Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến việc dưới giá cổ phiếu IPO trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
 HOÀNG MINH PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN VIỆC ĐỊNH DƯỚI GIÁ CỔ PHIẾU IPO
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN THỊ THÙY LINH

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học do bản thân tôi thực
hiện dựa trên những tài liệu tham khảo thu thập được.
Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ
ràng. Tác giả luận văn

1.3.2. Đối tượng nghiên cứu 2
1.4.

Phương pháp nghiên cứu 2

1.5.

Tính mới của đề tài 2

1.6.

Bố cục của Luận văn 3

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 4
2.1.

Khung lý thuyết nghiên cứu 4

2.1.1.

Lý thuyết định thời điểm thị trường
4
2.1.2.

Các lý thuyết và giả thuyết liên quan đến định dưới giá
5
2.2.

Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây 8


3.6.

Giả thiết nghiên cứu 24

3.6.1. Vốn giữ lại và mức độ định dưới giá 24
3.6.2. Bảo lãnh phát hành và mức độ định dưới giá 25
3.6.3. Tỉ lệ mua vượt mức và mức độ định dưới giá 26
3.6.4. Độ trễ niêm yết và mức độ định dưới giá 26
3.6.5. Giá khởi điểm và mức độ định dưới giá 27
3.6.6. Thời gian hoạt động của công ty và mức độ định dưới giá 28
3.6.7. Quy mô công ty và mức độ định dưới giá 28
3.6.8. Quy mô phát hành và mức độ định dưới giá 28
3.7.

Phương pháp kiểm định mô hình 29

3.7.1. Thống kê mô tả 29
3.7.2. Hồi quy tuyến tính - phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) 29
3.7.3. Kiểm định đa cộng tuyến 30
3.7.4. Kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy (kiểm định F) 31
CHƯƠNG 4: NỘI DUNG VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
4.1.

Thực trạng IPO trong giai đoạn 2005 – 2012 tại Việt Nam 33

4.2.

Phân tích thống kê mô tả các biến 35

4.2.1. Phân tích thống kê mô tả các biến phụ thuộc 35

Phụ lục 1: Bảng thống kê các nghiên cứu của các nước về định dưới giá IPO
Phụ lục 2: Dữ liệu thu thập & tính toán

Phụ lục 3: Kết quả hồi quy mô hình 3.3.1 bằng Eview đối với mức định dưới
giá 3 ngày đầu sau niêm yết

Phụ lục 4: Kết quả hồi quy mô hình 4.3.1 bằng Eview (thêm biến beta) với mức
định dưới giá 3 ngày đầu sau niêm yếtDANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT VIẾT TẮT NỘI DUNG
1 IPO Initial Public Offering - Phát hành lần đầu ra công
chúng
2 TSSL Tỉ suất sinh lợi
3 Capret Vốn giữ lại
4 Undps Bảo lãnh phát hành
5 Over Tỉ lệ mua vượt mức
6 LDel Độ trễ niêm yết
7 LPrice Giá khởi điểm
8 LAge Thời gian hoạt động của công ty
9 FSize Quy mô công ty
10 OSize Quy mô phát hành IPO
11 Beta Rủi ro công ty
12 SEO Phát hành bổ sung
13 HSX Sở Giao dịch chứng khoán TPHCM
14 HNX Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội
14 SCIC Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước


& F
α
trong trường hợp MAR1-> MAR3 sau khi
thêm biến beta
4.3.8 Kết quả ước lượng phương trình hồi quy (4.3.1)
4.4.1 So sánh kết quả nghiên cứu tại Việt Nam với bài gốc của
Boudriga &
cộng
sự (2011) và một số bài nghiên cứu khác
PL1.1 Bảng thống kê các nghiên cứu ở các nước về định dưới giá IPO
PL2.1 Dữ liệu các biến phụ thuộc
PL2.2 Dữ liệu các biến độc lập
PL3 Kết quả hồi quy mô hình 3.3.1 bằng Eview đối với mức định dưới giá
3 ngày đầu sau niêm yết
PL4 Kết quả hồi quy mô hình 4.3.1 bằng Eview (thêm biến giả Beta) với
mức định dưới giá 3 ngày đầu sau niêm yết
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Đồ thị NỘI DUNG
4.1.1 Số lượng công ty nhiêm yết trong giai đoạn 2005 – 2012
4.2.1 Mức độ định dưới giá ngày đầu của các công ty trong mẫu
4.2.1a
4.2.1b
Các công ty có tỉ suất sinh lợi ngày đầu điều chỉnh thị trường dương
Các công ty có tỉ suất sinh lợi ngày đầu điều chỉnh thị trường âm

TÓM TẮT


nghiên cứu trên 49 nước và thấy rằng mức độ định dưới giá IPO dao động từ một
vài phần trăm tại Mỹ đến 264.5% tại Saudi Arabia (xem chi tiết trong Phụ lục 1 –
bảng thống kê các nghiên cứu ở các nước của Loughran và cộng sự, 2013).
Tuy nhiên, trong quá trình tìm kiếm các bài nghiên cứu về định dưới giá IPO
tại Việt Nam, tác giả thấy rất ít các bài nghiên cứu viết về IPO tại Việt Nam cũng
như mức độ định dưới giá IPO được đăng trên các tạp chí chuyên ngành kinh tế tại
Việt Nam cũng như trên thế giới. Do đó cần phải có nghiên cứu về mức độ định
dưới giá cổ phiếu IPO và tìm ra các nhân tố chính tác động đến tỉ suất sinh lợi
trong ngắn hạn cũng như hàm ý về chiến lược đầu tư vào cổ phiếu IPO trong ngắn
hạn trên thị trường chứng khoán Việt Nam, qua đó tác giả đề xuất một số cải cách
đối với các nhà hoạch định chính sách có liên quan đến thị trường chứng khoán
nói chung và IPO nói riêng.
1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu:
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc định dưới giá cổ phiếu
IPO trong ngắn hạn trên thị trường chứng khoán Việt Nam, cụ thể là các nhân tố:
vốn giữ lại, bảo lãnh phát hành, tỉ lệ mua vượt mức, độ trễ niêm yết, giá khởi điểm,
thời gian hoạt động của công ty IPO, quy mô công ty, quy mô phát hành …có tác
động đến mức độ định dưới giá (TSSL điều chỉnh sau niêm yết) hoặc các nhân tố
này có thể giải thích được bao nhiêu phần trăm trong TSSL điều chỉnh những ngày
đầu sau niêm yết.

2
1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu
- Định dưới giá IPO được đo lường bằng cách nào?
- Định dưới giá IPO trên thị trường chứng khoán Việt Nam bị tác động bởi
các nhân tố kinh tế nào?
- Mức độ tác động của từng nhân tố kinh tế (cụ thể là: vốn giữ lại, bảo lãnh
phát hành, tỉ lệ mua vượt mức, độ trễ niêm yết, giá khởi điểm, thời gian hoạt
động của công ty IPO, quy mô công ty, quy mô phát hành) đến định dưới giá

- Mở rộng nghiên cứu bằng cách kiểm tra mức độ ảnh hưởng của nhân tố rủi
ro công ty đến mức độ định dưới giá.
1.6. Bố cục của Luận văn
Luận văn được chia thành 5 chương với bố cục như sau:
- Chương 1: Giới thiệu
- Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
- Chương 4: Nội dung và các kết quả nghiên cứu
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Tóm lại, trong Chương 1, tác giả trình bày sơ lược về lý do chọn đề tài, mục tiêu
nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu và phương pháp
nghiên cứu. Đồng thời tác giả cũng trình bày tính mới của đề tài và bố cục của Luận
văn để người đọc có một cái nhìn bao quát về đề tài nghiên cứu về định dưới giá
IPO trong ngắn hạn của tác giả.

4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

2.1.

Khung lý thuyết nghiên cứu
2.1.1.

Lý thuyết định thời điểm thị trường
Lý thuyết thời điểm thị trường (Market timing theory)

do Baker và Wrugler
(2002) đề xuất
, là một lý thuyết mô tả cách mà các công ty trong nền kinh tế
quyết định đầu tư bằng vốn chủ sở hữu hoặc sử dụng nợ. Lý thuyết này trái

với nghiên cứu về “thị trường
những quả chanh”
1
. Tác giả cho rằng những thị trường hàng hóa tại đó người
bán biết sự tồn tại thông tin bất cân xứng nên cố gắng mạo hiểm bán hàng cũ,
chất lượng kém với giá như hàng hóa có chất lượng tốt. Người mua cũng biết
sự tồn tại này nên cố gắng chọn mua hàng hóa cũ với giá trung bình với lập
luận rằng trong trường hợp bị mắc lừa thì cũng không đến nỗi thiệt hại lắm.
Hậu quả là những người có hàng cũ, chất lượng tốt không bán được giá cao sẽ
rút khỏi thị trường, dần dần thị trường sẽ còn lại hàng cũ, chất lượng kém (vỏ
chanh) dẫn đến lựa chọn bất lợi (adverse selection). Bất cân xứng thông tin còn
gây ra hiện tượng tâm lý ỷ lại (moral hazard), sau khi hợp đồng được ký nhưng
một bên có hành động che đậy thông tin mà bên kia khó lòng kiểm soát, hoặc
muốn kiểm soát thì cũng phải tốn kém chi phí.
Mô hình được biết đến nhiều nhất trong lý thuyết bất cân xứng thông tin là
mô hình “Winner’s Curse” của Rock (1986). Rock cho rằng định dưới giá được
sử dụng nhằm thu hẹp khoảng cách thông tin giữa các bên khác nhau tham gia
vào quá trình IPO và định dưới giá nhằm thưởng cho các nhà đầu tư biết thông
tin bí mật. Nhà đầu tư nhỏ lẻ không có thông tin có thể gặp phải vấn đề
“Winner’s curse”. Họ có thể mua được những cổ phiếu có TSSL thấp trong
ngày giao dịch đầu tiên hoặc họ có thể không mua được những cổ phiếu mà có
TSSL cao trong ngày giao dịch đầu tiên bởi vì nhu cầu thị trường cao cho
những đợt IPO này. Như vậy những nhà đầu tư nhỏ lẻ không có thông tin
không thể tận dụng lợi thế vốn có trong những đợt IPO định dưới giá. Bên cạnh
đó, những nhà đầu tư này có thể không hiểu đầy đủ các yếu tố nguy cơ được
liệt kê trong các tài liệu IPO được cung cấp.

1

The market for "lemons": Quality uncertainty and the market mechanism

mọi người lựa chọn giữa lựa chọn thay thế theo xác suất có liên quan đến rủi
ro, khi biết được kết quả của xác suất. Lý thuyết nói rõ rằng mọi người đưa ra
quyết định dựa trên giá trị tiềm năng của lỗ và lời chứ không phải dựa trên kết
quả cuối cùng, và mọi người đánh giá lời, lỗ bằng kinh nghiệm, và tìm giải
pháp qua thử nghiệm sau đó rút tỉa khuyết điểm. Loughran và Ritter (2002) áp
dụng lý thuyết này trong nghiên cứu về IPO của mình. Nhóm tác giả thấy rằng
các công ty IPO tại Mỹ trong giai đoạn 1990-1998 thu về 8 tỉ USD trong đợt

2
Job Market Signaling. The Quarterly Journal of Economics, Vol. 87, No. 3. (Aug., 1973), pp.
355-374
3
Signaling by upderpricing in the IPO market. Journal of Financial Economics. Vol 23, 1989, pp
303-323
4

Prospect Theory: An Analysis of Decision under Risk.
Journal of the Econometric Society
, Vol
47(2): 263-292

7
IPO mặc dù họ trả cho tổ chức bảo lãnh phát hành đến 13 tỉ, vì họ có thể thu về
27 tỉ USD do giá tăng chỉ sau một vài ngày niêm yết đầu tiên. Điều này làm
cho Loughran và Ritter đề xuất một mô hình lý thuyết triển vọng về định dưới
giá. Mô hình này cho rằng các công ty phát hành IPO chấp nhận định dưới giá
bởi vì họ nhìn thấy một triển vọng giá giao dịch cao hơn sau vài ngày đầu niêm
yết, vì vậy sẽ bù đắp tổn thất của họ do IPO dưới giá và trong thực tế họ đạt
được kết quả là lợi nhuận ròng tăng đáng kể. Quan trọng hơn là nhóm tác giả
phát hiện ra rằng hầu hết các công ty IPO đều định giá sát với giá trị thực. Một

có thái độ khác nhau đối với rủi ro. Vì mức chịu rủi ro khác nhau, cổ đông và
người đại diện có thể bị tác động dẫn đến những hành động khác nhau.
Các lý thuyết và giả thuyết về mức định dưới giá IPO đã được đưa ra và
kiểm chứng với các dữ liệu ở nhiều thị trường chứng khoán khác nhau. Tuy
nhiên, không có một lý thuyết hay giả thuyết riêng lẻ nào có thể giải thích tỉ
suất sinh lợi những ngày đầu của các công ty mới niêm yết trong ngày giao
dịch đầu tiên (Jenkinson và Ljungqvist, năm 2001; Ritter và Welch.I, 2002).
2.2.

Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây
Một số nghiên cứu thực nghiệm ghi nhận sự tồn tại của hiện tượng định dưới
giá trong cổ phiếu lần đầu phát hành ra công chúng (IPO) ở các công ty mới niêm
yết trong những ngày đầu giao dịch trên nhiều quốc gia và thị trường vốn. Khuynh
hướng nghiên cứu chủ yếu là nghiên cứu định dưới giá trong ngắn hạn hoặc kết
hợp cả ngắn và dài hạn.
2.2.1. Các nghiên cứu thực nghiệm về định dưới giá IPO trong ngắn hạn
Su và Fleisher (1997),

nghiên

cứu 308 công ty IPO từ 1986-1996 và tìm thấy
TSSL ngày đầu rất cao 948.59%. Tác giả dùng mô hình hồi quy 2SLS với các
biến nghiên cứu: giá khởi điểm, lợi nhuận trước năm IPO, thời gian hoạt động
của công ty, độ trễ niêm yết
,
nguồn thu từ đợt IPO
,
TSSL sau 2 tuần giữ cổ
phiếu
,

có định dưới giá ở mức 22% trong ngày đầu sau niêm yết. Tác giả tìm mối quan hệ
các giữa biến độc lập và mức độ định dưới giá trong thời gian 1 tháng sau niêm yết
bằng hồi quy OLS. Chỉ có 41.82% công ty trong mẫu có TSSL dương sau 1 tháng
niêm yết. Tác giả thấy có tương quan dương giữa mức độ định dưới giá với độ trễ
niêm yết, tỉ lệ mua vượt mức, các biến còn lại trong mô hình không thể hiện mức ý
nghĩa.
Bozzolan và Ipino (2007) nghiên cứu 85 công ty IPO trong giai đoạn 1999 - 2005
trên thị trường chứng khoán Ý. Mối liện hệ giữa định dưới giá và các biến độc lập
được đo lường bằng phương pháp hồi quy OLS. Tác giả tìm thấy mối tương quan âm
giữa mức độ định dưới giá và lượng thông tin được công bố trong bản cáo bạch IPO
và tương quan dương giữa mức độ định dưới giá và số lượng các nhân tố rủi ro được
tiết lộ. Kết quả của tác giả cho thấy rằng việc sử dụng thông tin công bố trong bản cáo
bạch IPO là có lợi, ngay cả khi các nhà quản lý của công ty phát hành sử dụng các
công cụ khác để báo hiệu cho thị trường về chất lượng IPO, chẳng hạn như việc lựa
chọn tổ chức bảo lãnh có uy tín cao, một công ty kiểm toán độc lập lớn.
Boudriga & cộng sự (2011) tìm thấy tỉ suất sinh lợi điều chỉnh thị trường trong
ngày giao dịch đầu tiên của 34 công ty IPO ở thị trường chứng khoán Tunisia là
17,8% trong giai đoạn 1992-2008. Tác giả dùng mô hình hồi quy OLS để xem xét
mối quan hệ giữa các biến: vốn giữ lại, bảo lãnh phát hành, tỉ lệ mua vượt mức, độ
trễ niêm yết, giá khởi điểm, thời gian hoạt động của công ty, quy mô công ty, quy

10
mô phát hành, biến rủi ro ngành với mức định dưới giá.
Tác giả kết luận rằng các
nhân tố có mức ý nghĩa ảnh hưởng đến định dưới giá là: vốn giữ lại, bảo lãnh
phát
hành, tỉ lệ mua vượt mức, độ trễ niêm yết và giá khởi điểm.
Nhìn chung, kết
quả cho thấy các nhà đầu tư dựa chủ yếu vào thông tin bên lề để tính giá các
cuộc IPO.


u th

c nghi

m v


đị
nh d
ướ
i giá IPO k
ế
t h

p c

ng

n và
dài h

n
Ritter J, R. (1991)

nghiên cứu trên mẫu 1,526 công ty IPO ở Mỹ từ 1975–1984.
Tác giả ước lượng TSSL những ngày đầu khoảng 16.4% bằng mô hình hồi quy
OLS. Kết quả là tác giả thấy có sự bất thường trong TSSL dài hạn và định giá cao
trong mẫu các công ty IPO ở Mỹ, nhưng không tìm thấy mối quan hệ giữa TSSL
ngắn hạn và TSSL dài hạn.

Kerins F.& cộng sự (2007) nghiên cứu trên mẫu 321 cuộc IPO tại Nhật từ 1995
-> 10/1997. Tác giả dùng mô hình hồi quy 2SLS, các biến trong mô hình hồi quy:
tỉ lệ mua vượt mức, tỉ lệ giá khởi điểm/ giá đấu thầu tối thiểu, vốn giữ lại, giá khởi
điểm, thời gian hoạt động của công ty IPO, quy mô công ty IPO, quy mô phát hành,
bảo lãnh phát hành, doanh thu công ty, lượng nhân viên. Ông tìm thấy mức định
dưới giá trong mẫu nghiên cứu là 8,59% trong đó 81% các cuộc IPO có TSSL ban
đầu dương.

12
Mức độ định dưới giá ở thị trường các nước mới nổi cao hơn so với thị
trường các nước phát triển. Một số nghiên cứu nhấn mạnh rằng IPO ở Trung
Quốc hưởng TSSL ngày đầu cao nhất thế giới.
Chan và cộng sự (2001) nghiên cứu về định dưới giá trong ngắn và dài hạn và
TSSL trên mẫu 570 cổ phiếu công ty IPO nhóm A (cổ phiếu do các nhà đầu tư
trong nước nắm giữ) và 39 cổ phiếu công ty IPO nhóm B (cổ phiếu tại Trung
Quốc Đại lục do các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ) trên thị trường chứng
khoán Thượng Hải trong giai đoạn 1993-1998. Bằng cách sử dụng hồi quy tuyến
tính gồm các biến: độ trễ niêm yết, lượng cổ phiếu phát hành, số lượng các nhà
đầu tư, tỉ lệ phầm trăm giữ lại cổ phiếu của công ty IPO (công ty sở hữu nhà
nước thường giữ lại 50-70% cổ phiếu) và các biến kiểm soát
.
Nhóm tác giả tìm
thấy mức định dưới giá ở các công ty IPO nhóm A là 178% trong khi nhóm B là
11,6%. Định dưới giá cổ phiếu nhóm A có mối tương quan dương với độ trễ
niêm yết và số lượng các nhà đầu tư tham gia đấu giá tại nơi IPO, tương quan âm
với số lượng cổ phiếu phát hành trong đợt IPO, ngược lại không có biến nào giải
thích được mức định dưới giá của cổ phiếu nhóm B (cổ phiếu do các nhà đầu tư
trong nước nắm giữ).
Chi và Padgett (2002)


ty IPO tại Trung Quốc từ 07/2006 – 4/2008, tác giả thấy mức định dưới giá ngày
đầu dao động trong khoảng 157% - 538%. Trong ngắn hạn, tác giả thấy rằng
TSSL trước niêm yết dương không dẫn đến mức định dưới giá cao hơn như dự
đoán của lý thuyết đại diện, mà TSSL này làm giảm mức định dưới giá. Điều này
chứng tỏ rằng tổ chức phát hành và bảo lãnh phát hành có thể định giá cao khi
khi tâm lý chung trên thị trường là hứng khởi. Trong dài hạn, TSSL là dưới mức
trung bình. Chỉ có IPO định giá cao trong TSSL ngày đầu sau niêm yết có thể
được dùng để dự đoán TSSL thấp trong dài hạn.
2.2.4.

Các nhân t



nh h
ưở
ng
đế
n
đị
nh d
ướ
i giá
Khi tham khảo các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về những nhân tố ảnh
hưởng đến mức định dưới giá, tác giả thấy có các nhân tố ảnh hưởng như:
Vốn giữ lại: Theo nghiên cứu của
Philip J. Lee & cộng sự (1999); Chan và
cộng sự (2001); Boudriga & cộng
sự (2011), vốn giữ lại có tương quan dương hoặc
âm với mức độ định dưới giá. Bằng thực nghiệm, Philip J. Lee & cộng sự (1995) tìm

;
Yan Gao (2009); Boudriga & cộng
sự
(2011). Các nghiên cứu thể hiện tương quan dương giữa nhân tố này và mức định
dưới giá tại mức ý nghĩa 1% là: Kerins F.& cộng sự (2007),

Pande.A và
Vaidyanathan.R (2007),
Agarwal và các cộng sự (2008). Các nghiên cứu cũng thể
hiện tương quan như kỳ vọng
nhưng với mức ý nghĩa 5% đó là
Yan Gao (2009)
trong ngày đầu niêm yết; Boudriga & cộng
sự (2011) với mức độ định dưới giá
trong ngày thứ 2 và 3 sau niêm yết.
Độ trễ niêm yết: Theo nghiên cứu

Mok và Hui (1998) và Su và Fleischer (1999),
Chan và cộng sự (2001),
Pande.A và Vaidyanathan.R (2007)
, Boudriga & cộng sự
(2011), độ trễ niêm yết tương quan dương với mức định dưới giá và có ý nghĩa
thống kê.
Trái ngược với các nghiên cứu trên, trong nghiên cứu của Philip J. Lee &
cộng sự (1995), độ trễ niêm yết có tương quan âm với mức độ định dưới giá ở mức
ý nghĩa 1%; Megginson và Tian (2006) tìm thấy rằng trễ một ngày trong việc phát
hành cổ phiếu làm TSSL ngày đầu tăng 0,4% ở Trung Quốc, nguyên nhân là do độ

15
trễ dài bất thường trong quá trình niêm yết ở Trung Quốc (hơn 10 tháng).

Tác giả thấy có mối quan hệ ngược chiều giữa hai nhân tố
này với mức ý nghĩa 5% trong nghiên cứu của Liu Ti (2003), Kerins F.& cộng sự
(2007) cũng tìm thấy tương tự nhưng mức ý nghĩa thống kê 10%. Ngược lại,
Yan
Gao (2009) khi nghiên cứu tại thị trường Trung Quốc thì thấy nhân tố này tương
quan dương với mức định dưới giá ngày đầu sau niêm yết, với t-statisttic =1,9
(tương đương với mức ý nghĩa 10%).

Trích đoạn Phân tích thống kê mô tả các biến độc lập Phân tích mô hình hồi quy Hướng nghiên cứu tiếp theo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status