TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
---------o0o---------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
KHUNG CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI XANH Ở TRUNG QUỐC VÀ BÀI HỌC
CHO VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên
: Mai Thị Hoàng Giang
Mã sinh viên
: 1111110067
Lớp
: Anh 6 – Khối 2
Khóa
: 50
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thị Ngọc Quyên
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
ii
2.2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến chính sách thu hút FDI xanh ở
Trung Quốc .................................................................................................. 40
2.2.2 Những chính sách chung liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài44
2.2.3 Chính sách liên quan đến môi trường........................................... 47
2.2.4 Đặc điểm của khung chính sách thu hút FDI xanh của Trung Quốc57
2.3 Đánh giá chung về khung chính sách thu hút FDI xanh của Trung
Quốc thời gian qua ..................................................................................... 60
2.3.1 Kết quả đạt được.......................................................................... 60
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân .............................................................. 61
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN CHÍNH SÁCH THU HÚT FDI XANH Ở
VIỆT NAM VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM TỪ KHUNG CHÍNH
SÁCH THU HÚT FDI XANH Ở TRUNG QUỐC.................................... 64
3.1 Tình hình thu hút FDI xanh và chính sách thu hút FDI xanh ở Việt
Nam (2000 – 2014) ...................................................................................... 64
3.1.1 Tình hình thu hút FDI xanh ở Việt Nam ..................................... 64
3.1.2 Chính sách thu hút FDI xanh ở Việt Nam .................................... 72
3.2 Điểm tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc liên
quan đến chính sách thu hút FDI xanh thời gian qua .............................. 78
3.2.1 Những điểm tương đồng .............................................................. 78
3.2.2 Sự khác biệt ................................................................................. 81
3.3 Bài học cho Việt Nam từ khung chính sách FDI xanh của Trung
Quốc thời gian tới ....................................................................................... 84
3.3.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài một
cách đồng bộ, nhất quán và minh bạch ......................................................... 84
3.3.2 Xây dựng các chính sách cụ thể khuyến khích thu hút FDI xanh . 85
3.3.3 Đẩy mạnh hoạt động quản lý dòng vốn FDI và hoạt động hỗ trợ
của nhà nước ................................................................................................ 92
Business as usual
Kinh doanh như bình thường không
có gì thay đổi và ảnh hưởng tới
BOT
Build – Operate – Transfer
Xây dựng – Vận hành – Chuyển
giao
EGS
Environmental
goods
and Sản phầm và dịch vụ về môi trường
services
Eurostat
European Statistics
Cơ quan thống kê Châu Âu
FDI
khí hậu
tonne of oil equivalent
tấn dầu tương đương (năng lượng
nhiệt được tạo thành khi đốt cháy
một tấn dầu)
kWh
Kilowatt hour
Kilo oát giờ
iv
OECD
Organisation
for
Economic Tổ chức hợp tác và phát triển kinh
Co-operation
and tế
Development
United Nations Conference on Diễn đàn Thương mại và Phát triển
Trade and Development
UNFCCC
United Nations
Conventions
Change
on
Liên hợp quốc
Framework Công ước khung của Liên hợp quốc
Climate về biến đổi khí hậu
v
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Quy trình sản xuất xanh giúp giải thải GHG của một chuỗi giá trị tiêu
biểu .............................................................................................................. 14
Hình 2.1 Giá trị vốn FDI vào Trung Quốc (2007 - 2014) ............................... 31
Hình 2.2: Tỷ trọng vốn đầu tư FDI vào Trung Quốc theo nước đầu tư năm
2014 ............................................................................................................. 32
Hình 2.3 Tốc độ tăng của vốn FDI theo vùng ở Trung Quốc (2010-2014)...... 33
Hình 2.4: Vốn FDI đầu tư vào Trung Quốc theo ba ngành cơ bản (2010 – 2014)
..................................................................................................................... 34
Hình 2.5: So sánh tỷ trọng vốn FDI vào Trung Quốc theo ngành năm 2000 và
2013 ............................................................................................................. 35
vii
DANH SÁCH PHỤ LỤC
Phụ lục 1.1: Khung chính sách về FDI hướng tới phát triển bền vững của UNCTAD
năm 2014
Phụ lục 2.1: So sánh tỷ trọng vốn FDI theo vùng và tỉnh thành ở Trung Quốc năm
2000 và 2008
Phụ lục 2.2: Thị phần của nhà sản xuất thiết bị năng lượng gió ở Trung Quốc năm
2008
Phụ lục 2.3: Tổng lượng thải Carbon ở Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc liên
quan đến năng lượng giai đoạn 1970-2010
Phụ lục 2.4: Lượng thải CO2 theo đầu người ở Trung Quốc giai đoạn 1970-2010
Phụ lục 2.5: Mục tiêu xanh của Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 của Trung Quốc (20112015)
Phụ lục 2.6: Một số Luật về môi trường của Trung Quốc từ năm 1979 đến 2014
Phụ lục 3.1: Số chính sách quan trọng và hoạt động hướng tới carbon thấp của một
số nước
Phụ lục 3.2: So sánh việc áp dụng nhiều loại công cụ chính sách liên quan đến môi
trường ở một số nước đang phát triển Châu Á
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo đuổi tăng trưởng kinh tế đã từng là mục tiêu hàng đầu và quan trọng của
nhiều nước trên thế giới, trong đó có những nền kinh tế mới nổi và đang phát triển ở
Châu Á. Sự tăng nhanh chóng của các hoạt động kinh tế theo đuổi mục tiêu tăng
trưởng đã kéo theo việc tiêu thụ lượng lớn nguyên nhiên vật liệu và năng lượng.
Việc đốt than và dầu làm nhiên liệu và các hoạt động sản xuất khác của các doanh
nghiệp, trong đó có các công ty đa quốc gia (TNC), phục vụ cho quá trình công
từ khung chính sách thu hút FDI xanh của Trung Quốc. Bởi vậy, em lựa chọn đề
tài: “Khung chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài xanh ở Trung Quốc
và bài học cho Việt Nam” để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam cũng như trên thế giới đề
cập vấn đề FDI xanh hoặc là FDI carbon thấp:
Lê Minh Tú, báo cáo nghiên cứu “Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài hàm
lượng carbon thấp (Low-carbon FDI) cho phát triển bền vững ở Việt Nam”, Đại học
Kinh tế - ĐHGQHN. Tác giả khái quát lý thuyết về FDI hàm lượng carbon thấp và
phát triển bền vững, đưa ra tiêu chí xác định FDI carbon thấp, dấu hiệu nhận diện và
đưa ra giải pháp thu hút FDI carbon thấp vào Việt Nam.
Nguyễn Thị Nhung Anh và cộng sự, Báo cáo nghiên cứu khoa học sinh viên:
“Thu hút FDI xanh gắn với mục tiêu phát triển bền vững nền kinh tế Việt Nam”, ĐH
Kinh tế, ĐHQG Hà Nội. Tác giả đưa định nghĩa về FDI xanh, phân tích tác động
của FDI xanh tới phát triển bền vững và đưa ra giải pháp thu hút FDI xanh gắn liền
phát triển bền vững ở Việt Nam.
Stephen S. Golub, Céline Kauffmann and Philip Yeres, Defining and
Measuring Green FDI: An exploratory review of existing work and evidence,
OECD, đưa ra định nghĩa FDI xanh và luận giải một số phương pháp đo lường quy
mô dòng vốn này và nhận định một số yếu tố chính sách gây cản trở tiếp nhận
FDI xanh.
United Nations, Promoting low-carbon investment, Investment Advisory
Series, Series A, number 7, đưa ra khái niệm FDI carbon thấp và phân loại và việc
thu hút FDI carbon thấp là xu thế và là yêu cầu cấp thiết đối với các nước đang
hướng tới phát triển bền vững.
3
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu đã có chủ yếu nghiên cứu về FDI
Tổng cục thống kê Việt Nam; Bộ thương mại Trung Quốc; Tổ chức hợp tác và phát
triển kinh tế (OECD) và Diễn đàn thương mại và phát triển Liên hợp quốc
(UNCTAD).
7. Bố cục bài viết: Bài khóa luận có bố cục 3 phần:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
xanh và khung chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xanh
Chương 2: Thực tiễn khung chính sách thu hút FDI xanh ở Trung Quốc
thời gian qua
Chương 3: Tổng quan khung chinh sách thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài xanh ở Việt Nam và bài học cho Việt Nam từ khung chính sách thu hút
FDI xanh của Trung Quốc
5
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI (FDI) XANH VÀ KHUNG CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) XANH
1.1 Một số vấn đề lý luận về FDI
1.1.1 Khái niệm FDI
Định nghĩa về FDI được chấp nhận rộng rãi trên thế giới nhất là định nghĩa
của Quĩ Tiền tệ Thế giới (IMF) và định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Kinh tế (OECD), bởi vì đây là những định nghĩa được đưa ra bởi sự làm việc và
thống nhất chung của hai tổ chức quốc tế với mục đích đưa ra những tiêu chuẩn cho
cục thống kê các quốc gia trong việc đánh thu thập số liệu về FDI.
Theo IMF: FDI nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp
hoạt động trên lãnh thổ một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích
của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.(IMF, 1993)
Theo OECD: FDI là đầu tư xuyên biên giới được thực hiện bởi một chủ thể ở
một nước (gọi là nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài: the direc investor) với mục đích
thiết lập mối quan hệ kinh tế lâu dài với một chủ thể khác (gọi là doanh nghiệp
đầu tư được tiến hành gọi là nước nhận đầu tư hay nước chủ nhà (host country).
1.1.2 Đặc điểm của FDI
FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi
nhuận: theo cách phân loại ĐTNN của nhiều tài liệu và theo quy định của luật pháp
nhiều nước, FDI là đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, luật pháp một số nước (ví dụ như
Việt Nam) quy định trong trường hợp đặc biệt FDI có thể có sự tham gia góp vốn
của Nhà nước. Dù chủ thể là tư nhân hay Nhà nước, cũng cần khẳng định FDI có
mục đích ưu tiên hàng đầu là lợi nhuận. Các nước nhận đầu tư, nhất là các nước
đang phát triển phải đặc biệt lưu ý đến điều này khi thu hút FDI. Các nước tiếp nhận
vốn FDI cần phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính
sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh
tế, xã hội của nước mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm
lợi nhuận của các chủ đầu tư mà dẫn đến gây ra những hậu quả như phá hủy môi
trường…
Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn
pháp định hoặc vốn điều lệ tủy theo quy định của luật pháp từng nước để giành
7
quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soat doanh nghiệp nhận đầu tư. Luật các nước
thường quy định không giống nhau về vấn đề này. Luật Mỹ quy định tỷ lệ này là
10%, Pháp và Anh là 20%, Việt Nam là 30%, và trong những trường hợp đặc biệt
có thểm giảm nhưng không dưới 20%, còn theo quy định của OECD (1996) thì tỷ lệ
này là 10% các cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết của doanh nghiệp- mức
được công nhận cho pháp nhà đầu tư nước ngoài tham gia trực tiếp quản lý.Tỷ lệ
góp vốn của các nhà đầu tư sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời
lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia theo tỷ lệ này.
Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu
trách nhiệm về lỗ, lãi. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao,
không có những ràng buộc về chính trị.Thu nhập của chủ đầu tư phụ thuộc vào kết
FDI theo chiều ngang (horizontal FDI): hoạt động FDI được tiến hành nhằm
sản xuất cùng loại sản phẩm hoặc các sản phẩm tương tự như chủ đầu tư đã sản xuất
ở nước chủ đầu tư.
FDI hỗn hợp (conglomerate FDI): doanh nghiệp chủ đầu tư và doanh nghiệp
tiếp nhận đầu tư hoạt động trong các ngành nghề lĩnh vực khác nhau.
1.1.3.3Theo hình thức pháp lý
Tùy theo quy định của pháp luật nước nhận đầu tư, FDI có thể tiến hành dưới
nhiều hình thức pháp lý khác nhau. Các hình thức pháp lý chủ yếu là:
Hợp đồng hợp tác kinh doanh: văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để
tiến hành đầu tư kinh doanh ở nước nhận đầu tư, trong đó mỗi bên quy định trách
nhiệm chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới.
Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập tại nước nhận đầu
tư trên cơ sở hợp đồng liên doanh được ký kết giữa hai hay nhiều bên, trường hợp
đặc biệt có thể thành lập tren cơ sở hiệp định ký kết giữa Chính phủ nước nhận đầu
tư với Chính phủ nước đầu tư. Khác với hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh
hình thành pháp nhân mới ở nước nhận đầu tư.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: là doanh nghiệp thuộc quyền sở
hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước nhận
9
đầu tư, tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Hình thức này cũng
hình thành pháp nhận ở nước nhận đầu tư.
Bên cạnh đó, còn những cách phân chia theo định hướng của nước nhận đầu tư
(FDI thay thế nhập khẩu và FDI tăng cường xuất khẩu) hay theo định hướng của
chủ đầu tư (FDI phát triển và FDI phòng ngự).
Tại Việt Nam, Luật đầu tư năm 2005, FDI còn được tiến hành bằng ác hình
thức Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (BOT), Xây dựng – Chuyển giao –
Kinh doanh (BTO) và Xây dựng – Chuyển giao (BT). Tuy nhiên, Luật đầu tư năm
2014 (có hiệu lực vào 7/2015) đã bỏ một số hình thức đầu tư như: hợp đồng BOT,
chính thức năm 2011 của OECD – bài nghiên cứu được coi là cơ sở cho những
nghiên cứu về những vấn đề liên quan tới FDI xanh sau đó.
UNCTAD (2008) có đề cập tới FDI xanh là chỉ đến hai loại đầu tư: (i) là đầu
tư trực tiếp nước ngoài tuân theo tiêu chuẩn môi trường quốc gia và (ii) đầu tư vào
việc sản xuất trực tiếp các sản phẩm và dịch vụ môi trường ở nước nhận đầu tư.
Báo cáo đầu tư của UNCTAD năm 2010 tập trung vào FDI carbon thấp – một phần
của FDI xanh và định nghĩa là: đầu tư trực tiếp nước ngoài carbon thấp là việc
chuyển giao công nghệ, thói quen hay sản phẩm của TNC tới nước nhận đầu tư
thông qua đầu tư trực tiếp tài sản và phi tài sản – như thế hoạt động của TNC và
những hoạt động liên quan, cũng như là việc sản phẩm và dịch vụ của họ được sử
dụng sẽ giảm đi đáng kể khí GHG so với viễn cảnh kinh doanh thông thường
(business as usual). Đầu tư nước ngoài carbon thấp gồm thu hút FDI để tiếp cận
công nghệ, quy trình và sản phẩm carbon thấp.” Báo cao này cũng phân biệt 3 khái
niệm “carbon thấp”, “xanh” và “bền vững”. Trong khi “carbon thấp” chỉ đến quy
trình hay sản phẩm mà thải ít khí GHG hơn trong chu kỳ hoạt động của nó so với
những quy trình và sản phẩm truyền thống; khái niệm “xanh” chỉ đến công nghệ
hay hoạt động mà quan tâm đến những vấn đề môi trường rộng hơn, chứ không chỉ
là biến đổi khí hậu; và phát triển bền vững là một khái niệm rộng quan tâm tới sử
dụng tiềm lực tự nhiên với vấn đề kinh tế và xã hội.
OECD (2011) đã có một những nghiên cứu đầu tiên về định nghĩa FDI xanh.
Tập hợp từ những tài liệu trước đó, OECD cho rằng FDI xanh gồm hai phần là (i)
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ môi trường và (ii) đầu
11
tư nước ngoài vào quy trình giảm thiểu phá hoại môi trường như sử dụng công
nghệ sạch hơn hay hiệu quả năng lượng hơn.
Có thể thấy, dù là hướng tập trung vào “xanh” hay “carbon thấp” thì OECD và
UNCTAD đều có điểm giống nhau là việc phân chia FDI theo hai hướng là đầu tư
vào sản phẩm và dịch vụ và đầu tư vào quy trình sản xuất. Định nghĩa của OECD là
về FDI vào EGS. Do đó, OECD đưa ra cách ước lượng FDI không hoàn hảo vào
lĩnh vực này, bằng cách sử dụng dữ liệu của FDI vào lĩnh vực điện, khí gas và nước
(EGW). Vì EGW cũng có thể bao gồm điện được sản xuất năng lượng tái tạo, xử lý
nước thải và các dịch vụ phi cơ sở hạ tầng về môi trường khác và sản xuất sản phẩm
môi trường.
Cũng vì thiếu thông tin chi tiết về đặc tính công nghệ được sử dụng và hệ quả
của đầu tư nước ngoài tới môi trường như cường độ năng lượng, lượng thải carbon,
quản lý nước, ô nhiễm không khí và nước.v.v, khó để có thể ước tính được FDI
trong mảng thứ hai của FDI xanh là FDI vào quy trình công nghệ giảm ảnh hưởng
xấu tới môi trường. OECD đưa ra cách tham khảo việc ước lượng FDI đóng góp
vào sử dụng công nghệ sạch hơn và hiệu quả năng lượng hơn, bằng việc xem xét
FDI vào những ngành liên quan và nhạy cảm với môi trường và có khả năng cắt
giảm thải cao như: sản xuất, khai khoáng, nông nghiệp và lâm nghiệp, xây dựng và
giao thông. OECD cũng đưa ra một vài ví dụ tiêu biểu (casestudy) ở cấp độ quốc
gia và theo lĩnh vực, mà các ví dụ này có khuynh hướng ủng hộ giả thiết rằng: FDI
giúp chuyển giao công nghệ xanh và sạch hơn khi doanh nghiệp nước ngoài của
nước có tiêu chuẩn môi trường cao hơn và hiệu quả năng lượng lớn hơn, đầu tư
sang nước có tiêu chuẩn môi trường và hiệu quả năng lượng thấp hơn. Tuy nhiên,
OECD cũng cho rằng thực tế thì việc lan tỏa công nghệ này còn phụ thuộc lớn vào
chính sách của nước nhận đầu tư.
Tóm lại, vì chưa có cách thức đo lường và đánh giá dòng vốn FDI xanh một
cách cụ thể và chính xác, OECD đề xuất đánh giá FDI vào EGS dựa trên vốn FDI
vào lĩnh vực điện, khí gas và nước và lượng FDI có quy trình giảm thiểu hủy hoại
môi trường dựa trên giới hạn trên của nguồn vốn này, tức bằng đánh giá nguồn FDI
vào các ngành có khả năng tác động nhiều tới môi trường thông qua công nghệ và
quy trình sạch: sản xuất, khai khoáng, nông nghiệp và lâm nghiệp, xây dựng và giao
thông. Mặc dù đây kết quả không phải là hoàn hảo và chính xác.
13
Nghiên cứu về việc sử dụng năng lượng hiệu quả và tái chế năng lượng
Đầu tư vào quy trình sản xuất xanh có thể diễn ra ở tất cả các giai đoạn sản
xuất và phân phối. Hình 1.1 là mô hình tiêu biểu về việc áp dụng quy trình xanh
của TNC trong một chuỗi giá trị trong lĩnh vực sản xuất.
14
Hình 1.1: Quy trình sản xuất xanh giúp giải thải GHG của một chuỗi giá trị
tiêu biểu
Nguồn: UNCTAD, 2010.
1.2.3.2Theo lĩnh vực đầu tư
Theo cách đo lường đề xuất của OECD, FDI xanh tiềm năng ở những ngành
điển hình nhạy cảm với môi trường và có khả năng cắt giảm thải cao. Theo đó, có
thể phân chia FDI xanh vào sáu ngành sau: điện, sản xuất, vận tải, xây dựng, quản
lý chất thải và nông nghiệp. Các ngành này được phân loại theo khía cạnh về môi
trường, chứ không phải theo khía cạnh kinh tế, dựa trên phân loại của IPCC.
Ngành năng điện là giữ vai trò quan trọng trong cắt giảm thải khí GHG. TNC
có thể đóng vai trò quan trọng trong những nỗ lực này, thông qua đầu tư FDI xanh
về sản phẩm/ dịch vụ hay quy trình. Thay bằng sử dụng các nguồn nguyên liệu
truyền thống gây ô nhiễm môi trường, các công ty có thể sản xuất điện từ nguồn
năng lượng tái tạo mà hoàn toàn không thải GHG ra môi trường. TNC có thể đóng
vai trò cung cấp thiết bị năng lượng tái tạo hoặc đầu tư sản xuất. Có rất nhiều cơ hội
cho TNC trong ngành công nghiệp điện khi mà mức độ mở rộng ra nước ngoài của
TNC ngày càng tăng kể từ năm 1990. Nhưng doanh nghiệp tư nhân địa phương và
doanh nghiệp nhà nước vẫn thường là thành phần chính trong ngành công nghiệp
điện ở hầu hết các nước, và vì vậy vẫn còn một nguồn lớn nhu cầu tiềm năng cho
thải GHG. Ví dụ về các sản phẩm và công nghệ như thế bao gồm công nghệ tiết
kiệm năng lượng, ví dụ như hệ thông gió và điều hòa có cơ chế hồi phục nhiệt, công
nghệ ánh sáng LED, công nghệ thu hoạch nước mưa và tái chế các sản phẩm từ chai
nhựa đến giường. Vì vậy, mô hình thay đổi ở một ngành có thể ảnh hưởng đến cầu
ở những ngành khác.
Ngành quản lý chất thảiđược dự đoán là chiếm khá ít lượng GHG được thải
vào năm 2030, và hầu như tất cả đều có thể được cắt giảm với chi phí tương đối
thấp. TNC đầu tư vào ngành này có thể là cung cấp dịch vụ xử lý nước thải và chất
thải.
16
Ngành nông nghiệp và lâm nghiệp: mặc dù có những TNC lớn đầu tư vào
nông nghiệp và lâm nghiệp, TNC thường ít là đối tượng thải GHG của ngành này.
Tuy nhiên, với hệ thống chuỗi giá trị toàn cầu, các TNC có thể giúp lan tỏa phương
thức canh tác thâm thiện môi trường (hưu cơ) và những tập quán canh tác bền vững
khác thông qua cá nhà cung cấp và khách hàng toàn cầu.
1.3Một số vấn đề lý luận về khung chính sách thu hút FDI xanh
1.3.1 Khái niệm khung chính sách thu hút FDI
Khung chính sách bao gồm những hệ thống các quy định hành chính, luật
pháp và chiến lược của nhà nước để trên cơ sở đó chính phủ, các cơ quan thuộc
chính phủ và địa phương điều hành hoạt động của nền kinh tế nhằm đạt được các
mục tiê phát triển từng giai đoạn lịch sử nhất định. Khung chính sách gồm hai cấp
độ là khung chính sách quốc gia và khung chính sách quốc tế. Trong khung chính
sách quốc tế bao gồm những nhân tố thuộc về các hiệp định đầu tư song phương và
đa phương, các liên kết kinh tế quốc tế, thì khung chính sách quốc gia được chia là
hai nhóm là khung chính sách vòng trong và khung chính sách vòng ngoài. Khung
chính sách vòng trong là những quy định của quốc gia liên quan trực tiếp đến hoạt
động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Khung chính sách vòng ngoài là những khung
chính sách liên quan gián tiếp đến đầu tư trực tiếp nước ngoài.
thì sẽ không hấp dẫn được FDI.
Chính sách tư nhân hóa liên quan đến việc cổ phần hóa, bán lại các công ty.
Những nước cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào quá trình tư nhân
hóa sẽ tạo cho các nhà đầu tư nước ngoài nhiều cơ hội, nhiều sự lựa chọn hơn trước
khi quyết định đầu tư.
Chính sách tiền tệ và chính sách thuế
Chính sách tỷ giá hối đoái
Chính sách liên quan đến cơ cấu ngành kinh tế và các vũng lãnh thổ
Chính sách lao động: có hạn chế hay không hạn chế sử dụng lao động nước
ngoài; ưu tiên hay không ưu tiên cho lao động trong nước…
Chính sách giáo dục, đào tạo, y tế,.. ảnh hưởng đến chất lượng lao động cung
cấp cho các dự án FDI.