I. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Rau là một trong những sản phẩm thiết yếu không thể thiếu trong
bữa ăn hàng ngày, là một trong những sản phẩm được sử dụng nhiều nhất
nhưng đây cũng là sản phẩm có mức độ tồn dư thuốc bảo vệ thực vật cao
(BVTV) do nông dân sản xuất ngày càng sử dụng nhiều các hóa chất trong
sản xuất đặc biệt là thuốc BVTV.
Cùng với nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế và vấn đề gia tăng thu
nhập của người dân, vấn đề sức khỏe con người, sức khỏe cộng đồng ngày
càng trở thành mối quan tâm chung của toàn xã hội. Do đó, nhu cầu sử dụng
rau an toàn ngày càng tăng nhanh trong cả thị trường trong nước đặc biệt với
thị trường nước ngoài. Vấn đề an toàn thực phẩm ngày càng được quan tâm,
sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm có tiêu chuẩn, có nhãn mác
ngày càng được nhiều người dân lựa chọn. Sự lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật
của người trồng rau về liều lượng và thuốc bảo vệ thực vật chứa nhiều chất
độc hại sẽ mang lại rủi ro cao cho người sử dụng, ngày càng không đáp ứng
nhu cầu của người dân và mâu thuẫn với tiến trình hội nhập của nền kinh tế
đất nước.
Xã Đặng Xá được coi là nơi chuyên rau của huyện Gia Lâm, nhưng
hiện nay nông dân cũng đang ở trong tình trạng lạm dụng quá nhiều thuốc
BVTV. Nghiên cứu của GS.Đỗ Kim Chung (2008) đã chỉ ra rằng nơi đây
đang tồn tại một mức độ rủi ro lớn đối với con người và môi trường. Người
dân sử dụng thuốc quá liều làm tồn dư một lượng thuốc trong đất ngày càng
tích lũy càng làm suy thoái nguồn đất, nguồn nước và các vi sinh vật…kĩ
năng sử dụng thuốc chưa tốt, ý thức bảo vệ môi trường của người dân chưa
cao. Đây là nguyên nhân tiềm ẩn mức độ rủi ro cao từ thuốc BVTV gây ra
cho người sản xuất, người tiêu dùng và môi trường. Trong đó, mức độ rủi ro
của thuốc BVTV cao hay thấp được đo bằng chỉ số tác động môi trường
1
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về đánh giá tác động
chương trình giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV thông qua chỉ số tác động môi
trường EIQ.
- Đánh giá được tác động của chương trình giảm thiểu rủi ro thuốc
BVTV thông qua chỉ số EIQ ở Đặng Xá.
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV
trong sản xuất rau tại Đặng Xá.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các hoạt động sử dụng thuốc BVTV của
người dân Đặng Xá về loại thuốc, liều lượng phun và hoạt chất thuốc BVTV sử
dụng cho rau bắp cải. Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là người nông dân
trực tiếp sử dụng, phun thuốc cho rau và tham gia chương trình tập huấn PRR.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
a) Về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu các hoạt động sử dụng thuốc BVTV của
người dân Đặng Xá về loại thuốc, liều lượng phun và hoạt chất thuốc BVTV
sử dụng cho rau bắp cải để đánh giá tác động của chương trình PRR thông
qua chỉ số EIQ.
Rủi ro thuốc BVTV xác định từ nguy cơ tiếp xúc với thuốc và nguy
cơ độc hại của thuốc BVTV. Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung
chủ yếu vào nguy cơ độc hại của thuốc BVTV.
Đề tài nghiên cứu tác động của chương trình PRR được thực hiện
với giả định rằng sự chênh lệch về mức độ rủi ro trước và sau tập huấn được
coi là tác động của chương trình trong điều kiện các yếu tố khác không đổi.
3
Thuốc bảo vệ thực vật thường là các hoá chất tổng hợp bao gồm rất
nhiều loại khác nhau, nhằm mục đích tiêu diệt hay ức chế sự phát triển của
các dịch hại. Bản chất của thuốc bảo vệ thực vật thường là các hoá chất độc
hại dùng để giết chết một số loài sinh vật chuyên biệt nhưng vẫn có thể mang
tiềm năng gây hại cho các loài khác bao gồm cả con người.
Phân loại thuốc bảo vệ thực vật theo tổ chức sức khỏe thế giới (WHO)
Theo WHO thuốc BVTV được chia thành 4 loại với với các quy định
và thể hiện bằng ký hiệu như sau:
Nhóm I: rất độc, màu đen, phía trên, vạch màu đỏ, biểu tượng
đầu lâu xương chéo trong hình thoi vuông.
Nhóm II: độ độc cao, màu đen, phía trên,vạch màu vàng, biểu
tượng chữ thập chéo đen trong hình thoi vuông.
Nhóm III: nguy hiểm, chữ màu đen, vạch màu xanh nước biển,
biểu tượng đường chéo hình thoi vuông không liền nét.
Nhóm IV: cẩn thận, màu đen, vạch màu xanh lá cây.
Như vậy, theo cách phân chia này thì các loại thuốc có nhóm độc III và
nhóm IV là các nhóm tiềm ẩn rủi ro thuốc BVTV thấp hơn.
5
Phân theo nguồn gốc
Phân theo nguồn gốc thuốc BVTV bao gồm có hai loại đó là thuốc hóa
học và thuốc sinh học.
Thuốc hóa học là các loại thuốc có nguồn gốc từ hóa học (vô cơ, hữu
cơ). Ưu điểm của loại thuốc này là có tác động nhanh đến sinh vật và rẻ tiền.
Tuy nhiên đây là những loại thuốc rất độc với con người, động vật máu nóng,
tồn dư lâu và tích lũy trong môi trường, dễ gây hại cho thực vật và quần thể
sinh vật trong lòng đất.
Thuốc sinh học là các loại thuốc có nguồn gốc chế xuất từ thảo mộc,
sinh học các loài sinh vật và sản phẩm do chúng sản sinh ra. Ưu điểm của nó
Nguy cơ tiếp xúc liên quan đến phương pháp sử dụng thuốc BVTV bao
gồm các vấn đề: cách pha, cách phun và bảo hộ lao động.
Độc hại phụ thuộc vào loại thuốc (nhóm I, II, III, IV), phụ thuộc vào
nguồn gốc của thuốc (thuốc sinh học, hóa học), liều lượng thuốc dùng và hình
thức phun (phun phối trộn, phun đơn và đấu trộn đúng hay sai).
Rủi ro ảnh hưởng lớn đến người sản xuất, người tiêu dùng và môi
trường. Chính vì tính chất nguy hại của thuốc bảo vệ thực vật mà việc đánh
giá rủi ro có thể có là rất cần thiết để bảo vệ người phun thuốc, môi trường,
người tiêu dùng cũng chính là nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm
trong thị trường đặc biệt là thị trường thế giới đáp ứng nhu cầu và những đòi
hỏi khắt khe của thị trường trong nền kinh tế hội nhập.
Để kiểm soát được những rủi ro đó nhất thiết cần phải có biện pháp hay
phương pháp đo được mức độ rủi ro của từng loại thuốc bảo vệ thực vật để
xem xét tính nguy hại của nó trên cơ sở đó lựa chọn thuốc cho phù hợp vẫn
đảm bảo được mục tiêu bảo vệ mùa màng và vấn đề sức khỏe môi trường.
Để giảm thiểu được rủi ro từ thuốc BVTV thì đồng thời phải giảm nguy
cơ tiếp xúc và độc hại. Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung vào nguy
cơ độc hại của thuốc BVTV.
7
2.1.2 Chỉ số tác động môi trường
2.1.2.1 Nguồn gốc của chỉ số chỉ số tác động môi trường
Nguy cơ của thuốc bảo vệ thực vật đến sức khỏe con người và môi
trường được công nhận rộng rãi. Một trong những cách để giảm thiểu các rủi
ro liên quan đến thuốc BVTV là thông qua việc Quản lý dịch hại tổng hợp
(IPM). Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng IPM giảm số lượng thuốc BVTV
được sử dụng và đóng góp vào sự lựa chọn các loại thuốc ít độc hại (van den
Berg, 2004). Để đánh giá những tác động thực tế của những thay đổi về sức
môi trường.
Để phát triển đất nước nâng cao chất lượng nông sản thì cần thiết
phải tiến tới các loại sản phẩm cần phải đạt được các chỉ tiêu của rau an toàn,
từ đó cần thiết phải có một công cụ lựa chọn thuốc BVTV hợp lí, dễ hiểu và
thân thiện với người sử dụng hệ thống đặc biệt là phải gần gũi với nông dân
để có thể ứng dụng rộng rãi là điều rất quan trọng. Do đó một mô hình tương
đối đơn giản như EIQ đại diện cho một công cụ có thể cho đánh giá tác động
IPM ở các nước đang phát triển và đưa vào tập huấn cho nông dân sử dụng.
Chỉ số EIQ là một hệ thống phương pháp để đánh giá tác động môi
trường của thuốc BVTV đã được phát triển ở Đại học Cornell, Mỹ, vào năm
1992. Nó phổ biến một loạt các tác động tiềm năng về nông dân sản xuất,
người tiêu dùng và môi trường dựa trên dữ liệu độc hại, tính chất hóa học của
thuốc BVTV. Hệ thống Chỉ số EIQ do các chuyên gia IPM thiết kế nhằm hỗ
trợ những người trồng rau và cây ăn quả ở New York lựa chọn được những
phương án quản lý có tác động thấp (Kovach et al., 1992).
Mỗi hoạt chất của thuốc BVTV được tính theo một thang điểm của
EIQ thông qua một phương trình đại số nhằm kết hợp với thang điểm bằng số
được gán cho mỗi loại tác động. Tiền đề cơ bản của phương pháp EIQ là các
tác động sinh ra từ sự tương tác giữa độc tính và sự xâm nhập của thuốc
BVTV. Rủi ro của các tác động được đánh giá thông qua tỷ lệ giữa các chỉ số
về sự xâm nhập và các chỉ số về độc tính, dựa trên các thang điểm được sắp
xếp theo tầm quan trọng của các bộ phận khác nhau.
9
Chỉ số EIQ đã được phát triển để tổ chức các thông tin được công
bố tác động môi trường của thuốc BVTV thành một dạng có thể sử dụng để
giúp đỡ người trồng rau trong lựa chọn và sử dụng và để đánh giá kết quả của
các chương trình IPM và giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV.
Thứ hai : chỉ số EIQ đồng ruộng
EIQ đồng ruộng là chỉ số đo mức độ rủi ro của thuốc BVTV dựa trên
nền tảng là EIQ lý thuyết kết hợp với liều lượng phun được tính cho cả kỳ
nghiên cứu và nồng độ hoạt chất có trong đơn vị thành phẩm.
Các yếu tố cấu tạo nên chỉ số EIQ đồng ruộng bao gồm 3 chỉ số đơn đó là :
EI người sản xuất : chỉ số độ độc của thuốc BVTV đến người sản xuất
EI người tiêu dùng : chỉ số độ độc của thuốc BVTV đến người tiêu dùng.
EI sinh thái : là chỉ số độ độc của thuốc BVTV đến sinh thái (trong đó
các yếu tố mà hệ thống EIQ nghiên cứu cho hệ sinh thái bao gồm các yếu tố :
cá. Chim, ong mật, thiên địch).
2.1.2.4 Ưu điểm, nhược điểm của chỉ số EIQ
a) Ưu điểm của chỉ số EIQ
Như chúng ta đã biết rủi ro từ thuốc bảo vệ thực vật gây ra cho con
người và môi trường bắt đầu xuất phát từ hoạt chất của nó nghĩa là tiềm năng
vốn có của nó gây ra thiệt hại, và khả năng tiếp xúc với hóa chất để thực sự
gây ra thiệt hại. Do đó, để giảm thiểu rủi ro trong sử dụng thì cần thiết phải
lựa chọn được các loại thuốc chứa hàm lượng ít gây độc hại. Chỉ số EIQ chỉ
ra hay có thể cung cấp một dấu hiệu những rủi ro tiềm năng của thuốc BVTV.
Như vậy thông qua việc xác định chỉ số EIQ có thể xác định được hay xếp thứ
bậc cho mức độ độc hại cho các loại thuốc BVTV.
EIQ là một chỉ số tương đối đơn giản do đó được sử dụng rộng rãi vì
đơn giản và gần gũi với người sử dụng.
Như vậy, sử dụng EIQ sẽ giúp nông dân và cán bộ kỹ thuật để hiểu rõ
hơn về tác dụng tiêu cực của thuốc BVTV, trong đó có thuốc diệt nấm, sức
khỏe con người và môi trường. Nông dân hiểu tám mục tiêu các khu vực bị
ảnh hưởng bởi thuốc BVTV và các cấp có hiệu lực cho những mục tiêu: nông
11
dân, người tiêu dùng, nước ngầm (những người sử dụng nước ngầm) và sinh
- Có trường hợp nông dân không sử dụng dụng cụ đong đếm cẩn thận
nên liều lượng cung cấp và ghi chép mang tính chất tương đối làm ảnh hưởng
đến kết quả tính toán.
- Một khó khăn tiếp theo gặp phải đó là EIQ lý thuyết chưa được tính
sẵn trong danh sách thì việc tính toán nó là tương đối thiếu dữ liệu dẫn đến
khó khăn trong việc xác định chỉ số này.
- Trường hợp không thể tính toán được người ta giả định rằng EIQ lý
thuyết của hoạt chất đó = 27,3 tuy nhiên điều này sẽ cho một kết quả không
chính xác trên thực tế.
2.1.3 Vai trò của chỉ số tác động môi trường
a) Chỉ số EIQ dùng để lượng hóa rủi ro tiềm năng của thành phần hoạt chất
thuốc BVTV cho con người và môi trường
Việc ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật có thể gây ra những tác động
không mong muốn cho môi trường và ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe con
người bao gồm cả người tiêu dùng và nông dân sản xuất. Bản thân của các
loại thuốc bảo vệ thực vật là chất độc. Do bị lạm dụng, thiếu kiểm soát, dùng
sai thuốc, nên nhiều mặt tiêu cực của thuốc bảo vệ thực vật ngày càng biểu
hiện nhiều: ô nhiễm môi trường, để lại dư lượng trên nông sản, gây độc cho
người và động vật có ích bị suy giảm ngày càng nhiều.
Tuy nhiên, mỗi một loại thuốc khác nhau thì bản thân nó tiềm ẩn rủi
ro cho người sử dụng ở những mức độ khác nhau. Chỉ số EIQ chỉ ra một mối
nguy hiểm vốn có của một thành phần hoạt chất thuốc BVTV bằng cách tích
toán tác động của từng loại thuốc dựa vào liều lượng phun của nông dân và
nồng độ hoạt chất có trong sản phẩm.
Nói cách khác đây là phương pháp định lượng mức độ rủi ro của các
loại thuốc bảo vệ thực vật. Lượng hóa độ rủi ro của thuốc BVTV đến người
sử dụng thuốc, người chăm sóc và thu hoạch, người ăn rau, đến mạch nước
ngầm, đến cá, đến chim, đến ong mật và các loài côn trùng chân đốt bắt mồi
có ích (thiên địch).
này có độ độc cao đối với ong và ít độc hại đối với người thì cần phải khuyến
cáo với nông dân rằng đối với những hộ có nuôi ong trong vườn mà phun thuốc
14
cho rau ở nhà thì không nên lựa chọn loại thuốc này vì có thể nó sẽ làm đàn ong
bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nếu cứ tiếp tục phun cho rau với liều lượng cao thì
rất có thể sẽ dẫn đến đàn ong bị tử vong hoặc không cho mật.
c) EIQ là cơ sở đánh giá tác động của các chương trình tập huấn giảm thiểu
rủi ro thuốc BVTV
Chương trình tập huấn giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV với mục đích chủ
yếu là cung cấp những kiến thức cơ bản cho nông dân về thuốc BVTV để
nông dân có thể hiểu rõ hơn về các loại thuốc, rủi ro của các loại thuốc từ đó
làm thay đổi nhận thức, hành vi của nông dân trong lựa chọn và sử dụng
thuốc BVTV dẫn đến làm thay đổi chỉ số EIQ.
Kết quả của của chỉ số EIQ là những con số thể hiện độ rủi ro cho con
người và môi trường sinh thái, nó là những con số định lượng cụ thể khắc
phục tính định tính qua đó khi xác định được chúng ta có thể đánh giá được
chương trình áp dụng có hiệu quả hay không và hiệu quả bao nhiêu bằng cách
so sánh chỉ số EIQ trước và sau chương trình tập huấn. Nói cách khác thì chỉ
số EIQ chỉ ra rằng chương trình tập huấn đã tác động đến nhận thức của
người sử dụng thuốc như thế nào và ứng xử của họ ra sao trong việc lựa chọn
và phun thuốc, cuối cùng là được tổng hợp lại bằng chỉ số EIQ phản ánh
chính xác điều đó. Do đó có thể coi EIQ là công cụ hữu ích dùng để đánh giá
tác động của chương trình.
Ý nghĩa trong nghiên cứu: Xác định chỉ số EIQ nhằm đánh giá tác động
của chương trình tập huấn giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật dựa vào
cộng đồng đã được thực hiện tại Đặng Xá cụ thể là nông dân trồng rau Bắp
cải, nói cách khác nó là một công cụ để đánh giá kết quả đạt được.
Ý nghĩa thực tiễn: Việc tính toán chỉ số EIQ sẽ trở thành một công cụ
- Tăng cường và mở rộng hệ thống quản lý dịch hại tổng hợp của nông
dân và giảng viên thông qua IPM dựa vào cộng đồng.
2.2.1.3 Các hoạt động của chương trình
Tổ chức tập huấn kiến thức giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV nông dân
Nội dung cơ bản của tập huấn: rủi ro thuốc BVTV, các quy định về
quản lý, sử dụng, buôn bán thuốc BVTV, an toàn lao động khi sử dụng thuốc
BVTV, quản lý bao bì và cất giữ thuốc thừa.
16
Tổ chức tập huấn cho lãnh đạo cộng đồng và rủi ro thuốc BVTV dựa
vào cộng đồng, các hoạt động cộng đồng được xây dựng vùng rau an toàn.
Xây dựng vùng rau an toàn, cơ sở hạ tầng mương máng, kênh, bể chứa,
nguồn nước...
Triển khai các hoạt động như: lập kế hoạch, hình thành nhóm sở thích
của nông dân trong sản xuất rau. Giám sát, kiểm tra, tuyên truyền và vận động
nhân dân làm theo chương trình giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV.
2.2.2 Tác động của chương trình giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật
thông qua chỉ số tác động môi trường
Cũng như Lào, Campuchia, Việt Nam triển khai chương trình giảm
thiểu rủi ro thuốc BVTV với mục tiêu là giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV.
Các hoạt động chính của chương trình bao gồm tập huấn cho nông dân
và xây dựng các hoạt động cộng đồng. Nông tham gia tập huấn có được
những kiến thức, kỹ năng trong sử dụng thuốc BVTV, cùng với đó các hoạt
động cộng đồng được xây dựng, triển khai xây dựng các quy chế, có đầu tư
xây dựng hạ tầng phục vụ cho chương trình sẽ là nhân tố tác động làm thay
đổi thói quen của người sử dụng thuốc BVTV theo hướng tích cực. Tác động
của chương trình này sẽ được phản ánh cụ thể thông qua chỉ số EIQ.
Chuỗi tác động của chương trình giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV thực
hiện theo sơ đồ sau :
…
Sơ đồ 2.1: Chuỗi tác động của chương trình PRR thông qua chỉ số EIQ
2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tác động của chương trình giảm thiểu
17
rủi ro thuốc bảo vệ thực vật
Thiết kế và cấu trúc của chương trình
Thiết kế và cấu trúc của chương trình PRR phù hợp với đặc điểm địa
bàn, tình hình sản xuất tại địa phương thì tác động của chương trình tốt.
Mức độ tuân thủ các nội quy và hoạt đồng của chương trình đã thiết kế
Mức độ tuân thủ các nội quy và các hoạt động của chương trình tốt thì hướng
tác động sẽ tốt và ngược lại nếu mức độ tuân thủ các nội quy của chương trình
kém, ý thức thực hiện nội quy của nông dân không cao, quản lý, giám sát
không chặt chẽ thì chương trình triển khai sẽ kém hiệu quả dẫn đến tác động
của chương trình không rõ nét.
Năng lực của cán bộ cộng đồng: thể hiện ở công tác xây dựng các quy
chế cho chương trình giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV, khả năng áp dụng, triển
khai và giám sát quá trình thực hiện nội quy trong sử dụng và buôn bán thuốc
BVTV.
Nhận thức và hành vi của nông dân: thể hiện thông qua việc chấp hành
các nội quy của chương trình trong lựa chọn và sử dụng thuốc BVTV, xử lý
bao bì, cất giữ thuốc.
Nguồn lực của chương trình: cụ thể là kinh phí đầu tư cho công tác xây
dựng cơ sở hạ tầng (các bể thu gom vỏ bao bì, hệ thống hóa cơ sở kênh
mương), kinh phí cho chương trình tập huấn là yếu tố quan trọng đầu tiên
quyết định đến kết quả của chương trình.
Các hoạt động cộng đồng: bao gồm các hoạt động tổ chức vùng rau an
và sử dụng thuốc BVTV được tập hợp ở bảng 2.1.
19
Bảng 2.1: Lựa chọn của Toàn cầu Công dụng của EIQ ngoài Châu
Á
Năm
2001
Vị trí
Washington, Hoa
Kỳ
Ontario, Canada
Tây Ban Nha
Tiêu đề
Tính bền vững của ba hệ thống sản xuất táo
Thuốc BVTV Giảm thiểu rủi ro trên Cây trồng ở tỉnh
2001
bang Ontario.
2002
Đánh giá các tác động môi trường của các ứng dụng
2003
trong Thuốc BVTV Chế biến cà chua.
Georgia, Hoa Kỳ
Giảm rủi ro của thuốc BVTV ở Georgia đào, 19912003
Ohio, Hoa Kỳ
2001
tác động môi trường thương tích của thuốc BVTV sử
Nguồn : FAO, 2008
b) Nghiên cứu đánh giá tác động
Trong khi nông dân lĩnh vực nghiên cứu trường học cho thấy việc giảm
rủi ro tiềm năng thông qua IPM, nghiên cứu tác động đánh giá thực tế giảm
20
do kết quả của FFS đào tạo. Để đánh giá tác động, FFS của dự án người tham
gia được so sánh với nông dân không FFS từ các làng cùng (tiếp xúc với nông
dân) và nông dân trong làng mà không có FFS đã diễn ra nông dân điều
khiển. Trong quá trình khảo sát cơ sở trong năm 2002 sau sự hình thành của
các nhóm FFS, nông dân được đề nghị tái sản xuất bông của họ thực hành từ
năm 2001. Sau khi đào tạo FFS, tức là vào năm 2003, tất cả các nông dân đã
được truy cập nhiều lần trong mùa bông để thu thập dữ liệu tác động trên
post-FFS thực hành.
Tại Pakistan, kết quả EIQ được báo cáo là tổng số EIQ đồng ruộng,
cũng như phân nhóm cho EI nông dân, EI môi trường / sinh thái và EI tiêu
dùng. Số liệu cho thấy trung bình Giảm 50% nguy cơ tương đối về FFS trang
trại so với mức tăng 75% trên các trang trại kiểm soát (Phuong, 2001).
c) Tại Thái Lan
Một nghiên cứu đánh giá tác động trên phân tích lúa IPM trong một tập
hợp các dữ liệu thu thập trong một khoảng thời gian hơn 4 năm trên các trang
web dự án thí điểm FFS. Lĩnh vực sử dụng EIQ đã được sử dụng để định
lượng rủi ro của thuốc BVTV cho môi trường và sức khỏe con người.
Kết quả cho thấy FFS-IPM nông dân đã giảm đáng kể việc sử dụng
thuốc BVTV trong hoạt động sản xuất của họ sau khi đào tạo trong khi đó các
nhóm không tham gia đào tạo không quan sát được giảm đáng kể. Giá trị EIQ
đã cho thấy sự khác biệt rõ rệt này. Sau đào tạo nông dân tham gia đã chịu ít
ảnh hưởng từ thuốc BVTV hơn.
tiêu chính của chương trình IPM.
2.2.2 Tại Việt Nam
a) Nhiều nghiên cứu về tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đã khẳng
định tính độc hại của thuốc bảo vệ thực vật.
Ở nước ta tính từ năm 2000- 2006 đã có 667 vụ ngộ độc do có độc tố
trong sản phẩm với 11.653 người bị hại trong đó 683 người bị chết riêng năm
2006 đã có 69 người bị tử vong trong số 8.900 người bị ngộ độc thực phẩm,
một số loại thuốc bị cấm sử dụng vẫn còn tồn dư trên sản phẩm (Hoàng Bá
Thịnh, 2007).
22
Nghiên cứu ảnh hưởng của các hóa chất độc hại dùng trong nông
nghiệp tới sức khỏe con người và các giải pháp khắc phục được triển khai
nghiên cứu với mục tiêu đánh giá thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và
tác hại của thuốc đến người sử dụng. Từ đó phổ biến rộng trong sản xuất và
kiến nghị với nhà nước các chủ trương chính sách tạo điều kiện thúc đẩy bảo
vệ môi trường và nâng cao sức khỏe cộng đồng nông thôn và toàn xã hội.
Nghiên cứu đã rút ra kết luận : thuốc bảo vệ thực vật ảnh hưởng đến sức khỏe
con người như sau :
- Tính rộng ra trên cả nước có khoảng 11,5 triệu hộ nông dân, mỗi hộ
có ít nhất một người trực tiếp phun thuốc bảo vệ thực vật, số người tiếp xúc
với thuốc bảo vệ thực vật ước khoảng 11.500.000. Như vậy, số người nhiễm
độc mãn tính trong cả nước khoảng trên 2 triệu người. Đây là một con số rất
đáng lo ngại và rất đáng quan tâm. Các nhà phân tích y học ở nhóm người
nhiễm độc mãn tính thuốc bảo vệ thực vật cho thấy những biến đổi sinh học
và sinh hóa theo chiều hướng xấu. Những bệnh nghề nghiệp bảo vệ thực vật
dẫn đến suy giảm sức khỏe nông dân và cộng đồng.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến chất lượng sản
phẩm : Chỉ tiêu đnáh giá ảnh hưởng này là định mức dư lượng thuốc bảo vệ
(1) để hướng dẫn nông dân sử dụng chỉ số EIQ để giúp nông dân trong việc
chọn một loại thuốc BVTV ít gây hại cho con người và môi trường trong sản
xuất rau sản.
(2) để giúp nông dân sử dụng chỉ số EIQ để đánh giá tác dụng của thuốc
BVTV trên sức khỏe con người và môi trường
(3) để đạt được kinh nghiệm từ việc sử dụng thực tế của những nguy cơ chỉ
thị các mô hình như một công cụ cho nông dân. Mỗi chương trình đều do
Giảng viên Bảo vệ thực vật từ chi cục tại mỗi tỉnh đã chịu trách nhiệm về việc
giới thiệu các mô hình nông dân EIQ tại trường.
Kết quả đạt được
Trường (FFS) với 30 nông dân tham gia vào mỗi FFS. Tại các tỉnh
được lựa chọn, bao gồm hai nhóm cùng sản xuất cây trồng: 15 IPM-nông dân
24
(nông dân được đào tạo) và 15 nông dân không được đào tạo đã được tiếp
theo trong mùa trồng, tháng 9 - 12 năm 2002.
Trong FFS, giảng viên và nông dân thảo luận về các đối tượng bị ảnh
hưởng bởi việc sử dụng thuốc BVTV và giới thiệu các công thức và phương
pháp để tính toán EIQ. Giảng viên đã hướng dẫn bà con nông dân để thực
hành bảng EIQ để tính toán và sử dụng trường EIQ để đánh giá tác dụng của
thuốc BVTV được sử dụng trên con người và môi trường, và để hướng dẫn
thực hành phương pháp thu thập dữ liệu.
Các kết quả chính từ chương trình cho thấy sản lượng của nông dân
được đào tạo, tập huấn đã cao hơn nông dân không được tập huấn. Các EIQ
tại các nông dân tập huấn thu được thấp hơn so với nông dân không được tập
huấn. Do đó đã tiết kiệm được cả chi phí và ít ảnh hưởng đến môi trường. Sau
khi đào tạo với nông dân IPM và EIQ, nông dân thu được kiến thức mới; đổi
mới tư duy của họ khi sử dụng thuốc BVTV và giảm tải về môi trường và rủi