Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến việc dưới giá cổ phiếu IPO trên thị trường chứng khoán Việt Nam : Luận văn thạc sĩ - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
----------

HOÀNG MINH PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN VIỆC ĐỊNH DƯỚI GIÁ CỔ PHIẾU IPO
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013


BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
----------

HOÀNG MINH PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN VIỆC ĐỊNH DƯỚI GIÁ CỔ PHIẾU IPO
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
Chuyên ngành

: Tài chính - Ngân hàng

Mã số

Tóm tắt
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ................................................................................... 1
1.1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu: ............................................................ 1
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................. 1
1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu............................................................................... 2
1.3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: ......................................................... 2
1.3.1. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................. 2
1.3.2. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................... 2
1.4. Phương pháp nghiên cứu........................................................................ 2
1.5. Tính mới của đề tài ................................................................................. 2
1.6. Bố cục của Luận văn ............................................................................... 3
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY ...................... 4
2.1. Khung lý thuyết nghiên cứu ................................................................... 4
2.1.1. Lý thuyết định thời điểm thị trường .................................................... 4
2.1.2. Các lý thuyết và giả thuyết liên quan đến định dưới giá ..................... 5
2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây ................................................ 8
2.2.1. Các nghiên cứu thực nghiệm về định dưới giá IPO trong ngắn hạn ........ 8
2.2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về định dưới giá IPO trong dài hạn ........ 10
2.2.3. Các nghiên cứu thực nghiệm về định dưới giá IPO kết hợp cả ngắn và
dài hạn ................................................................................................ 10
2.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến định dưới giá............................................. 13
2.3. Tóm lược các kết quả nghiên cứu ........................................................ 16


CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU & DỮ LIỆU ........................... 19
3.1. Cơ sở chọn mô hình nghiên cứu ........................................................... 19
3.2. Dữ liệu nghiên cứu ................................................................................. 19
3.3. Đo lường định dưới giá IPO .................................................................. 20
3.4. Mô tả và đo lường các biến trong mô hình .......................................... 21


Phân tích mô hình hồi quy .................................................................. 43


4.4. Tổng hợp kết quả nghiên cứu .............................................................. 55
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................... 58
5.1. Kết luận và kiến nghị ............................................................................ 58
5.1.1

Kết luận .............................................................................................. 58

5.1.2

Kiến nghị............................................................................................ 58

5.2. Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo ......................... 59
5.2.1

Hạn chế của luận văn........................................................................... 59

5.2.2

Hướng nghiên cứu tiếp theo ................................................................. 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Danh mục tài liệu tiếng Việt
Danh mục tài liệu tiếng Anh
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Bảng thống kê các nghiên cứu của các nước về định dưới giá IPO
Phụ lục 2: Dữ liệu thu thập & tính toán


Undps

Bảo lãnh phát hành

5

Over

Tỉ lệ mua vượt mức

6

LDel

Độ trễ niêm yết

7

LPrice

Giá khởi điểm

8

LAge

Thời gian hoạt động của công ty

9


HNX

Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội

14

SCIC

Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng
2.3.1
3.3.1
4.1.1
4.2.1
4.2.2
4.2.3
4.3.1
4.3.2
4.3.3
4.3.4
4.3.5
4.3.6
4.3.7
4.3.8
4.4.1
PL1.1

3 ngày đầu sau niêm yết
Kết quả hồi quy mô hình 4.3.1 bằng Eview (thêm biến giả Beta) với
mức định dưới giá 3 ngày đầu sau niêm yết


DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Đồ thị

NỘI DUNG

4.1.1

Số lượng công ty nhiêm yết trong giai đoạn 2005 – 2012

4.2.1

Mức độ định dưới giá ngày đầu của các công ty trong mẫu

4.2.1a

Các công ty có tỉ suất sinh lợi ngày đầu điều chỉnh thị trường dương

4.2.1b

Các công ty có tỉ suất sinh lợi ngày đầu điều chỉnh thị trường âm


TÓM TẮT
Luận văn nghiên cứu nhằm tìm bằng chứng định dưới giá cổ phiếu IPO trên
thị trường chứng khoán Việt Nam trong ngắn hạn bị ảnh hưởng bởi các nhân tố

vài phần trăm tại Mỹ đến 264.5% tại Saudi Arabia (xem chi tiết trong Phụ lục 1 –
bảng thống kê các nghiên cứu ở các nước của Loughran và cộng sự, 2013).
Tuy nhiên, trong quá trình tìm kiếm các bài nghiên cứu về định dưới giá IPO
tại Việt Nam, tác giả thấy rất ít các bài nghiên cứu viết về IPO tại Việt Nam cũng
như mức độ định dưới giá IPO được đăng trên các tạp chí chuyên ngành kinh tế tại
Việt Nam cũng như trên thế giới. Do đó cần phải có nghiên cứu về mức độ định
dưới giá cổ phiếu IPO và tìm ra các nhân tố chính tác động đến tỉ suất sinh lợi
trong ngắn hạn cũng như hàm ý về chiến lược đầu tư vào cổ phiếu IPO trong ngắn
hạn trên thị trường chứng khoán Việt Nam, qua đó tác giả đề xuất một số cải cách
đối với các nhà hoạch định chính sách có liên quan đến thị trường chứng khoán
nói chung và IPO nói riêng.
1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu:
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc định dưới giá cổ phiếu
IPO trong ngắn hạn trên thị trường chứng khoán Việt Nam, cụ thể là các nhân tố:
vốn giữ lại, bảo lãnh phát hành, tỉ lệ mua vượt mức, độ trễ niêm yết, giá khởi điểm,
thời gian hoạt động của công ty IPO, quy mô công ty, quy mô phát hành …có tác
động đến mức độ định dưới giá (TSSL điều chỉnh sau niêm yết) hoặc các nhân tố
này có thể giải thích được bao nhiêu phần trăm trong TSSL điều chỉnh những ngày
đầu sau niêm yết.


2

1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu
-

Định dưới giá IPO được đo lường bằng cách nào?

-

-

Nghiên cứu trong ngắn hạn (từ ngày đầu niêm yết tới ngày thứ 10 sau niêm
yết) mức định dưới giá IPO tại Việt Nam;


3

-

Các biến nghiên cứu tương tự như trong nghiên cứu của Boudriga & cộng
sự (2011) nghiên cứu tại Tunisia nhưng chạy với dữ liệu Việt Nam, để từ
đó phân tích về mức định dưới giá tại Việt Nam và đưa ra nhận định cũng
như gợi ý một số đề xuất để cải tiến thị trường chứng khoán.

-

Mở rộng nghiên cứu bằng cách kiểm tra mức độ ảnh hưởng của nhân tố rủi
ro công ty đến mức độ định dưới giá.

1.6. Bố cục của Luận văn
Luận văn được chia thành 5 chương với bố cục như sau:
-

Chương 1: Giới thiệu

-

Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây


khác, các công ty thường không quan tâm liệu họ sẽ được tài trợ bằng nợ hoặc
vốn chủ sở hữu, họ chỉ cần lựa chọn hình thức tài chính mà tại thời điểm đó,
đem lại giá trị nhiều hơn cho họ trên thị trường tài chính. Baker và Wurgler cho
thấy một chỉ số tài chính phản ánh mức độ tài chính đã được thực hiện trong
thời gian “vốn nóng” và trong thời gian “nợ nóng” là một chỉ số sử dụng đòn
bẩy tốt công ty trong thời gian dài sau đó. Nhóm tác giả đã tìm thấy rằng tác
động của thời điểm thị trường biến mất chỉ sau hai năm, không tìm thấy bằng
chứng trực tiếp rằng các doanh nghiệp nói chung có thể đánh bại thị trường.
Ngay cả đối với các công ty lựa chọn phát hành nhiều cổ phiếu trong nhiều lần
nhất cũng khó có thể bác bỏ giả thuyết rằng thời điểm của các quyết định phát
hành là ngẫu nhiên.
Đôi khi thời điểm thị trường được phân loại như là một phần của tài chính
hành vi, bởi vì nó không giải thích lý do tại sao có tài sản được bị định giá sai,
hoặc lý do tại sao các doanh nghiệp biết khi có sai giá lại tốt hơn trong thị
trường tài chính. Thay vào đó nó chỉ là giả định tồn tại sai giá, và mô tả các
hành vi của các công ty theo giả định là các công ty có thể phát hiện sự sai giá
này tốt hơn so với các thị trường. Tuy nhiên, với chi phí và lợi ích khác nhau,
công ty có khả năng quyết định sử dụng nợ hoặc vốn cổ phần tại thời điểm
khác nhau, tức là doanh nghiệp có thể lợi dụng thị trường đang định giá cao cổ


5

phiếu mà phát hành thêm cổ phiếu gọi vốn.
2.1.2. Các lý thuyết và giả thuyết liên quan đến định dưới giá
Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Information Asymmetry) được biết đến
đầu tiên trong nghiên cứu của GA Akerlof (1970) với nghiên cứu về “thị trường
những quả chanh”1. Tác giả cho rằng những thị trường hàng hóa tại đó người
bán biết sự tồn tại thông tin bất cân xứng nên cố gắng mạo hiểm bán hàng cũ,
chất lượng kém với giá như hàng hóa có chất lượng tốt. Người mua cũng biết

có thể hạn chế rủi ro lựa chọn bất lợi bằng cơ chế phát tín hiệu (signaling).
Allen, F và Faulhaber, G (1989)3 phát triển giả thuyết này dựa trên giả định
rằng các công ty biết về triển vọng của mình tốt hơn so với các nhà đầu tư.
Nhóm tác giả thấy trong một số trường hợp, các công ty muốn phát “tín hiệu”
cho nhà đầu tư về triển vọng tốt trong tương lai của doanh nghiệp, vì thế họ sẽ
định dưới giá IPO. Điều này phù hợp với Ibbotson (1975-trang 264) phỏng
đoán rằng IPO được định dưới giá nhằm để lại ấn tượng tốt cho nhà đầu tư để
những đợt phát hành trong tương lai có thể có giá cao hơn. Welch, I (1989) tiếp
tục chính thức hóa điều này qua mô hình hai giai đoạn, các công ty chất lượng
cao sẽ định dưới giá nhưng các công ty chất lượng thấp sẽ không thể làm như
vậy vì chi phí cao. Grinblat.M và Hwang.C.Y (1989) thêm vào nội dung của lý
thuyết này bằng cách nói rằng các tổ chức phát hành báo tín hiệu chất lượng
cao trong đợt IPO bằng cách định dưới giá cũng như giữ lại một số cổ phần của
công ty trong danh mục đầu tư cá nhân của họ.
Lý thuyết triển vọng (Prospect theory) do Daniel Kahneman và Amos
Tversky (1979) nghiên cứu4, là một lý thuyết kinh tế hành vi mô tả các cách
mọi người lựa chọn giữa lựa chọn thay thế theo xác suất có liên quan đến rủi
ro, khi biết được kết quả của xác suất. Lý thuyết nói rõ rằng mọi người đưa ra
quyết định dựa trên giá trị tiềm năng của lỗ và lời chứ không phải dựa trên kết
quả cuối cùng, và mọi người đánh giá lời, lỗ bằng kinh nghiệm, và tìm giải
pháp qua thử nghiệm sau đó rút tỉa khuyết điểm. Loughran và Ritter (2002) áp
dụng lý thuyết này trong nghiên cứu về IPO của mình. Nhóm tác giả thấy rằng
các công ty IPO tại Mỹ trong giai đoạn 1990-1998 thu về 8 tỉ USD trong đợt
2

Job Market Signaling. The Quarterly Journal of Economics, Vol. 87, No. 3. (Aug., 1973), pp.
355-374
3
Signaling by upderpricing in the IPO market. Journal of Financial Economics. Vol 23, 1989, pp
303-323

đông với các nhà quản lý, và các cổ đông với chủ nợ. Hai vấn đề mà lý thuyết
người đại diện chỉ ra là: 1) Các vấn đề phát sinh khi mong muốn hay mục tiêu
của cổ đông và người đại diện mâu thuẫn nhau, và cổ đông không thể kiểm tra
(vì nó khó khăn và /hoặc tốn nhiều chi phí để thực hiện) những gì người đại
diện đang thực sự làm và 2) các vấn đề phát sinh khi cổ đông và người đại diện
5

Agency theory: An assessment and review. Academy of Management Review, 14(4), 532-550


8

có thái độ khác nhau đối với rủi ro. Vì mức chịu rủi ro khác nhau, cổ đông và
người đại diện có thể bị tác động dẫn đến những hành động khác nhau.
Các lý thuyết và giả thuyết về mức định dưới giá IPO đã được đưa ra và
kiểm chứng với các dữ liệu ở nhiều thị trường chứng khoán khác nhau. Tuy
nhiên, không có một lý thuyết hay giả thuyết riêng lẻ nào có thể giải thích tỉ
suất sinh lợi những ngày đầu của các công ty mới niêm yết trong ngày giao
dịch đầu tiên (Jenkinson và Ljungqvist, năm 2001; Ritter và Welch.I, 2002).
2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây
Một số nghiên cứu thực nghiệm ghi nhận sự tồn tại của hiện tượng định dưới
giá trong cổ phiếu lần đầu phát hành ra công chúng (IPO) ở các công ty mới niêm
yết trong những ngày đầu giao dịch trên nhiều quốc gia và thị trường vốn. Khuynh
hướng nghiên cứu chủ yếu là nghiên cứu định dưới giá trong ngắn hạn hoặc kết
hợp cả ngắn và dài hạn.
2.2.1. Các nghiên cứu thực nghiệm về định dưới giá IPO trong ngắn hạn
Su và Fleisher (1997), nghiên cứu 308 công ty IPO từ 1986-1996 và tìm thấy
TSSL ngày đầu rất cao 948.59%. Tác giả dùng mô hình hồi quy 2SLS với các
biến nghiên cứu: giá khởi điểm, lợi nhuận trước năm IPO, thời gian hoạt động
của công ty, độ trễ niêm yết, nguồn thu từ đợt IPO, TSSL sau 2 tuần giữ cổ

Bozzolan và Ipino (2007) nghiên cứu 85 công ty IPO trong giai đoạn 1999 - 2005
trên thị trường chứng khoán Ý. Mối liện hệ giữa định dưới giá và các biến độc lập
được đo lường bằng phương pháp hồi quy OLS. Tác giả tìm thấy mối tương quan âm
giữa mức độ định dưới giá và lượng thông tin được công bố trong bản cáo bạch IPO
và tương quan dương giữa mức độ định dưới giá và số lượng các nhân tố rủi ro được
tiết lộ. Kết quả của tác giả cho thấy rằng việc sử dụng thông tin công bố trong bản cáo
bạch IPO là có lợi, ngay cả khi các nhà quản lý của công ty phát hành sử dụng các
công cụ khác để báo hiệu cho thị trường về chất lượng IPO, chẳng hạn như việc lựa
chọn tổ chức bảo lãnh có uy tín cao, một công ty kiểm toán độc lập lớn.
Boudriga & cộng sự (2011) tìm thấy tỉ suất sinh lợi điều chỉnh thị trường trong
ngày giao dịch đầu tiên của 34 công ty IPO ở thị trường chứng khoán Tunisia là
17,8% trong giai đoạn 1992-2008. Tác giả dùng mô hình hồi quy OLS để xem xét
mối quan hệ giữa các biến: vốn giữ lại, bảo lãnh phát hành, tỉ lệ mua vượt mức, độ
trễ niêm yết, giá khởi điểm, thời gian hoạt động của công ty, quy mô công ty, quy


10

mô phát hành, biến rủi ro ngành với mức định dưới giá. Tác giả kết luận rằng các
nhân tố có mức ý nghĩa ảnh hưởng đến định dưới giá là: vốn giữ lại, bảo lãnh
phát hành, tỉ lệ mua vượt mức, độ trễ niêm yết và giá khởi điểm. Nhìn chung, kết
quả cho thấy các nhà đầu tư dựa chủ yếu vào thông tin bên lề để tính giá các
cuộc IPO.
2.2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về định dưới giá IPO trong dài hạn
David Chambers & Elroy Dimson (2009) nghiên cứu định dưới giá trong dài
hạn trên 4.540 công ty IPO và thấy mức định dưới giá trung bình ở Anh giai đoạn
1917- 1945 là 3,8%, trong khi giai đoạn 1946-1986 là 9,15%, và 1987 – 2007 có
mức định dưới giá là 13,35%. Thị trường IPO tại Anh hoạt động theo nguyên tắc
người mua tự chịu trách nhiệm, sau năm 1945 thị trường có cải tiến trong việc bảo
vệ số đông nhà đầu tư. Nghiên cứu của tác giả về IPO tại Anh cho thấy mức định

TSSL sau niêm yết, mặc dù ý nghĩa kinh tế của mối quan hệ là thấp, có mối quan
hệ phi tuyến giữa mức định dưới giá và TSSL một, hai năm tiếp theo sau niêm yết.
Purnanandam và Swaminathan (2004) nghiên cứu trên 2.288 công ty IPO ở Mỹ
từ năm 1980 đến 1997 và tìm thấy TSSL khác nhau, 14% - 50% bằng cách dùng
mô hình hồi quy trên chuỗi dữ liệu chéo trong ngắn hạn với các biến: P/V, P/B, tốc
độ tăng trưởng của công ty IPO, tổng tài sản, EBITDA (thu nhập trước thuế, trả lãi
và khấu hao). Trong dài hạn, tác già hồi quy theo mô hình FamaMacbeth. Theo
nghiên cứu của nhóm tác giả tuy IPO ở Mỹ có TSSL những ngày đầu cao nhưng
TSSL thấp trong dài hạn. Tác giả kết luận IPO bị định giá cao có xu hướng tăng
sau niêm yết và điều chỉnh trở lại mức giá hợp lý trong dài hạn. Kết quả này ngược
với lý thuyết bất cân xứng thông tin là IPO định dưới giá sẽ tăng cao trong ngày
đầu niêm yết. Kết quả trong dài hạn của tác giả đã chứng minh rằng IPO có P/V
cao ít rủi ro hơn IPO có P/V thấp.
Kerins F.& cộng sự (2007) nghiên cứu trên mẫu 321 cuộc IPO tại Nhật từ 1995
-> 10/1997. Tác giả dùng mô hình hồi quy 2SLS, các biến trong mô hình hồi quy:
tỉ lệ mua vượt mức, tỉ lệ giá khởi điểm/ giá đấu thầu tối thiểu, vốn giữ lại, giá khởi
điểm, thời gian hoạt động của công ty IPO, quy mô công ty IPO, quy mô phát hành,
bảo lãnh phát hành, doanh thu công ty, lượng nhân viên. Ông tìm thấy mức định
dưới giá trong mẫu nghiên cứu là 8,59% trong đó 81% các cuộc IPO có TSSL ban
đầu dương.


12

Mức độ định dưới giá ở thị trường các nước mới nổi cao hơn so với thị
trường các nước phát triển. Một số nghiên cứu nhấn mạnh rằng IPO ở Trung
Quốc hưởng TSSL ngày đầu cao nhất thế giới.
Chan và cộng sự (2001) nghiên cứu về định dưới giá trong ngắn và dài hạn và
TSSL trên mẫu 570 cổ phiếu công ty IPO nhóm A (cổ phiếu do các nhà đầu tư
trong nước nắm giữ) và 39 cổ phiếu công ty IPO nhóm B (cổ phiếu tại Trung

Agarwal và các cộng sự (2008) tìm thấy TSSL ngày đầu trung bình là 20,76%
trong mẫu 256 IPO tại Hồng Kông trong giai đoạn 1993-1997. Để biết tương
quan và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến TSSL những ngày đầu sau niêm
yết trong ngắn và dài hạn, tác giả sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính gồm các
biến: tỉ lệ mua vượt mức, tỉ lệ vốn hóa của thị trường, nguồn thu từ IPO, độ lệch
chuẩn TSSL hằng ngày (25 ngày) sau niêm yết, tỷ lệ cổ tức tiền mặt năm đầu
tiên sau khi IPO và các biến giả. Tác giả thấy rằng đợt IPO có lượng cầu cao đạt
TSSL ban đầu dương nhưng âm trong dài hạn, trong khi lượng cầu IPO thấp thì
ngược lại. Kết quả nghiên cứu cho thấy có tương quan mạnh giữa lượng cầu cổ
phiếu IPO và TSSL trong ngắn hạn và dài hạn.
Yan Gao (2009) nghiên cứu mức định dưới giá và định giá cao trên 217 công
ty IPO tại Trung Quốc từ 07/2006 – 4/2008, tác giả thấy mức định dưới giá ngày
đầu dao động trong khoảng 157% - 538%. Trong ngắn hạn, tác giả thấy rằng
TSSL trước niêm yết dương không dẫn đến mức định dưới giá cao hơn như dự
đoán của lý thuyết đại diện, mà TSSL này làm giảm mức định dưới giá. Điều này
chứng tỏ rằng tổ chức phát hành và bảo lãnh phát hành có thể định giá cao khi
khi tâm lý chung trên thị trường là hứng khởi. Trong dài hạn, TSSL là dưới mức
trung bình. Chỉ có IPO định giá cao trong TSSL ngày đầu sau niêm yết có thể
được dùng để dự đoán TSSL thấp trong dài hạn.
2.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến định dưới giá
Khi tham khảo các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về những nhân tố ảnh
hưởng đến mức định dưới giá, tác giả thấy có các nhân tố ảnh hưởng như:
Vốn giữ lại: Theo nghiên cứu của Philip J. Lee & cộng sự (1999); Chan và
cộng sự (2001); Boudriga & cộng sự (2011), vốn giữ lại có tương quan dương hoặc
âm với mức độ định dưới giá. Bằng thực nghiệm, Philip J. Lee & cộng sự (1995) tìm
thấy tương quan dương giữa vốn giữ lại và mức độ định dưới giá ngày đầu sau


14



15

trễ dài bất thường trong quá trình niêm yết ở Trung Quốc (hơn 10 tháng).
Giá khởi điểm: Theo một số nghiên cứu của Kerins F& cộng sự (2007); Yan
Gao (2009); Boudriga & cộng sự (2011) giá khởi điểm có tương quan âm với mức
độ định dưới giá ở mức ý nghĩa 5%. Bằng thực nghiệm Ibbotson và cộng sự (1988)
cho thấy có mối tương quan giữa giá khởi điểm và mức định dưới giá. Nhóm tác giả
này thấy rằng các công ty đưa ra giá khởi điểm rất thấp thường đạt mức định dưới
giá kỷ lục. Nhóm tác giả còn cho rằng giá khởi điểm thấp nhằm bù đắp cho rủi ro cao
và dễ bị đầu cơ.
Thời gian hoạt động của công ty phát hành: theo nghiên cứu của Philip J. Lee &
cộng sự (1995); Chan và cộng sự (2001); Bozzolan và Ipino (2007); David
Chambers & Elroy Dimson (2009), thời gian hoạt động của các công ty có mối
quan hệ ngược chiều với mức độ định dưới giá sau IPO và đại diện cho mức độ bất
cân xứng thông tin. Philip J. Lee & cộng sự (1995) thấy có mối tương quan nghịch
biến giữa thời gian hoạt động của công ty và mức định dưới giá với mức ý nghĩa
5%. Chan và cộng sự (2001) chỉ có tương quan âm đối với cổ phiếu nhóm B (cổ
phiếu được mua bởi nhà đầu tư nước ngoài); Bozzolan và Ipino (2007) thể hiện
mối tương quan nghịch với mức định dưới giá trong ngày đầu niêm yết với ý nghĩa
10%; kết quả tương tự trong nghiên cứu của David Chambers & Elroy Dimson
(2009) nhưng ở mức ý nghĩa 1%.
Quy mô của công ty phát hành: Một số nghiên cứu Megginson và Weiss (1991);
Ibbotson và cộng sự (1994); Carter và cộng sự (1998) cho thấy mối quan hệ nghịch
biến giữa quy mô doanh nghiệp và định dưới giá trong ngắn hạn.
Quy mô phát hành: trong nghiên cứu của Liu Ti (2003); Kerins F.& cộng sự
(2007); Yan Gao (2009). Tác giả thấy có mối quan hệ ngược chiều giữa hai nhân tố
này với mức ý nghĩa 5% trong nghiên cứu của Liu Ti (2003), Kerins F.& cộng sự
(2007) cũng tìm thấy tương tự nhưng mức ý nghĩa thống kê 10%. Ngược lại, Yan
Gao (2009) khi nghiên cứu tại thị trường Trung Quốc thì thấy nhân tố này tương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status