, không phân biệt đối xử thông qua chế độ tối huệ quốc (MFN) và chế độ
đãi ngộ quốc gia (NT). Tuy nhiên, WTO cho phép một số trường hợp ngoại lệ được
miễn trừ áp dụng quy định về MFN, điển hình là các hiệp định thương mại tự do
trong khối. Hai là, phát triển theo hướng tự do hơn cho thương mại, kinh doanh
quốc tế theo hướng giảm thiểu và từng bước loại bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế
quan. Các nước thành viên vẫn được áp dụng hạn ngạch nhập khẩu khi gặp khó
khăn về cán cân thanh toán, trình độ phát triển kinh tế thấp hoặc lý do đặc biệt về
môi trường, an ninh quốc gia… Ba là, tiến hành thương mại quốc tế trên cơ sở ổn
định, minh bạch, công khai nhờ yêu cầu các cam kết quốc tế phải có tính ràng buộc,
chính sách và pháp luật quốc gia phải được công bố rộng rãi trên phạm vi toàn quốc
hoặc thông báo cho WTO. Bốn là, chủ trương tăng cường cạnh tranh lành mạnh,
công bằng, đưa giá cả và chất lượng trở thành hai yếu tố chính quyết định việc mua
bán hàng hóa, hạn chế các biện pháp bảo hộ thương mại. Năm là, giành sự ưu đãi
đặc biệt cho các quốc gia đang và kém phát triển, khuyến khích các nước này phát
triển và cải cách nền kinh tế.
Có thể nói, chương trình thuận lợi hóa thương mại đáp ứng một trong các
nhiệm vụ cơ bản của WTO, phù hợp với các nguyên tắc làm việc của tổ chức này đã
được đề ra trước đó.
16
I.3.2. Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại của WTO
I.3.2.1. Quá trình đàm phán
Ý tưởng về thuận lợi hóa thương mại đã được các thành viên WTO bắt đầu
17
gửi các văn bản đề nghị, nhằm làm rõ và phát triển Điều V (Tự do quá cảnh), Điều
VIII (Phí và các thủ tục xuất nhập khẩu) và Điều X (Công bố và minh bạch hóa
thông tin) của GATT.
Tại hội nghị Bộ trưởng lần thứ 9 diễn ra tại Bali, Indonesia, sơ thảo hiệp định
đã đạt được sự đồng thuận của các bên tham gia đàm phán. Trong đó, Nghị định thư
về thực thi TFA sẽ được thông qua không muộn hơn ngày 31/7/2014, và hạn chót để
thực hiện TFA đầy đủ là ngày 31/7/2015.
Tuy nhiên, tại phiên họp Đại Hội đồng WTO tháng 7/2014, TFA không thể
được thông qua do vấp phải sự phản đối của Ấn Độ. Nguyên nhân xuất phát từ một
điều khoản trong Gói thỏa thuận Bali về nông nghiệp được thông qua cùng lúc với
TFA có thể ảnh hưởng đến việc trợ cấp nông nghiệp của chính phủ Ấn Độ. Bên
cạnh đó, việc chấp thuận Hiệp định sẽ khiến Ấn Độ phải chấp nhận sự giám sát
quốc tế đối với các sản phẩm thuộc diện dự trữ lương thực quốc gia, gây khó khăn
khi nước này muốn bổ sung các loại hạt khác vào danh mục này (Thái Sơn 2014).
Quan điểm của Ấn Độ vấp phải sự phản đối công khai của hầu hết thành viên WTO,
trong đó có Mĩ và Nhật Bản.
Trước nguy cơ đình trệ Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại sau hơn mười
năm đàm phán, Mĩ và Ấn Độ đã có cuộc thảo luận để phá vỡ thế bế tắc. Trong tuyên
bố ngày 13/11/2014, Mĩ xác nhận hai bên đã đi đến thỏa thuận, theo đó các chương
trình an ninh lương thực của Ấn Độ sẽ không bị phạt theo những quy định của
WTO “cho đến khi một giải pháp lâu dài về vấn đề này được nhất trí và thông qua”
(Thông tấn xã Việt Nam, 2014). Quyết định này đã được Đại Hội đồng WTO thông
qua trong cuộc họp ngày 25/11/2014, cùng với toàn bộ gói Bali, bao gồm Hiệp định
Thuận lợi hóa Thương mại khi tất cả các thành viên bỏ phiếu thuận.
Ngày 27/11/2014, WTO thông qua Nghị định thư sửa đổi Hiệp định Thành
lập WTO. Nhờ vậy, TFA trở thành hiệp định chính thức thuộc Phụ lục 1A GATT
1994, trong Hệ thống các Hiệp định bắt buộc của WTO. Ngay sau đó, Hong Kong
trở thành quốc gia đầu tiên trong số 160 thành viên WTO phê chuẩn Nghị định thư.
Ba thành viên tiếp theo chính thức phê chuẩn là Singapore (8/1/2015), Hoa Kỳ
định nghĩa là các quy định mà thành viên đang phát triển phải thực hiện ngay khi
Hiệp định có hiệu lực. Các quốc gia kém phát triển được quyền thực hiện trong
vòng một năm sau khi Hiệp định có hiệu lực. Nhóm B dành cho các nước đang hoặc
kém phát triển, gồm các những điều khoản phải thi hành sau thời hạn quá độ sau khi
Hiệp định có hiệu lực. Nhóm C chứa các điều khoản mà thành viên đang hoặc kém
phát triển phải thực hiện sau một khoảng thời gian quá độ sau khi Hiệp định có hiệu
lực, đi kèm yêu cầu được hỗ trợ về xây dựng năng lực.
19
Phần ba của Hiệp định gồm điều khoản liên quan đến thỏa thuận thể chế và
điều khoản cuối cùng, như thiết lập Ủy ban tạo thuận lợi thương mại tại WTO, yêu
cầu các thành viên duy trì một ủy ban quốc gia hoặc chỉ định cơ chế hiện có để tạo
thuận lợi cho hợp tác nội địa và thực hiện Hiệp định.
Có thể nói, nội dung chủ yếu của TFA bao gồm các quy định có tính thực tế
cao, liên quan đến việc cải thiện hiệu quả công tác hải quan và tuân thủ pháp luật
hải quan thông qua các biện pháp hỗ trợ kỹ thuật và các sáng kiến nâng cao năng
lực hải quan, chủ yếu hướng tới đối tượng là các quốc gia đang và kém phát triển.
Cấu trúc của Hiệp định được chia thành ba phần rất rõ ràng, hợp lý, thuận tiện cho
việc tra cứu và sử dụng.
I.3.2.3. Lộ trình thực hiện TFA
Theo Quyết định Bộ trưởng Bali (WTO, 2013), lộ trình được vạch sẵn cho
TFA bao gồm các giai đoạn: (i) Đồng thuận về lời văn của TFA, (ii) Thành lập Ủy
ban lâm thời nhằm rà soát pháp lý TFA, áp dụng Nghị định thư sửa đổi, mở Nghị
định thư để được chấp nhận, (iii) Các nước đang phát triển nộp các biện pháp Nhóm
A, (iv) Tổ chức thực hiện.
Đến thời điểm này, WTO đã hoàn tất việc đưa TFA thành một phần của Phụ
lục A1 (Các Hiệp định thương mại đa phương về hàng hóa) thuộc Hiệp định WTO.
Sau khi xây dựng nội dung Hiệp định và nhận được sự đồng thuận của các thành
viên, Hiệp định mới phải được đưa vào Hiệp định WTO thông qua việc: (1) sửa đổi
gian bắt buộc để thực hiện các cam kết Nhóm C và cung cấp các thông tin cần thiết
cho Ủy ban về tiến trình cung cấp hỗ trợ.
Đối với các nước kém phát triển, quá trình thực hiện Hiệp định Thuận lợi hóa
Thương mại gần như kéo dài gấp đôi so với thời gian cần thiết cho các quốc gia
đang phát triển. Trước khi thông qua Nghị định Thư, các nước kém phát triển phải
cam kết sẽ tham gia TFA với WTO. Trong vòng một năm kể từ khi TFA có hiệu lực,
phải thông báo cam kết Nhóm A, B và C cho WTO, trong đó có thể chỉ rõ thời gian
sẽ thực hiện các biện pháp Nhóm B. Trong vòng một năm kể từ khi có TFA có hiệu
lực, phải thông báo xác nhận lại các cam kết thuộc Nhóm B và thời gian xác định
thực hiện, cùng với đó là việc thông báo về các cam kết Nhóm C. Trong vòng bốn
năm rưỡi kể từ thời gian chính thức có hiệu lực của TFA, phải thông báo các thỏa
thuận nhận hỗ trợ kỹ thuật và thời hạn xác định nhận được các hỗ trợ đó. Trong
vòng năm năm rưỡi kể từ khi TFA có hiệu lực, phải thông báo tiến trình nhận hỗ trợ
và công bố thời gian bắt buộc phải thực hiện các cam kết Nhóm C.
21
I.1.1.1. Ý nghĩa của TFA
I.1.1.1.1. Đối với Tổ chức Thương mại Thế giới WTO
Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại ra đời là sự kiện có ý nghĩa lớn đối với
WTO. Việc TFA được thông qua đã khẳng định vị thế quan trọng của WTO trong
quá trình kết nối các nền kinh tế trên thế giới. Có thể nói, với số thành viên đông
đảo (160/196 quốc gia trên thế giới), WTO chịu trách nhiệm điều chỉnh thương mại
toàn cầu, đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy sự phát triển của thương mại
quốc tế. Cùng với sự chính thức hóa TFA, WTO đã nâng cao uy tín, duy trì niềm tin
đối với các thành viên vào vai trò của mình, đặc biệt là sau nhiều năm trì trệ, bế tắc
của Vòng Doha. TFA chính là bằng chứng của WTO về khả năng thực hiện hệ
thống thương mại đa phương toàn cầu, trong bối cảnh các thỏa thuận mậu dịch tự
do song phương và đa phương gia tăng mạnh mẽ.
Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại được ký kết đánh dấu kết quả, sự nỗ
quốc (UNECE), Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO)… Bên cạnh đó, các thành viên
đang và kém phát triển còn được cung cấp hỗ trợ từ nhiều quốc gia đóng vai trò tài
trợ, như Mĩ, Australia, Canada, Nhật Bản và các thành viên Liên minh Châu Âu…
Đối với những nước đang và kém phát triển, TFA còn tạo ra cơ hội thâm
nhập và phát triển thương mại với các nền kinh tế phát triển. Tại các nước quốc gia
này, phần lớn các thủ tục, quy trình thương mại đều rất phức tạp, tiêu tốn nhiều thời
gian, tiền bạc của các thành phần kinh tế. Do đó, quá trình hiện đại hóa các thủ tục
hải quan tại biên giới và cải thiện hạ tầng kỹ thuật sẽ làm tăng kim ngạch xuất khẩu
của các nước đang và kém phát triển ra nước ngoài, góp phần tăng độ mở của nền
kinh tế (OECD, 2005).
Thông qua TFA, môi trường kinh doanh trong nước được cải thiện, đẩy
mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư nước ngoài thường tìm kiếm
những quốc gia có thủ tục hải quan nhanh chóng, minh bạch, ổn định và mức phí, lệ
phí rẻ. Theo Hội nghị Bàn tròn Châu Âu của các nhà công nghiệp (OECD, 2005),
hơn một phần năm số doanh nghiệp được khảo sát không đầu tư vào các nước đang
phát triển có cơ chế hải quan kém thuận lợi. Bốn phần năm trong số này sẵn sàng
đầu tư mới hoặc gia tăng số vốn cho những quốc gia thực hiện các biện pháp tạo
thuận lợi hóa thương mại. Có thể nói, việc giảm thiểu thời gian thông quan hàng
hóa, cắt giảm chi phí làm thủ tục hải quan và hoàn thiện hệ thống vận tải chính là
nhân tố tăng mức độ hấp dẫn của môi trường đầu tư tại các nước đang và kém phát
triển.
Thực hiện các biện pháp tạo thuận lợi hóa thương mại trong TFA có thể nâng
cao vị thế trên trường quốc tế của các nước đang và kém phát triển. Ngoài việc cắt
23
giảm chi phí thương mại, TFA còn giúp tăng hiệu quả giao dịch, tạo ra hơn 1,25
nghìn tỷ USD mỗi năm, đóng góp thêm 18 triệu việc làm ở các nước đang phát triển
(Nguyễn Huế, 2014). Ngoài ra, TFA góp phần gia tăng ngân sách nhà nước thông
qua việc giảm thiểu buôn lậu, tham nhũng trong lĩnh vực hải quan. Nhờ áp dụng
Ngày 27/2/1960, Chính phủ ban hành Điều lệ Hải quan thông qua Nghị định
03/CP do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký. Sự ra đời của Điều lệ Hải quan đánh dấu
một bước phát triển quan trọng đối với Hải quan Việt Nam. Lần đầu tiên, Hải quan
Việt Nam tự xây dựng khuôn khổ pháp lý độc lập, không còn lệ thuộc vào hệ thống
quy định hải quan của chế độ thực dân cũ. Điều lệ Hải quan còn tạo ra chuyển biến
mới, chuyển từ hoạt động phân tán sang hoạt động chính quy, có sự chỉ đạo thống
nhất. Đồng thời, phạm vi nhiệm vụ hải quan được mở rộng, công tác giám sát chống
buôn lậu được đặt lên hàng đầu.
Pháp lệnh Hải quan được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 20/2/1990, có
hiệu lực từ ngày 1/5/1990 cho thấy sự vận động của ngành Hải quan khi đất nước
bước vào thời kỳ hội nhập. Pháp lệnh gồm 51 điều, chia thành 8 chương, thể hiện
quan điểm đổi mới của Đảng, kế thừa kinh nghiệm hoạt động, xây dựng Hải quan
Việt Nam gần nửa thế kỷ trước đó. Pháp lệnh trở thành VBQPPL có giá trị pháp lý
cao nhất trong việc điều chỉnh các hoạt động thuộc lĩnh vực Hải quan từ năm 1990.
25
Nhằm đáp ứng nhu cầu đất nước trong thời kỳ mới, toàn ngành Hải quan tập
trung xây dựng một văn bản luật thống nhất, thay thế cho Pháp lệnh Hải quan đã cũ
và không còn phù hợp. Ngày 29/6/2001, Quốc hội đã ban hành Luật Hải quan. Sự ra
đời của Luật Hải quan đã củng cố cơ cấu tổ chức Hải quan theo hướng tập trung,
thống nhất, hoạt động có thực quyền, phù hợp với bối cảnh mới. Thông qua Luật
Hải quan, nhu cầu minh bạch hóa, công khai hóa các văn bản trong hệ thống pháp
luật hải quan được thỏa mãn, góp phần điều chỉnh mối quan hệ pháp luật ngày càng
phong phú, chuyên sâu trong lĩnh vực Hải quan.
Luật Hải quan đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung để cải thiện tính phù hợp
với từng thời kỳ. Ngày 14/6/2005, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải
quan được ban hành và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2006. Sau 8 năm thực
hiện, mới đây nhất Luật Hải quan đã được Quốc hội thông qua ngày 23/6/ 2014, có
hiệu lực từ ngày 1/1/2015. Hiện nay, Luật Hải quan 2014 được coi là văn bản pháp