ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HOÀNG MAI VÂN ANH
CHÍNH SÁCH THU HÚT
ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
MỤC LỤC Danh mục các từ viết tắt iv
Danh mục các bảng biểu v
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ CHÍNH SÁCH THU
HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHIỆP HỖ TRỢ 7
1.1. KHÁI LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ
CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ (CNHT) 7
1.1.1 Tổng quan về FDI 7
1.1.2 Một số vấn đề cơ bản về ngành công nghiệp hỗ trợ 12
1.1.3Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển của
ngành công nghiệp hỗ trợ 16
1.2 CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 18
1.2.1 Khái niệm 18
1.2.2 Đặc điểm & nội dung 20
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ CHÍNH SÁCH THU
HÚT FDI VÀO CNHT VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 21
1.3.1 Kinh nghiệm của Thái Lan 21
1.3.2 Kinh nghiệm của Malaysia 24
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 26
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC
TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở
VIỆT NAM 28
2.4.2 Một số hạn chế 59
Chƣơng 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM 62
3.1 ĐỊNH HƯỚNG THU HÚT FDI VÀO CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
TRONG THỜI GIAN TỚI 62
3.1.1 Thu hút FDI vào các dự án sản xuất CNHT phục vụ nhu cầu
nội địa 63
3.1.2 Thu hút FDI vào các dự án sản xuất CNHT thuộc mạng lưới sản
xuất của các tập đoàn lắp ráp hiện có ở Việt Nam 63
3.1.3 Thu hút FDI vào các dự án sản xuất vật liệu phục vụ công nghiệp
chế tạo 64
3.1.4 Thu hút FDI từ các tập đoàn sản xuất linh kiện xuất khẩu 64
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT FDI
VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 64
3.2.1 Thành lập cơ quan quản lý nhà nước về công nghiệp hỗ trợ 64
3.2.2 Chính sách ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp FDI đầu tư vào
ngành CNHT 65
3.2.3 Chính sách phát triển hệ thống mô hình phát triển CNHT 66
3.2.4 Chính sách phát triển nhân lực cho ngành CNHT 67
3.2.5 Chính sách về hệ thống chất lượng liên quan đến linh phụ kiện 67
3.2.6 Chính sách xúc tiến thƣơng mại, quảng bá cho sản phẩm CNHT68
KẾT LUẬN 69
Tài liệu tham khảo 72
Danh mục các từ viết tắt
Stt
MIDA
Cục Phát triển Công nghiệp Malaysia
11
MOI
Bộ công nghiệp Thái Lan
12
NGOs
Tổ chức phi chính phủ
13
ODA
Tài trợ phát triển chính thức
14
SME
doanh nghiệp vừa và nhỏ
15
TĐĐQG
TNCs
Các tập đoàn đa quốc gia
16
UNIDO
Tổ chức phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc
17
VDF
Diễn đàn phát triển Việt Nam Danh mục các bảng biểu
Stt
Số hiệu
Thống kê FDI vào lĩnh vực CNHT ngành dệt
may
53
7
Bảng 2.7
Thống kê đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh
vực CNHT ngành da giày
54
Danh mục các biểu
1
Biểu đồ 2.1
Kim ngạch nhập khẩu máy vi tính sản phẩm
điện tử & linh kiện theo tháng năm 2010-2011
và 11 tháng năm 2012
33
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay các quốc gia đang phát triển phụ thuộc rất nhiều vào dòng
vốn nước ngoài trong công cuộc phát triển kinh tế. Sự tăng trưởng đáng kể
của các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, trong vài thập kỷ qua
cũng nhờ một phần vào đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
25 năm thi hành Luật Đầu tư nước ngoài đã đem lại những thành công
lớn mà trước hết đó là huy động được nguồn lực lớn cho phát triển kinh tế.
FDI đã góp phần không nhỏ vào nền kinh tế đất nước và trở thành một bộ
phận không thể tách rời. FDI đã đem lại hiệu quả kinh tế lớn như đóng góp
hơn 18% GDP, khoảng 1/3 sản lượng công nghiệp, 36% kim ngạch xuất khẩu
(không kể dầu thô), góp phần khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các
lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ chủ yếu là vẫn là các doanh nghiệp FDI. Trong
giai đoạn 10 năm tới, CNHT vẫn phải dựa rất nhiều vào trụ cột chính là các
nhà đầu tư nước ngoài. Việc thu hút FDI vào Phát triển công nghiệp hỗ trợ
một mặt vừa thu hút FDI cho một ngành như mọi ngành đơn thuần khác
nhưng mặt khác quan trọng hơn - nó còn tạo điều kiện, môi trường để tiếp tục
một lần nữa phát huy tác dụng là mở rộng thu hút FDI. Chất lượng của dòng
thu hút đầu tư nước ngoài phụ thuộc rất lớn vào công tác quản lý nhà nước
về thu hút đầu nước ngoài mà trong đó chính sách thu hút là một nội dung hết
sức quan trọng.
Vậy, chính sách thu hút FDI của Việt Nam vào phát triển Công nghiệp Hỗ
trợ hiện nay như thế nào? Thực trạng công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam và kết
quả thu hút FDI vào phát triển CNHT? Cần phải có giải pháp chính sách gì
nhằm tăng cường thu hút FDI hơn nữa để phát triển CNHT của Việt Nam?.
3
Điều này đòi hỏi cần có nghiên cứu sâu về lý luận và thực tiễn về chính
sách thu hút FDI vào phát triển Công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam, thực trạng
và những vấn đề hạn chế. Trên cơ sở đó đề xuất định hướng và các giải pháp
chính sách nhằm tăng cường thu hút FDI cho phát triển ngành này hơn nữa
trong thời gian tới.
Từ yêu cầu đó, tác giả đã chọn đề tài "Chính sách thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) vào Phát triển Công nghiệp Hỗ trợ ở Việt Nam" cho
luận văn thạc sỹ của mình và nhằm giải đáp câu hỏi trên.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, có nhiều công trình khoa học, đề tài nghiên cứu về
đầu tư nước ngoài nói chung và chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài nói riêng trên nhiều mức độ khác nhau, cụ thể như sau:
PGS. TS. Phùng Xuân Nhạ (2007), Các hình thức đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Việt Nam: Chính sách và thực tiễn, Nxb Đại học Quốc gia, Hà
nội. Công trình đã tập trung phân tích, so sánh bản chất và đặc điểm giữa các
Việt Nam, đã nghiên cứu và đánh giá các chính sách phát triển công nghiệp Hỗ trợ
của việt Nam bao gồm cả chính sách thu hút đầu tư nước ngoài.
Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu, bài báo, đề tài nghiên cứu
khác được nêu trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn này. Nhưng
đối với việc nghiên cứu sâu về Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào phát triển ngành CNHT hiện chưa có. Do vậy, đề tài ‘‘Chính sách thu
hút Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào Phát triển Công nghiệp Hỗ trợ ở
Việt Nam’’ là một đề tài mới, chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống tại
Việt Nam.
5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích: Nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và
thực tiễn về chính sách thu hút FDI vào phát triển công nghiệp hỗ trợ; những
bất cập trong chính sách thu hút FDI vào phát triển công nghiệp hỗ trợ của
Việt Nam trong thời gian qua, trên cơ sở đó đề xuất định hướng giải pháp
hoàn thiện chính sách này ở nước ta trong thời gian tới.
Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau
- Phân tích những vấn đề chung về chính sách thu hút FDI vào phát
triển công nghiệp hỗ trợ.
- Đánh giá thực trạng ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam, chính
sách và kết quả thu hút FDI vào ngành này trong thời gian qua.
- Đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút FDI vào
phát triển hơn nữa công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Chính sách thu hút Đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) vào phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian và nội dung: Đề tài nghiên cứu tập trung vào chính sách thu
Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam
7
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ
CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
1.1. KHÁI LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI (FDI) VÀ
CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ (CNHT)
1.1.1 Tổng quan về FDI
1.1.1.1 Khái niệm FDI
Năm 1997 Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa khái niệm Đầu tư trực tiếp
nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư được thực
hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh
tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là giành
được tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó.
Cách tiếp cận khác, khi tìm kiếm một định nghĩa về FDI là cách tiếp
cận sở hữu. Synthia day, Wallace, một chuyên gia Mỹ nghiên cứu về công ty
xuyên quốc gia viết: “Đầu tư nước ngoài có thể định nghĩa theo nghĩa rộng
là việc thiết lập hay giành được quyền sở hữu đáng kể trong một hàng “công
ty” ở nước ngoài hay sự gia tăng khối lượng của một khoản đầu tư nước
ngoài nhằm đạt được quyền sở hữu đáng kể”.
Các nhà kinh tế Việt Nam, khi nghiên cứu FDI thường đi theo cách tiếp
cận nguồn vốn, coi FDI là một trong các nguồn vốn nước ngoài, bên cạnh các
nguồn vốn khác như: tài trợ phát triển chính thức (ODA), viện trợ của các tổ
chức phi chính phủ (NGOs), tín dụng từ các ngân hàng thương mại.
Theo Luật Đầu tư năm 2005 “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng
các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các
hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp
9
- Nguồn vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ dự án
đầu tư dưới hình thức vốn pháp định, mà trong quá trình hoạt động, nó còn
bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng
như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được.
Các đặc điểm trên đã tạo một ưu thế chắc chắn FDI hơn những hình
thức đầu tư khác, và FDI trên thế giới hiện nay là hình thức đầu tư được quan
tâm đặc biệt.
1.1.1.3 Các hình thức chủ yếu của FDI
Hiện nay, có ba hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu sau đây:
* Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contract – BCC)
BCC là văn bản được ký kết giữa 2 hoặc nhiều bên (nước ngoài và nước
sở tại – các bên hợp doanh), nhằm tiến hành một hoặc nhiều hoạt động đầu tư tại
nước sở tại trên cơ sở quy định quyền lợi, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh
doanh cho mỗi bên hợp doanh mà không thành lập pháp nhân mới.
Phương thức hoạt động là các tổ chức kinh tế trong nước sản xuất, gia
công, lắp ráp sản phẩm cho phía nước ngoài và nhận lại tiền công lao động
hoặc bằng sản phẩm. Khi hết hạn hợp đồng, các máy móc thiết bị phục vụ cho
việc sản xuất, gia công có thể được bán lại cho doanh nghiệp.
* Doanh nghiệp liên doanh (Joint – Venture Enterprise)
Là doanh nghiệp được thành lập do các chủ đầu tư nước ngoài góp vốn
chung với doanh nghiệp của nước nhận đầu tư trên cơ sở hợp đồng liên
doanh. Các bên tham gia góp vốn cùng điều hành hoạt động kinh doanh, cùng
hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn.
Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty TNHH
có tư cách pháp nhân theo Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan của
Việt Nam. Thời gian hoạt động của các doanh nghiệp khoảng từ 30-50 năm.
Doanh nghiệp này hoàn toàn tự chủ về tài chính vì vốn pháp định do mỗi bên
liên doanh đóng góp. Trong quá trình hoạt động kinh doanh muốn tăng vốn
không thể có được bằng chính sách đó. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc
gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh
doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng
những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết
quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực
tiếp thu của đất nước
Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu: Khi thu hút FDI từ các công
ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà
ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó
cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước
thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi
cho đẩy mạnh xuất khẩu
Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công: Vì một trong những
mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản
xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao
động địa phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải
thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá
trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường
hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí
nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước
thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn
địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Nguồn thu ngân sách lớn: Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc
đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng
12
1.1.2 Một số vấn đề cơ bản về ngành công nghiệp hỗ trợ
hỗ trợ Thái Lan (Bureau of Supporting Industries Development - BSID):
Công nghiệp hỗ trợ là các ngành công nghiệp cung cấp linh kiện, phụ kiện,
máy móc, dịch vụ đóng gói và dịch vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ
bản (nhấn mạnh các ngành cơ khí, máy móc, linh kiện cho ô tô, điện và điện
tử là những ngành công nghiệp hỗ trợ quan trọng).
- Theo cách liệt kê. Hội đồng đầu tư Thái Lan phân loại các ngành
công nghiệp sản xuất thành phẩm thành 3 bậc: lắp ráp, sản xuất linh kiện và
phụ kiện, và các ngành công nghiệp hỗ trợ. Năm sản phẩm chính của ngành
công nghiệp hỗ trợ là gia công khuôn mẫu, gia công áp lực, đúc, cán và các
gia công nhiệt.
Các định nghĩa trên chủ yếu nhìn công nghiệp hỗ trợ theo ngành. Nếu
tiếp cận theo chuỗi giá trị, từ góc độ doanh nghiệp, công nghiệp hỗ trợ được
hiểu gồm ba dạng doanh nghiệp:
- Các nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, máy móc ở nước ngoài.
- Các nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, máy móc nước ngoài ở thị
trường trong nước
- Các nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, máy móc ở nội địa.
Trong Quy hoạch Tổng thể phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ
đến năm 2010, tầm nhìn 2020 của Bộ Công thương, công nghiệp hỗ trợ được
hiểu là những ngành công nghiệp cung cấp nguyên liệu và quy trình cần thiết
để sản xuất ra sản phẩm trước khi chúng được đưa ra thị trường. Trong bản
quy hoạch này, hệ thống công nghiệp hỗ trợ là hệ thống các nhà sản xuất và
công nghệ sản xuất có khả năng tích hợp theo chiều ngang, cung cấp nguyên
vật liệu, linh kiện, phụ tùng, cho khâu lắp ráp cuối cùng.
14
1.1.2.2 Đặc điểm
Công nghiệp hỗ trợ có 3 đặc điểm cơ bản [10]:
Thứ nhất, công nghiệp hỗ trợ chỉ sản xuất ra những sản phẩm công
nghiệp có vai trò hỗ trợ cho quá trình sản phảm chính chứ không trực tiếp sản
1.1.2.4 Vai trò của công nghiệp hỗ trợ
Thứ nhất, CNHT đóng vai trò rất quan trọng trong việc tăng sức cạnh
tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp
hoá theo hướng vừa mở rộng vừa thâm sâu. CNHT không phát triển sẽ làm
cho các công ty lắp ráp và những công ty sản xuất thành phẩm cuối cùng khác
sẽ phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Dù những sản phẩm này có thể được
cung cấp với giá rẻ ở nước ngoài nhưng vì chủng loại quá nhiều, phí tổn
chuyên chở, bảo hiểm sẽ làm tăng phí tổn đầu vào. Đó là chưa nói đến sự rủi
ro về tiến độ, thời gian nhận hàng nhập khẩu. Vì lý do này, CNHT không phát
triển thì các ngành công nghiệp chính sẽ thiếu sức cạnh tranh và phạm vi
cũng giới hạn trong một số ít các ngành.
Thứ hai, CNHT có vai trò rất quan trọng trong việc thu hút dòng vốn
FDI vào lĩnh vực công nghiệp, đồng thời, kích thích phát triển doanh nghiệp
nhỏ và vừa trong nước. Muốn thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài FDI,
CNHT phải đi trước một bước, tạo nên cơ sở hạ tầng để cung cấp sản phẩm
đầu vào cần thiết cho các ngành công nghiệp lắp ráp bởi lẽ bản thân các tập
đoàn và các công ty lớn về lắp ráp hiện cũng chỉ giữ lại trong quy trình của
mình các khâu nghiên cứu, phát triển sản phẩm và lắp ráp thay vì tất cả gói
gọn trong một công ty hay nhà máy.
Thứ ba, CNHT còn góp phần thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ, áp
dụng các kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất. Bởi lẽ, dưới áp lực cạnh tranh, các
16
công ty CNHT phải tỏ ra có tiềm năng cung cấp linh kiện, phụ liệu với chất
lượng và giá thành cạnh tranh được với hàng nhập. Tiềm năng đó sẽ thành
hiện thực nhờ chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI.
Thứ tư, CNHT còn góp phần tạo công ăn việc làm, thu hút lao động dư
thừa trên các địa bàn sản xuất của doanh nghiệp và khu vực lân cận
1.1.3 Tác động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đối với sự phát
triển của ngành công nghiệp hỗ trợ
liên hệ trở nên thường xuyên và ổn định thì chúng trở thành vệ tinh của các
hãng lớn. Đây cũng là một trong các con đường chủ yếu để các tập đoàn đa
quốc gia (TNCs) cắm nhánh và khai thác thị trường thế giới thông qua việc
hút các doanh nghiệp này vào quỹ đạo hoạt động của mình để hình thành các
chi nhánh cấp 2 và cấp 3… với các mối liên kết chặt và lỏng khác nhau.
Mặt khác, thông qua những mối liên kết này, các doanh nghiệp của
nước nhận đầu tư cũng dễ dàng thâm nhập vào hệ thống phân công lao động
của TNCs. Doanh nghiệp hỗ trợ có thể tồn tại như một vệ tinh của TNCs.
Theo đà phát triển về năng lực sản xuất và trình độ công nghệ, các doanh
nghiệp hỗ trợ này không chỉ cung cấp sản phẩm cho các xí nghiệp sản xuất ở
trên địa bàn quốc gia, mà còn cung cấp cho mạng lưới các xí nghiệp chhi
nhánh của TNCs cắm ở hàng trăm quốc gia trên thế giới.
Đối với các TNCs, công nghiệp hỗ trợ kém phát triển sẽ là rào cản lớn
đối với các công ty lắp ráp và các công ty sản xuất thành phẩm cuối cùng, vì
sẽ phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Bởi lẽ, để lắp ráp hoàn chỉnh một
chiếc ô tô, người ta cần tới khoảng 20.000 – 30.000 linh kiện và các chi tiết
khác nhau. Với một khối lượng khổng lồ phụ tùng, linh kiện như vậy, ngay cả
những tập đoàn công nghiệp hùng mạnh, có đủ năng lực chuyên môn, tài
chính, nguồn nhân lực cũng không thể tự làm hết được tất cả các công đoạn
18
một cách hiệu quả vì độ rủi ro lớn. Thay vào đó, họ chỉ đảm nhiệm những
khâu trọng yếu nhất rồi sử dụng phụ tùng, linh kiện của các doanh nghiệp vệ
tinh trong ngành công nghiệp hỗ trợ để lắp ráp hoàn chỉnh thành phẩm và
nắm giữ hệ thống phân phối.
Xuất phát từ vai trò trên, có thể thấy công nghiệp hỗ trợ phải phát triển
mới có thể thu hút có hiệu quả FDI, nhất là trong các ngành sản xuất các loại
máy móc, là những ngành đang có tốc độ phát triển nhanh tại khu vực Đông
Á, đồng thời cũng là những ngành Việt Nam có lợi thế so sánh động. Tỷ lệ
của chi phí về công nghiệp hỗ trợ cao hơn nhiều so với chi phí về lao động,