Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng chuẩn mực kế toán công việt nam trong điều kiện vận dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế - Pdf 35

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đối với hầu hết các quốc gia trên con đƣờng hội nhập quốc tế, việc cải cách hệ thống
tài chính - kế toán của Chính phủ và tiến trình thực hiện đang trở nên quan trọng để đáp
ứng nhu cầu ngày càng tăng về tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý tài
chính công. Một trong những nội dung của chƣơng trình cải cách là xây dựng một hệ thống
chuẩn mực kế toán cho khu vực công trên cơ sở vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế,
vừa đáp ứng đƣợc yêu cầu quản lý kinh tế - tài chính quốc gia vừa đƣợc sự thừa nhận của
quốc tế.
Đối với Việt Nam, trong những năm qua với chính sách mở cửa, tăng cƣờng quan hệ
song phƣơng và đa phƣơng, Việt Nam đã ngày càng khẳng định vị thế của mình trên chính
trƣờng quốc tế. Quá trình đó, kế toán công Việt Nam đã không ngừng đổi mới góp phần
quan trọng trong quản lý, điều hành ngân sách Nhà nƣớc, từng bƣớc đáp ứng yêu cầu hội
nhập quốc tế. Tuy có những chuyển biến tích cực, song kế toán công Việt Nam đƣợc đánh
giá là còn nhiều hạn chế và chƣa phù hợp với thông lệ quốc tế. Hiện nay, khu vực công Việt
Nam tồn tại nhiều chế độ kế toán theo đặc thù của từng lĩnh vực hoạt động, cùng là kế toán
ngân sách nhƣng cấu trúc của các chế độ kế toán lại khá khác biệt nhau, mỗi chế độ kế toán
đƣợc thiết lập phục vụ cho mục đích quản lý riêng, số liệu đƣợc tổng hợp từ cơ quan tài
chính qua các nguồn thông tin khác nhau thƣờng không thống nhất. Với những bất cập nhƣ
hiện nay, chắc chắn kế toán công sẽ không thể phản ánh một cách đầy đủ, tin cậy về tình
hình tài chính Nhà nƣớc chƣa kể là còn nhiều khác biệt so với quốc tế.
Từ thực trạng đó, nhu cầu về một khuôn khổ pháp lý quy định thống nhất cho việc
thực hành kế toán công hay nói khác hơn là xây dựng một hệ thống chuẩn mực kế toán
chung cho khu vực công là nhu cầu tất yếu khách quan nhằm quản lý thống nhất về tài chính
Nhà nƣớc, thực hiện công khai minh bạch các hoạt động tài chính Nhà nƣớc, tổng hợp thông
tin đồng bộ, cung cấp thông tin tin cậy cho việc quản lý hiệu quả nguồn lực Nhà nƣớc, đáp
ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Nhận thức đƣợc tầm quan trọng và sự cần thiết của việc xây dựng Chuẩn mực kế toán
công Việt Nam, trong những năm qua Bộ Tài chính đã triển khai và đề xuất lộ trình xây
dựng Chuẩn mực kế toán công Việt Nam trên cơ sở vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc
tế. Kể từ năm 2004 đến nay, nhiều cuộc hội thảo giữa các chuyên gia, các nhà nghiên cứu

3. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục tiêu chung của đề tài, nội dung nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi
nhƣ sau:
Câu hỏi nghiên cứu 1: Những nhân tố nào ảnh hƣởng đến việc xây dựng Chuẩn mực
kế toán công Việt Nam trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế?
Câu hỏi nghiên cứu 2: Các nhân tố này tác động nhƣ thế nào đến việc xây dựng
Chuẩn mực kế toán công Việt Nam, nguyên nhân phát sinh chúng?

ii


Câu hỏi nghiên cứu 3: Những điều kiện nào cần thiết để Việt Nam có thể xây dựng
Chuẩn mực kế toán công?
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến việc xây dựng Chuẩn mực kế toán công Việt
Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến tiến trình xây
dựng Chuẩn mực kế toán công Việt Nam trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán
công quốc tế, xu hƣớng vận dụng IPSAS để xây dựng chuẩn mực kế toán công của các
quốc gia trên thế giới, cụ thể nghiên cứu tại Mỹ, Canada và Nam Phi làm bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam trong xây dựng chuẩn mực kế toán công.
Tuy nhiên, do khu vực công Việt Nam khá rộng, nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau,
mỗi lĩnh vực mang tính chất đặc thù, vì thế tác giả chọn các đơn vị thuộc khu vực công
đƣợc tài trợ bằng ngân sách Nhà nƣớc.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để làm rõ chủ đề nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp hai phƣơng pháp nghiên cứu định
tính và định lƣợng. Trong đó, phƣơng pháp nghiên cứu định tính giúp tác giả khái quát hóa
các lý thuyết nghiên cứu và đồng thời xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến việc xây dựng

tác giả để có sự nhìn nhận đúng đắn về các nhân tố thực sự đang tác động đến việc xây dựng
chuẩn mực kế toán công. Tuy nhiên để kết quả nghiên cứu mang tính thuyết phục và có độ
tin cậy cao hơn, tác giả tiếp tục xây dựng bảng câu hỏi và mở rộng đối tƣợng khảo sát nhằm
khẳng định lại quan điểm, từ đó giúp tác giả có những đề xuất hữu ích.
- Phương pháp điều tra chọn mẫu và thống kê mô tả
Luận án sử dụng hai phƣơng pháp chọn mẫu bao gồm: Phƣơng pháp chọn mẫu mở
rộng dần và phƣơng pháp chọn mẫu tới hạn. Sở dĩ tác giả sử dụng phƣơng pháp này là vì
khu vực công khá rộng nên việc khảo sát trên tổng thể là rất khó khăn. Bên cạnh đó, để tổng
hợp quan điểm đánh giá của các chuyên gia về những nhân tố ảnh hƣởng đến việc xây dựng
chuẩn mực kế toán công, tác giả sử dụng phƣơng pháp thống kê mô tả theo hai phƣơng
pháp: mô tả một biến và mô tả các biến cùng thang bậc.
- Các phương pháp kiểm định
Các kiểm định tác giả đã sử dụng trong luận án của mình bao gồm: kiểm định Bartlett,
kiểm định KMO, kiểm định phƣơng sai trích, kiểm định Independent-Samples T test và
Kiểm định Mann – Whitney. Kết quả thống kê sẽ giúp tác giả khám phá và đo lƣờng mức
độ tác động của các nhân tố làm cơ sở cho những đề xuất của luận án.
6. Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu là một phần quan trọng không thể thiếu để tạo nên độ tin cậy cũng
nhƣ tính thuyết phục của luận án. Để đáp ứng đƣợc mục tiêu nghiên cứu của luận án tác giả
sử dụng cả 2 loại dữ liệu nghiên cứu bao gồm dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp.
iv


7. Những đóng góp của luận án
 Về mặt lý luận
Luận án tổng hợp các lý luận liên quan đến những nhân tố ảnh hƣởng đến việc xây
dựng chuẩn mực kế toán công quốc gia trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công
quốc tế. Trên cơ sở đó, kết hợp với nghiên cứu thực trạng, tác giả đã phát triển các lý luận
này trong bối cảnh thực tiễn tại Việt Nam.
 Về mặt thực tiễn

tâm với mong muốn tìm ra những giải pháp tốt nhất cho việc thiết lập một hệ thống chuẩn
mực kế toán cho khu vực công quốc gia. Đối với nội dung nghiên cứu của luận án, các tài
liệu này sẽ là những hỗ trợ quan trọng cho nghiên cứu của tác giả. Trong phạm vi chƣơng
này, tác giả khái quát các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc liên quan đến chủ đề nghiên cứu
của mình, qua đó đánh giá và xác định khoảng trống từ các nghiên cứu trƣớc. Nội dung
chƣơng này cũng sẽ nêu bật những phƣơng pháp, những bằng chứng thực nghiệm đã đƣợc
các nhà khoa học sử dụng, các tài liệu này sẽ giúp định hƣớng cho tác giả cách thức và thiết
kế mà tác giả sẽ thực hiện để làm rõ chủ đề nghiên cứu.
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu công bố ở nƣớc ngoài
1.1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về xu hướng cải cách hệ thống kế toán công
và vận dụng IPSAS
Trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa IPSAS và việc cải cách hệ thống kế toán
công tại các nƣớc đang phát triển. Chan, J. L (2006) nhận định những hạn chế từ hệ thống
quản lý tài chính Chính phủ của các nƣớc đang phát triển đó là: tình trạng tham nhũng đe
dọa tính hợp pháp và thẩm quyền của Chính phủ, những rủi ro trong đầu tƣ tài chính
công,… đã làm giảm nguồn lực tài trợ cho các dịch vụ công. Từ đó, nội dung của cuộc cải
cách là nhằm thay đổi các chính sách và thủ tục của kế toán Chính phủ, hỗ trợ cho việc quản
lý hiệu quả nguồn lực công, cung cấp thông tin minh bạch cho các nhà quản lý khu vực
công để thực hiện các chức năng cơ bản của Nhà nƣớc, tăng cƣờng năng lực thể chế để đạt
đƣợc mục tiêu phát triển. Nghiên cứu chỉ ra rằng thành công của cuộc cải cách phụ thuộc
vào vai trò hỗ trợ của các cán bộ lãnh đạo cấp cao và nguồn tài chính cung cấp để thực hiện.
Các nƣớc đang phát triển đƣợc khuyến khích thực hiện kế toán dồn tích và vận dụng IPSAS
làm định hƣớng cho việc cải cách. Tuy nhiên, nghiên cứu này chƣa đề cập đến giải pháp để
các nƣớc đang phát triển có thể thực hiện nhằm cải cách và vận dụng IPSAS.
Roje và cộng sự (2010), dựa trên nghiên cứu sự tƣơng đồng và khác biệt về thực trạng
kế toán Chính phủ ở các nƣớc Slovenia, Croatia, Bosnia và Herzegovina, đây là các quốc
gia đang trong quá trình thực hiện việc cải cách để chuyển đổi sang IPSAS. Nghiên cứu tập
trung kiểm tra tính đầy đủ của hệ thống kế toán Nhà nƣớc, mô hình báo cáo tài chính, các
[1]


thiếu các quy định cho những hoạt động khác nhau trong cơ cấu tổ chức và quy trình của kế
toán, những hạn chế này làm ảnh hƣởng đến mức độ tin cậy của thông tin trên Báo cáo tài
chính. Từ đó, việc cải cách hệ thống kế toán là nhằm thiết lập một hệ thống báo cáo chuẩn,
không những phục vụ cho quản lý điều hành ngân sách mà còn đáp ứng nhu cầu thông tin
[2]


cho nhiều đối tƣợng sử dụng kể cả công chúng và nâng cao tính minh bạch của các Báo cáo
tài chính đƣợc lập bởi Chính phủ. Việc cải cách theo hƣớng hiện đại hóa dịch vụ tài chính
kế toán tạo nên sự thích ứng giữa chƣơng trình ngân sách với các nguyên tắc, phƣơng pháp
luận mới về kế toán trên quan điểm vận dụng IPSAS.
Gomes (2013), phân tích những nỗ lực của Malaysia thực hiện kế toán cơ sở dồn tích
để hội tụ với IPSAS. Áp dụng kế toán dồn tích sẽ cho phép cung cấp thông tin chính xác về
việc sử dụng các nguồn lực, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý
tài chính công, tạo thuận lợi cho Chính phủ đạt đƣợc các mục tiêu phát triển kinh tế. Nghiên
cứu này cũng phân tích những hạn chế của hệ thống kế toán cơ sở tiền mặt, phân tích xu
hƣớng áp dụng kế toán trên cơ sở dồn tích và thực hiện chuyển đổi sang IPSAS. Đối với
Malaysia, những nỗ lực của Chính phủ là nhằm hƣớng tới áp dụng IPSAS trƣớc ngày
01/01/2015 và thực hiện chính sách kế toán dồn tích khi phát hành các Báo cáo tài chính
vào tháng 01 năm 2015, đồng thời đáp ứng đƣợc các yêu cầu của IPSAS.
Theo nghiên cứu của Alshjairi (2014), lý do cho sự cần thiết phải cải cách hệ thống kế
toán Chính phủ và áp dụng IPSAS tại Iraq trƣớc hết bắt nguồn từ sự thay đổi trong thể chế
chính trị, kinh tế và chủ trƣơng hội nhập kinh tế thế giới. Ngoài ra, tình trạng tham nhũng và
thiếu minh bạch trong quản lý tài chính công đã làm phát sinh yêu cầu cải cách hệ thống kế
toán công trên cơ sở áp dụng IPSAS. Thực hiện đánh giá tính khả thi của việc áp dụng
IPSAS tại Iraq, một bảng câu hỏi khảo sát trong đó có những câu hỏi liên quan đến nhu cầu
cải cách quản lý tài chính công, những yêu cầu và thách thức đối với việc áp dụng IPSAS tại
Iraq. Các đối tƣợng đƣợc khảo sát bao gồm: Bộ Tài chính, Ban Kiểm toán viên tối cao, các
trƣờng Đại học. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cần thiết cải cách hệ thống kế toán Chính
phủ Iraq theo hƣớng áp dụng IPSAS là một giải pháp tốt nhất để cải thiện tình hình của Iraq.

công và vận dụng IPSAS
Bảng 1.1. Tổng hợp các nghiên cứu nƣớc ngoài về xu hƣớng cải cách hệ thống kế toán
công và vận dụng IPSAS
Tên tác
giả ( Năm)

Tên đề tài

IPSAS and
James L.

Government

Chan

Accounting Reform

(2006)

in Developing
Countries

Nơi công bố

Mục tiêu nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu

Public Sector


IPSAS.

thực hiện.

nghiên cứu

Sự năng động của việc vận dụng
Gorana

Accounting

Roje,

regulation and

DavorVasi

IPSAS

cek and

implementation:

Vesna

efforts of transition

Vasicek

countries toward

Chuyển từ kế toán tiền mặt sang
kế toán dồn tích; khó khăn khi
chuyển đổi ngôn ngữ kế toán.

[4]


Johan
- Do sự khác biệt về văn hóa, bối

Christiaens
,
Christophe
Vanhee,
Francesca
ManesRossi and
Natalia

cảnh lịch sử hoặc trong cấu trúc

The Effect of IPSAS
on Reforming
Governmental
Financial Reporting:

Gent
University.

Nguyên nhân của việc cải cách
hệ thống kế toán công và vận


Implementation and

h Victoria

Prospects for

(2013)

Ukraine

Nghiên cứu quá trình cải cách

toán kinh doanh đối với tài sản,

Economics &

kế toán khu vực công tại

công nợ, thu nhập, chi phí; cải

Economy,

Ukraine nhằm cải thiện hệ

thiện Báo cáo cáo tài chính.

Vol. 1, No. 2,

thống Báo cáo tài chính khu vực


sector finance.

January/Febru

chuyển đổi sang IPSAS trên thế

ary 2013

giới đồng thời liên hệ thực tế tại
Malaysia.

Phân tích những hạn chế của hệ
thống kế toán cơ sở tiền mặt và
những nỗ lực của Chính phủ
Malaysia nhằm hƣớng tới thực
hiện chính sách kế toán dồn tích
và áp dụng IPSAS trƣớc ngày
01/01/2015.
- Nguyên nhân thực hiện cải cách

Mohamme
d Huweish
Alshujairi,
(2014)

Research

hệ thống kế toán công tại Iraq là


in Iraq

1697.

quản lý tài chính công.

Vol.5,No.24

- Cải cách hệ thống kế toán công
trên cơ sở vận dụng IPSAS.

[5]


IPSAS - A

Charity
Mhaka
(2014)

Guaranteed Way of

Hạn chế từ kế toán khu vực công

Quality Government

Zimbabwe nhƣ ghi nhận không

Financial


lãng phí làm phát sinh nhu cầu về
cải cách hệ thống quản lý tài
chính – kế toán của Chính phủ.
Nghiên cứu này phân tích chi phí

IPSAS Based

và những lợi ích cho việc áp dụng

Accounting

IPSAS

Reporting
The impact of
International Public
Sector Accounting

International

Nghiên cứu xem xét chất lƣợng

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng,

Standard (IPSAS)

journal of

Báo cáo tài chính Chính phủ và


công, cần vận dụng IPSAS để

Financial Reporting

research,vol s,

chuẩn mực kế toán công Nigeria

thực hiện chuẩn mực kế toán công

In State Government

issue 3

trên cơ sở vận dụng IPSAS.

quốc gia.

Administration In
Nigeria

(Nguồn Tác giả tự tập hợp)
Tóm lại, nghiên cứu việc cải cách hệ thống kế toán công và vận dụng IPSAS thực hiện
tại nhiều quốc gia đƣợc tập trung chủ yếu vào một số nội dung:
(i) Nghiên cứu nguyên nhân thực hiện cải cách kế toán công tại các quốc gia: Nguyên
nhân của việc thực hiện cải cách kế toán công để vận dụng IPSAS bắt nguồn từ những hạn
chế của hệ thống quản lý tài chính, tình trạng tham nhũng đe dọa tính hợp pháp và thẩm
quyền của Chính phủ, việc cải cách theo hƣớng vận dụng IPSAS nhằm làm minh bạch
thông tin tài chính, nâng cao trách nhiệm giải trình và hạn chế sự khác biệt so với thông lệ
quốc tế (Chan, 2006; Alshjairi, 2014). Cải cách kế toán công còn phát sinh do thiếu phƣơng

dụng IPSAS tại các quốc gia (Roje và cộng sự, 2010; Cardoso và cộng sự, 2014). Ngoài ra,
đối với các nƣớc đang phát triển, vai trò hỗ trợ của cán bộ lãnh đạo cấp cao và nguồn lực tài
chính có ý nghĩa quan trọng để thực hiện việc chuyển đổi và vận dụng IPSAS (Chan, 2006).
1.1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến việc xây
dựng Chuẩn mực kế toán công quốc gia trên cơ sở vận dụng IPSAS
Ryan và cộng sự (1999), nghiên cứu quá trình cải cách toàn diện các báo cáo tài chính,
làm rõ vai trò của các cá nhân và tổ chức tham gia trong quy trình thiết lập chuẩn mực kế
toán công tại Úc. Theo đó, việc thiết lập các chuẩn mực kế toán công đòi hỏi phải có sự lựa
chọn xã hội giữa xung đột lợi ích của các cá nhân khác nhau và các nhóm bị ảnh hƣởng.
Trên cơ sở phân tích vấn đề của ED55, nghiên cứu xem xét mức độ tham gia của các tổ
chức, cá nhân trong thiết lập chuẩn mực kế toán công tại Úc và xây dựng mô hình thiết lập
chuẩn mực. Kết quả nghiên cứu cho thấy: mức độ tham gia của các cơ quan Chính phủ là
[7]


khá thấp, điều này có ảnh hƣởng nhất định đến chất lƣợng các chuẩn mực đƣợc xây dựng và
hậu quả của quá trình thực hiện kế toán dồn tích.
Boolaky (2003), trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trƣớc nhƣ nghiên cứu của Larson,
Hofstede, Gray, Nobes, Parker, Muller, Doupnik, Doost, D'Arcy,... sử dụng phƣơng pháp
thử nghiệm đa thức trên hai nhóm quốc gia có và không có thị trƣờng chứng khoán, đồng
thời áp dụng mô hình PESC để đánh giá các nhân tố ảnh hƣởng đến chuẩn mực kế toán
trong Cộng đồng phát triển Nam Phi (SADC). Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiều nhân tố
ảnh hƣởng đến hệ thống kế toán và thực hành trong một đất nƣớc mà khi phân tích chặt chẽ,
có thể đƣợc nhóm lại thành các nhân tố: Chính trị và pháp lý; kinh tế; xã hội và văn hóa
(Political, Economic, Social, Cultural - PESC). Trong đó:
-

Nhân tố chính trị: Sức mạnh chính trị; khả năng thực thi.

-

[8]


(ITC); sự hỗ trợ tài chính của quốc tế (IFS), đặc biệt Ouda nhấn mạnh các nƣớc đang phát
triển cần có sự hỗ trợ về tài chính để thực hiện việc cải cách.
Zhang (2005), dựa trên nghiên cứu các lý thuyết bao gồm lý thuyết Muller (1967),
Cộng đồng kế toán Mỹ (1977), Nobes (1984), Arpen và Radebaugh (1981), Belkaoui
(1985), Harrison và McKinnon (1986), Gray (1988), Radebaugh và Gray (1993), Lawrence
(1996), Walton (1998),… về những nguyên nhân của sự khác biệt trong hệ thống kế toán ở
mỗi quốc gia và nghiên cứu thực trạng quá trình phát triển của hệ thống kế toán Trung Quốc
giai đoạn (1949 -2005), tác giả đã phân chia các giai đoạn phát triển của hệ thống kế toán
Trung Quốc và chỉ ra những nhân tố tác động ảnh hƣởng đến hệ thống kế toán qua từng giai
đoạn lịch sử. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phát triển kế toán của Trung Quốc chịu ảnh
hƣởng mạnh mẽ bởi các nhân tố khác nhau bao gồm: chính trị, quốc tế, kinh tế, văn hóa,
luật pháp, giáo dục và tính chuyên nghiệp. Mặc dù nghiên cứu này đƣợc thực hiện đối với
hệ thống kế toán tài chính thuộc khu vực tƣ, song có thể vận dụng để đánh giá khu vực công
trong mối liên hệ với điều kiện thực tiễn của môi trƣờng trong mỗi giai đoạn nghiên cứu.
Karia (2007), nghiên cứu quá trình vận dụng IPSAS của Liên Hiệp Quốc đã xác định
những nhân tố tác động ảnh hƣởng đến quá trình thực hiện bao gồm: khó khăn khi chuyển
từ kế toán trên cơ sở tiền sang kế toán trên cơ sở dồn tích; hệ thống công nghệ thông tin kế
toán không đáp ứng yêu cầu cho việc thực hiện IPSAS; những hạn chế trong các quy định
về quản lý; sự yếu kém trong công tác đào tạo chuyên môn và nhận thức của đội ngũ nhân
viên đối với IPSAS. Việc vận dụng IPSAS của kế toán công Liên Hiệp Quốc đƣợc đề xuất
thực hiện ở hai cấp độ là cấp độ toàn hệ thống và cấp độ tổ chức, cá nhân. (1) Đối với cấp
độ toàn hệ thống: Một dự án phát triển các chính sách kế toán áp dụng trong toàn hệ thống,
kế hoạch chuyển đổi đƣợc xây dựng bao gồm: thiết lập lộ trình chặt chẽ, xem xét các vấn đề
liên quan tác động đến thực hành kế toán ngân sách, phát triển các sản phẩm đào tạo, nâng
cao trình độ công nghệ thông tin. (2) Đối với cấp độ tổ chức, cá nhân: Thành công của quá
trình thực hiện phụ thuộc vào việc nâng cao nhận thức, trình độ và trách nhiệm trong các
nhóm dự án.

thông; động lực sẵn sàng thay đổi; tƣ vấn và điều phối; ngân sách để thực hiện; các vấn đề
kế toán cụ thể; quản lý thay đổi văn hóa; sự nhất quán giữa ngân sách và kế toán; năng lực
công nghệ thông tin; sự hỗ trợ tài chính của quốc tế là những nguyên nhân chủ yếu đang
kìm hãm hiệu quả trong việc thực hiện IPSAS. Nghiên cứu này khuyến cáo rằng một khuôn
khổ pháp lý cần đƣợc thiết lập để thực hiện IPSAS, theo đó tất cả các bên liên quan và
Chính phủ phải nâng cao nhận thức về IPSAS, nâng cao hiệu quả quản lý tài chính trong
khu vực công, đồng thời tăng cƣờng áp dụng công nghệ thông tin để đối phó với các yêu
cầu dữ liệu tài chính theo tiêu chuẩn của IPSAS. Tuy nhiên, nghiên cứu chƣa xem xét mối
quan hệ giữa việc vận dụng IPSAS với quản lý tài chính khu vực công.
Harun (2012), tập trung nghiên cứu việc cải cách hệ thống kế toán công của Indonesia,
theo hƣớng vận dụng kế toán dồn tích trong khu vực công. Tác giả chỉ ra rằng việc vận dụng
thành công kế toán dồn tích là rất hạn chế. Điều này khuyến khích nghiên cứu sâu hơn vào
[10]


các nhân tố tác động đến việc thực hiện và một trong những nhân tố quan trọng chính là văn
hoá. Cuối cùng, thông qua tìm hiểu kinh nghiệm cải cách kế toán khu vực công tại một số
quốc gia trên thế giới và đánh giá thực trạng kế toán công Indonesia trong mối liên hệ với hệ
thống kinh tế, chính trị và xã hội, tác giả đã đề xuất hƣớng cải cách kế toán và vận dụng kế
toán dồn tích trong khu vực công.
Lê Thị Nha Trang (2012), dựa trên nghiên cứu các lý thuyết về kế toán công và IPSAS
để đánh giá những lợi thế và bất lợi của IPSAS cùng với những ảnh hƣởng của IPSAS đến
các mức độ vận dụng khác nhau tại các quốc gia. Nghiên cứu cũng khảo sát thực trạng các
chế độ kế toán thuộc khu vực công Việt Nam, phân tích những khác biệt so với IPSAS.
Theo đó, các hạn chế ảnh hƣởng đến việc vận dụng IPSAS bao gồm: (1) Khó khăn trong
tổng hợp các dữ liệu về ngân sách quốc gia cho kế toán công đƣợc thực hiện bởi nhiều cơ
quan khác nhau và chƣa có quy định thống nhất; các thông tin kế toán không cung cấp đủ cơ
sở để đánh giá tình hình tài chính của Chính phủ do việc sử dụng cơ sở kế toán của các đơn
vị công khác biệt nhau; (2) Việc hạn chế về trình độ nguồn nhân lực là một vấn đề cần quan
tâm, kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy nhân lực của Việt Nam chƣa trang bị hiểu biết

việc vận dụng IPSAS tại Tây Ban Nha.
Bello (2013), đánh giá lợi ích và thách thức khi vận dụng IPSAS tại Nigeria, theo đó
những mong đợi từ việc vận dụng IPSAS tại Nigeria bao gồm: Cải thiện tính nhất quán và
tính so sánh của Báo cáo tài chính; thông tin toàn diện hơn về chi phí sẽ hỗ trợ cho việc
quản lý dựa vào kết quả; tăng cƣờng trách nhiệm giải trình và tính minh bạch của khu vực
công;…Vận dụng IPSAS, Nigeria phải đối mặt với hai nhóm thách thức bao gồm: Thách
thức chung và thách thức cụ thể. Trong đó, thách thức chung thể hiện: Không có lộ trình rõ
ràng cho việc thực hiện, yếu kém trong hệ thống quản lý của Chính phủ. Thách thức cụ thể
đƣợc nghiên cứu đề cập đó là: Khác biệt về thể chế chính trị, pháp lý, những khó khăn của
một quá trình thay đổi quản lý phức tạp và toàn diện kể cả gặp phải những kháng cự, đòi hỏi
về trình độ năng lực nguồn nhân lực về IPSAS,... Các điều kiện cần thiết đƣợc đề xuất để
vận dụng IPSAS bao gồm: Nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin; nâng cao trình độ nguồn
nhân lực về IPSAS; chuyển đổi từ kế toán tiền mặt sang dồn tích; sự hỗ trợ từ quản lý cấp
cao từ bên trong và bên ngoài quốc gia.
Bellanca (2014), thực hiện nghiên cứu và cung cấp một bức tranh toàn cảnh về mức độ
áp dụng IPSAS khác nhau tại các quốc gia thành viên của Liên minh Châu Âu. Một cuộc
khảo sát với mục tiêu đo lƣờng mức độ thực hiện IPSAS (ở cấp địa phƣơng và Trung ƣơng)
tập trung vào các khuôn khổ pháp lý và cơ cở kế toán đƣợc sử dụng trong mỗi quốc gia. Kết
quả nghiên cứu cho thấy, vai trò của Chính phủ trong thiết lập hệ thống pháp lý là một nhân
tố quan trọng ảnh hƣởng đáng kể đến việc vận dụng IPSAS. Bên cạnh đó, sự khác biệt trong
áp dụng cơ sở kế toán giữa các quốc gia, trong khi một số nƣớc đang tích cực hiện đại hóa
các phƣơng pháp kế toán thực hiện kế toán trên cơ sở dồn tích thì cũng có một số nƣớc sử
dụng hệ thống kế toán truyền thống, áp dụng kế toán trên cơ sở tiền mặt. Chính những khác
[12]


biệt này là nguyên nhân làm cho mức độ áp dụng IPSAS tại các quốc gia khác nhau, hơn
nữa việc thiếu hẳn một đạo luật chi phối cho việc áp dụng cơ sở kế toán dồn tích cũng làm
cản trở việc hài hòa với IPSAS.
Mike Mbaya (2014), nghiên cứu so sánh hệ thống kế toán hiện tại và hệ thống kế toán

các mô hình điều tiết

the Australian

Accounting
Standard –

Kết quả nghiên cứu

Bài viết này xem xét

Participation in

Public Sector

Mục tiêu nghiên cứu

áp dụng cho chuẩn
Blackwell

mực kế toán đƣợc

Publishers

thiết lập ở khu vực
công Úc và xác định

Setting Process:

ý nghĩa của các mô

SEAG BAA
Conference
London
Metropolita
n University

Bài báo chỉ rõ những
nhân tố ảnh hƣởng
đến việc áp dụng các
chuẩn mực kế toán ở
Cộng đồng Phát triển
Nam Phi (SADC).

(SADC)

toàn độc lập. Bài viết cho rằng có rất nhiều nhân tố
ảnh hƣởng đến hệ thống và thực hành kế toán của
một nƣớc, cụ thể là chính trị, kinh tế, xã hội và văn
hóa (PESC), hệ thống pháp lý thiếu quy định thống
nhất cho hoạt động kế toán khu vực công, những
yếu kém trong quản lý tài chính công, hế thống cung
cấp tài chính, các loại hình kinh tế. Đồng thời bài
viết này cũng sử dụng các mô hình PESC để chỉ ra
yếu tố môi trƣờng cũng ảnh hƣởng đến các tiêu

[13]


chuẩn kế toán trong SADC. Phân tích này cũng cho
thấy rằng không có mối liên hệ giữa các yếu tố môi

Model For

Government

ở khu vực công, mở

thâm hụt ngân sách, những yếu kém trong quản lý

Successful

al Financial

rộng sang các nƣớc

tài chính công dẫn đến tình trạng tham nhũng, tỷ lệ

Implementation

Managemen

đang phát triển, xây

lạm phát cao, những hạn chế về trình độ chuyên

Of Accounting In

t. Public

dựng mô hình các


Environmental
Factor in China's

The

Zhang

Financial

Erasmus

(2005)

Accounting

University,

Development

Rotterdam

since 1949

thống kế toán ở mỗi

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phát triển kế toán

quốc gia, đồng thời

của Trung Quốc chịu ảnh hƣởng mạnh mẽ bởi các


tổng quan về quá

M.Karia

Nations: Reform,

Workshop,

trình hƣớng đến việc

(2007)

Progress,

New York

áp dụng IPSAS ở

Outlook

Liên hiệp quốc.

đổi sang IPSAS, những thách thức Chính phải đối
mặt và đề xuất những việc quan trọng cần làm theo
từng khoảng thời gian cụ thể góp phần hỗ trợ việc
chuyển đổi áp dụng IPSAS. Đồng thời bài viết cũng
chỉ ra những nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng
IPSAS nhƣ: trình độ nguồn nhân lực, những yếu
kém trong quản lý tài chính công, kỹ thuật để

để áp dụng IPSAS và

challenges and

adoption-of-

xu hƣớng cải cách

the way forward

ipsas.pdf

mạnh mẽ của nhiều
quốc gia theo hƣớng
áp dụng IPSAS.

những thách thức mà Ghana phải đối mặt để áp
dụng IPSAS bao gồm:
(1) Chi phí để thực hiện, theo đó kinh phí cho giáo
dục và đào tạo chiếm một phần đáng kể trong tổng
chi phí thực hiện.
(2) Hạn chế về trình độ nguồn nhân lực đáp ứng yêu
cầu IPSAS.
(3) Những phức tạp từ việc chuyển đổi ngôn ngữ,
thuật ngữ của IPSAS.
(4) Khó khăn để thực hiện kế toán cơ sở dồn tích.
(5) Hạn chế từ hệ thống công nghệ thông tin.
Nghiên cứu đã tìm ra các nguyên nhân ảnh hƣởng
quá trình áp dụng kế toán ở khu vực công bao gồm:
(1) Khu vực tƣ nhân nhỏ đã không đƣợc hỗ trợ trong


Darwin

dồn tích, nghiên cứu

con số chi phí đầy nghi vấn.

Northern

University

thực tiễn và kinh

(3) Ngân sách dồn tích đã không đƣợc sử dụng hợp

territory

nghiệm tại các quốc

lý do đó nó đã thất bại trong việc đạt đƣợc mục tiêu

experience

gia thuộc khu vực

của mình.

lãnh thổ Bắc Úc.

Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy quá trình cải

tìm ra các yếu tố ảnh

IFMIS của Chính phủ Kenya, thiếu khung pháp lý

public sector

of Nairobi

hƣởng đến việc thực

và nền chính trị yếu kém, thất bại của Quốc hội ban

hiện IPSAS ở Kenya.

hành Luật quản lý tài chính mới 2004 để thừa nhận

accounting
standards in

IPSAS, thiếu cán bộ đƣợc đào tạo và có thẩm quyền

Kenya

về việc thông qua hệ thống IPSAS của Báo cáo tài
chính, công việc điều phối và tƣ vấn, chiến lƣợc
truyền thông, trình độ ứng dụng CNTT, trợ giúp từ
các tổ chức quốc tế và các chuyên gia nƣớc ngoài.

[15]


Nghiên cứu tìm ra rằng kinh tế, chính trị, công nghệ,

quá trình thể chế hóa

năng lƣợng, thói quen cũ, kỹ thuật chuyển đổi sang

hệ thống kế toán dồn

kế toán dồn tích là những nhân tố có ảnh hƣởng đến

tích ở khu vực công

quá trình này.

Indonesia.
Đánh giá những lợi
thế và bất lợi của

Application of

University

IPSAS Standards

of Tampere,

Lê Thị

to the


cùng

với

những ảnh hƣởng của
IPSAS đến các mức
độ vận dụng khác
nhau tại các quốc gia,
đồng thời khảo sát
thực trạng các chế độ
kế toán thuộc khu
vực công Việt Nam,
phân tích những khác
biệt so với IPSAS.

Nghiên cứu tìm ra các hạn chế ảnh hƣởng đến việc
vận dụng IPSAS bao gồm:
(1) Khó khăn trong tổng hợp các dữ liệu về ngân
sách quốc gia cho kế toán công đƣợc thực hiện bởi
nhiều cơ quan khác nhau và chƣa có quy định thống
nhất; các thông tin kế toán không cung cấp đủ cơ sở
để đánh giá tình hình tài chính của Chính phủ do
việc sử dụng cơ sở kế toán của các đơn vị công khác
biệt nhau.
(2) Nhân lực của Việt Nam chƣa trang bị hiểu biết
một cách đầy đủ về IPSAS.
(3) Nguồn lực tài chính thực hiện dự án còn hạn chế.
(4) Hệ thống công nghệ thông tin không đạt yêu cầu
để thực hiện IPSAS.
Nghiên cứu cho thấy việc hợp thức hóa áp dụng


(IPSAS): The

IPSAS ở Tây Ban Nha bao gồm sự kết hợp của các
nhân tố: Tính hợp pháp của IPSAS, xu hƣớng thế
giới áp dụng IPSAS, sự ra đời của IPSAS, nhận thức
về IPSAS, sự phù hợp với xu hƣớng cải cách kế toán
công trên thế giới, vai trò của Quốc hội và các cơ
quan Chính phủ, sự thống trị của kế toán doanh

case of Spain

nghiệp, trình độ ứng dụng CNTT.
Tác giả nói rõ nhu cầu cần một hệ thống áp dụng
chung để hòa hợp khu vực tƣ nhân và khu vực công
đồng thời nâng cao chất lƣợng của BCTC. Tác giả
đã liệt kê các lợi ích của việc áp dụng IPSAS và

Department
of
Ahmad

IPSAS: Issues,

Accounting

Bello

Challenges and


ích, lộ trình và sự giám sát chặt chẽ của Chính phủ.

[16]


Nghiên cứu tìm ra các nguyên nhân ảnh hƣởng đến
Cung cấp một bức
International

Bellanca
(2014)

tranh toàn cảnh về
độ

Public Sector

Journal of

mức

Accounting

Modern

IPSAS

Standards

Accounting


dụng

khác

nhau
ảnh

nhân

của Liên minh Châu
Âu.

quá trình áp dụng IPSASs ở các quốc gia thành viên
của Liên minh Châu Âu bao gồm:
(1) Vai trò của Chính phủ trong thiết lập hệ thống
pháp lý.
(2) Sự khác biệt trong áp dụng cơ sở kế toán giữa
các quốc gia, trong khi một số nƣớc đang tích cực
hiện đại hóa các phƣơng pháp kế toán để thực hiện
kế toán trên cơ sở dồn tích thì cũng có một số nƣớc
sử dụng hệ thống kế toán truyền thống, áp dụng kế
toán trên cơ sở tiền mặt.
(3) Việc thiếu hẳn một đạo luật chi phối cho việc áp
dụng cơ sở kế toán dồn tích cũng làm cản trở việc
hài hòa với IPSAS.

https://www
.icpak.com/
Implication of


of-IPSAS-

Management and

on-County-

Reporting

FinancialMagtpdf.pdf

Bài viết nói rõ về
mục tiêu của IPSAS;

Quá trình của việc áp dụng IPSAS sẽ đƣợc hỗ trợ

ảnh hƣởng của việc

bởi các nhân tố chính sau đây:

áp dụng IPSAS; so

(1) Vai trò của Quốc hội và các cơ quan Chính phủ

sánh hệ thống hiện tại

(2) Trình độ nguồn nhân lực

và IPSAS; một vài


Nghiên cứu về những yếu tố thuận lợi cho việc vận dụng IPSAS tại các quốc gia, một
số tác giả nhất trí rằng mức độ lan tỏa và tính hợp pháp của IPSAS sẽ tạo nên những thuận
lợi cho việc vận dụng IPSAS. Theo đó, IPSAS tạo nên cơ sở nền tảng cho việc đánh giá tình
hình tài chính đƣợc thừa nhận rộng rãi trên phạm vi quốc tế (Brusca và cộng sự, 2013). Tiếp
đó, sự ủng hộ từ Chính phủ và sự đồng thuận từ các cấp chính quyền, việc đầu tƣ ứng dụng
công nghệ thông tin tiên tiến, trình độ chuyên môn cao cộng thêm nhận thức về sự đổi mới
của lực lƣợng cán bộ quản lý và những ngƣời làm kế toán cũng tạo nên thuận lợi cho việc
vận dụng IPSAS… (Aboagye, 2007). Ngoài ra, hệ thống quản lý tài chính hiện hành tạo
điều kiện thuận lợi cho việc vận dụng IPSAS, theo đó một khuôn khổ pháp lý phải đƣợc
[17]


thiết lập, cụ thể cần thiết quy định IPSAS là cơ sở của việc thực hiện các Báo cáo tài chính
của Chính phủ. IPSAS phải đƣợc chấp nhận bởi tất cả các bên liên quan bao gồm cả Quốc
hội, Kho bạc, cơ quan Chính phủ, các đối tác phát triển IPSAS (Hamisi, 2012).
Bàn về những nhân tố tác động đến việc cải cách hệ thống kế toán và vận dụng IPSAS
đƣợc nhiều tác giả quan tâm. Trƣớc hết, Boolaky (2003) trên cơ sở tổng hợp và phát triển
các nghiên cứu về những nhân tố ảnh hƣởng đến hệ thống kế toán và thông qua việc thử
nghiệm đa thức bằng mô hình PESC (Political, Economic, Social, Cultural) ứng dụng tại
Nam Phi, tác giả đã chứng minh rằng khi phát triển các chuẩn mực kế toán của một nƣớc
hay khi vận dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế cần xem xét các nhân tố bao gồm: Hệ
thống chính trị và pháp lý, kinh tế, xã hội và văn hóa. Trong khi đó, nghiên cứu của Ouda về
cải cách kế toán công để áp dụng kế toán dồn tích đối với các nƣớc đang phát triển thì các
nhân tố đƣợc phát hiện bao gồm 11 nhân tố nhƣ đã đề cập ở mô hình trên. Từ mô hình của
Ouda kết hợp với lý thuyết dự phòng của Luder (1992), Hamisi (2012) thông qua nghiên
cứu thực nghiệm đã khẳng định 11 nhân tố này thực sự tác động đến việc vận dụng IPSAS
tại Kenya. Tiếp theo đó, nghiên cứu của Zhang (2005) trên cơ sở phân tích các giai đoạn
phát triển của kế toán và những nhân tố ảnh hƣởng đến sự phát triển của hệ thống kế toán
Trung Quốc, tác giả đã chỉ ra 7 nhân tố bao gồm: chính trị, quốc tế, kinh tế, văn hóa, luật
pháp, giáo dục và tính chuyên nghiệp.

có ảnh hƣởng đáng kể đến việc vận dụng IPSAS. Theo đó, nếu nhân viên không đƣợc đào
tạo đầy đủ về IPSAS thì họ không hiểu hoặc không thể thực hiện các báo cáo dựa trên
IPSAS, việc nâng cao trình độ học vấn và sự chuyên nghiệp sẽ tăng cƣờng mức độ thực hiện
IPSAS (Hamisi, 2012; Bello, 2013; Irina, 2013; Aboagye, 2007).
Vấn đề về công nghệ thông tin là một nội dung đƣợc nhiều nghiên cứu đề cập, theo
Karia (2007), để đáp ứng yêu cầu của IPSAS, cần thiết nâng cấp hệ thống công nghệ thông
tin kế toán để cung cấp kịp thời báo cáo tài chính theo IPSAS (Hamisi, 2012; Bello, 2013;
Aboagye, 2007). Theo đó, cần tái cấu trúc hệ thống công nghệ thông tin khu vực công để
thực hiện các báo cáo, thống nhất phần mềm sử dụng tại các đơn vị công để đảm bảo thông
tin cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin đƣợc cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp thời, ngoài ra
cần thiết lập hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ERP (Irina, 2013).
Nhân tố truyền thông có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền hiểu biết, nhận thức
cho việc vận dụng IPSAS, theo đó các kênh thông tin qua sách báo, tạp chí, các hội nghị,
hội thảo sẽ làm cho nhân viên hiểu rõ nguồn gốc của IPSAS, mục tiêu và các yêu cầu cho
việc ứng dụng IPSAS (Hamisi, 2012). Song song đó, việc điều phối và tƣ vấn cần thực hiện
thƣờng xuyên, giữa điều phối viên và ngƣời thực hiện sẽ hỗ trợ cho việc vận dụng IPSAS,
trong đó những ngƣời tham gia tƣ vấn phải là cơ quan điều phối viên cho IPSAS (Hamisi,
2012). Ngoài ra, nhiều tác giả đồng tình rằng chi phí thực hiện là một nhân tố có ảnh hƣởng
quan trọng đến việc vận dụng IPSAS. Chi phí để thực hiện IPSAS là rất cao, Chính phủ
không thể tài trợ cho các dự án IPSAS một mình, vì vậy cần có sự hỗ trợ từ các tổ chức tài
chính quốc tế (Hamisi, 2012; Aboagye, 2007). Các nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò
[19]


của Chính phủ và việc thiết lập một lộ trình chặt chẽ để thực hiện cũng là các nhân tố quan
trọng trong ứng dụng IPSAS tại quốc gia, theo đó cần thiết có sự hỗ trợ và giám sát của
quản lý cấp cao và hỗ trợ từ các kiểm toán viên bên ngoài (Mbaya, 2014).
Tóm lại, thông qua những quan điểm của các nhà nghiên cứu trƣớc, tác giả lựa chọn và
kế thừa nghiên cứu của 3 tác giả bao gồm: Thứ nhất, Boolaky (2003) cho rằng khi phát triển
các chuẩn mực kế toán hay vận dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế cần xem xét các nhân


trị và môi trƣờng

pháp lý

hoạt động

Boolaky (2003)

Kỹ thuật
nghiệp vụ

X

Ouda (2004)

X

X

X

X

Zhang (2005)

X

X


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status