Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế ở các vùng của việt nam - Pdf 35

-1-

MỞ ĐẦU

1. Giới thiệu công trình nghiên cứu
Từ những năm 1960, dòng vốn FDI đã được lý giải bởi Hymer. Từ khi xuất hiện
đến nay, dòng vốn này đã có những tác động tích cực đối với nước tiếp nhận đầu tư
và không ngừng gia tăng qua thời gian trên bình diện quốc tế. Mức độ lan tỏa ngày
càng sâu rộng khắp các châu lục với sự đa dạng, nhiều chiều. Trong đó, đáng kể
nhất là tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế, cũng như những tác động lan tỏa
khác. Thực tế đó, dẫn đến mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế được sự
quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước cũng như nước ngoài với những
phương pháp nghiên cứu khác nhau. Kết quả đạt được rất đa dạng: Tác động dương
của FDI đến tăng trưởng kinh tế (Nguyễn Thị Tuệ Anh, 2006; Le Thanh Thuy,
2007; Aviral và Mihai, 2011; Chien et al., 2012; Elsadig, 2012); Tăng trưởng kinh
tế tác động đến FDI (Anh và Thang, 2007; Ab Quyoom Khachoo và Khan, 2012;
Fayyaz Hussain, Constance Kabibi Kimuli, 2012; Chirstian và C. Richard, 2012;
Cuong et al., 2013). Một số nghiên cứu phát hiện mối tương quan đồng thời hai
chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế (Caves, 1996; Zhang 2000; Sajid Anwar và
Lan Phi Nguyen, 2010; Chien và Linh, 2013) và các nghiên cứu cho thấy tác động
của FDI đến tăng trưởng kinh tế cần có những điều kiện về nguồn nhân lực, quy mô
thị trường, độ mở của nền kinh tế (Blomstrom et al., 1992; Borensztein et al., 1998;
Basu et al., 2003). Bên cạnh đó, FDI không có tác động đến tăng trưởng kinh tế
(Ericsson và Irandoust, 2001; Carkovic và Levine, 2002; Dilek và Aytac, 2013).
Trên thực tế, các nghiên cứu giữa FDI và tăng trưởng kinh tế chủ yếu thực hiện ở
không gian quốc gia và một số ít thực hiện ở không gian vùng trong quốc gia. Ở
Việt Nam, các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh
tế được thực hiện chủ yếu đối với tổng thể quốc gia, như các nghiên cứu của
Nguyễn Mại (2003), Nguyen Thi Phuong Hoa (2004), Nguyễn Thị Tuệ Anh,
(2006), Le Thanh Thuy (2007) và một số nghiên cứu ở cấp độ vùng (Sajid Anwar




-3-

(i) Mô hình lý thuyết của Cobb-Douglas (1928), Slolow (1956, 1957) và các lý
thuyết đánh giá tác động của FDI đối với nước nhận đầu tư như MacDougall
(1960), Hymer (1960) và các đóng góp khác được thực hiện bởi Buckley và Casson
(1976), Caves (1971), Dunning (1973), Kindleberger (1969) và Vernon (1966);
(ii) Dựa trên các nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế theo
phương pháp định lượng (Caves, 1996; Zhang, 2000; Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng
sự, 2006; Le Thanh Thuy, 2007; Wei K., 2008; Sajid và Nguyen, 2011; Elsadig,
2012; Dilek và Aytac, 2013, …);
(iii) Khai thác và sử dụng phương pháp GMM (Difference Generalized Method of
Moments) của Arellano-Bond (1991) và phương pháp PMG (Pooled Mean Group)
của Pesaran, Shin và Smith (1999) với dữ liệu bảng được thu thập từ năm 1997 đến
năm 2012 ở các tỉnh thành Việt Nam từ Tổng Cục Thống kê.
Đề tài nghiên cứu Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế ở các vùng
của Việt Nam được thực hiện.
2. Lý do chọn đề tài
FDI và tăng trưởng kinh tế được nhiều nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài
quan tâm thực hiện với đối tượng nghiên cứu (không gian, thời gian), phương pháp
nghiên cứu khác nhau nhưng chưa có sự thống nhất về quan hệ tác động giữa FDI
và tăng trưởng kinh tế, vấn đề vẫn đang được quan tâm tranh luận.
Ở Việt Nam, từ khi mở cửa nền kinh tế và quan trọng là từ khi Luật Đầu tư nước
ngoài ra đời (1987), FDI có những đóng góp tích cực đối với kinh tế-xã hội trên
nhiều phương diện. Đến nay, kinh tế có những khó khăn mang tính toàn cầu, Việt
Nam vẫn tiếp tục mở rộng giao thương quốc tế, vẫn tiếp tục quan tâm thu hút dòng
vốn FDI. Vấn đề đặt ra, mối quan hệ FDI-tăng trưởng kinh tế như thế nào là điều
cần được nghiên cứu chuyên sâu và chi tiết. Mặc dù có vài nghiên cứu đã được thực
hiện để giải quyết vấn đề, nhưng kỹ thuật, phương pháp thực hiện cũng như phạm vi


-5-

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế dựa trên hàm sản xuất
Cobb-Douglas (1928), trong đó bao gồm hai biến đầu vào cơ bản là lao động, vốn
và một tập hợp các biến hiệu chỉnh liên quan. Trên cơ sở các nghiên cứu mở rộng
tiếp theo được thiết lập bởi MacDougall (1960) có nguồn gốc từ lý thuyết thương
mại quốc tế. Theo đó, xem xét các lợi ích của nước nhận đầu tư từ nhà đầu tư nước
ngoài (trực tiếp và gián tiếp) trong điều kiện của nhân tố sản xuất, việc làm và dòng
chảy của vốn. Một cách tiếp cận khác, đi tiên phong bởi Hymer (1960) về lý thuyết
của tổ chức công nghiệp.
Ngoài ra, còn có các đóng góp quan trọng khác đã được thực hiện qua các nghiên
cứu của Buckley và Casson (1976), Caves (1971), Dunning (1973), Kindleberger
(1969) và Vernon (1966). Kết hợp với các nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả
trong nước cũng như ở nước ngoài về FDI và tăng trưởng kinh tế (Le Thanh Thuy,
2007; Wei K., 2008; Sajid và Nguyen, 2011; Elsadig, 2012; Dilek và Aytac, 2013;
…) đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ tác động giữa FDI và tăng
trưởng kinh tế cùng với tập hợp các biến kiểm soát liên quan.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: tổng thể 63 tỉnh/thành ở các vùng của Việt Nam.
Trường hợp nghiên cứu vùng
Vùng là một lãnh thổ được tách ra dựa trên cơ sở tập hợp các dấu hiệu (hiện tượng)
có quan hệ mật thiết với nhau (Từ điển bách khoa địa lý, 1998). Hay vùng là phần
đất đai hoặc khoảng không gian tương đối rộng có những đặc điểm về tự nhiên và
xã hội, phân biệt với các phần khác ở xung quanh (Từ điển tiếng Việt, 1994).
Vùng là một bộ phận của quốc gia có một sắc thái đặc trưng nhất định, hoạt động
như một hệ thống, có quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo nên
nó và có quan hệ chọn lọc với khoảng không gian bên ngoài (Lê Bá Thảo, 1998).

nhau giữa các địa phương có những nét tương đồng về vị trí địa lý, điều kiện tự
nhiên, phân bố dân cư v.v... Nhằm mục đích tăng cường sức hút đồng thời thúc đẩy


-7-

sự phát triển của các địa phương trong vùng. Phương thức liên kết vùng rất đa dạng:
tập trung phát triển một hạt nhân trung tâm, xung quanh là các vệ tinh hoặc là một
thành phẩm được đưa qua nhiều giai đoạn mà mỗi địa phương đảm nhận một vai trò
trong chuỗi giá trị sản phẩm đó (Hồ Kỳ Minh và Lê Minh Nhất Duy, 2012).
Căn cứ vào thực tiễn hỗ trợ của các vùng có điều kiện tương đồng trong phát triển
kinh tế-xã hội, các địa phương có điều kiện địa lý gần nhau và căn cứ vào quyết
định của Chính phủ về thành lập các vùng kinh tế trọng điểm: Bắc Bộ, Trung Bộ,
Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, thể hiện sự kết nối giữa các vùng với nhau
trong phát triển kinh tế xã hội (chẳng hạn tỉnh Long An, Tiền Giang thuộc vùng
Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng lại thuộc vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ,
không thuộc vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long).
Từ thực tiễn trên, đề tài luận án tiến hành nghiên cứu tác động của dòng vốn FDI
đến tăng trưởng kinh tế đối với các liên kết vùng thuộc miền Bắc (gồm Đồng bằng
sông Hồng và Trung du miền núi phía Bắc); liên kết vùng thuộc miền Trung-Tây
Nguyên (gồm Bắc Trung Bộ-Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên) và liên kết
vùng thuộc miền Nam (gồm Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long).
Không gian nghiên cứu được sử dụng cho mô hình thực nghiệm là 43 tỉnh/thành
phân bổ bao phủ và đại diện ở các vùng Việt Nam vì dữ liệu về FDI, tăng trưởng
kinh tế và các biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu được thu thập đầy đủ và
liên tục đáp ứng được yêu cầu của phương pháp nghiên cứu định lượng.
Thời gian: dữ liệu về các biến chính (FDI, tăng trưởng kinh tế) và các biến kiểm
soát trong mô hình nghiên cứu thực nghiệm về quan hệ giữa FDI-tăng trưởng kinh
tế được tập hợp chủ yếu từ Tổng cục Thống kê Việt Nam trong khoảng thời gian
1997-2012. Bên cạnh đó, dữ liệu còn được thu thập từ Ngân hàng phát triển Châu Á

mại và thể chế cũng như nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy dòng vốn FDI vào Việt
Nam.


-9-

FDI và tăng trưởng kinh tế
Hầu hết các tác giả đều khẳng định tác động dương của FDI lên tăng trưởng kinh tế,
như Nguyễn Mại (2003) cho thấy FDI có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế ở
mức độ quốc gia và nhận định để thu hút vốn FDI vào Việt Nam cần mở rộng thị
trường và tìm đối tác mới. Nguyen Thi Phuong Hoa (2004) kết luận FDI có tác
động dương tới tăng trưởng kinh tế của các địa phương thông qua hình thành, tích
lũy tài sản vốn và có sự tương tác cùng chiều giữa FDI với nguồn nhân lực. Nguyễn
Thị Tuệ Anh và cộng sự (2006) nghiên cứu về tác động của FDI tới tăng trưởng
kinh tế ở Việt Nam với dữ liệu chuỗi thời gian giai đoạn 1988-2003 cho thấy tác
động của FDI tới tăng trưởng kinh tế qua kênh đầu tư. Le Thanh Thuy (2007) nhận
định FDI đã bổ sung cho đầu tư trong nước giúp cho việc mở rộng sản xuất, giúp
giảm thâm hụt ngân sách chính phủ, đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu, giải quyết
việc làm. Đồng thời khu vực tư nhân trong nước đóng vai trò quan trọng trong việc
thúc đẩy hiệu ứng lan tỏa từ FDI. Điều này cho thấy chính sách tăng cường sự phát
triển của khu vực tư nhân nên được đẩy mạnh để gia tăng hiệu ứng lan tỏa của FDI.
Anh và Thang (2007) nghiên cứu các nhân tố quyết định dòng vốn FDI ở các tỉnh
thành Việt Nam cho thấy quy mô thị trường, lao động và cơ sở hạ tầng có tác động
ý nghĩa lên FDI, trong khi chính sách của chính phủ thông qua chỉ số cạnh tranh cấp
tỉnh không có ý nghĩa. Le Viet Anh (2009), nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI và
tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam cho thấy đóng góp của FDI đối với tăng trưởng
được ước tính 7% trong 37% tổng số vốn đóng góp cho sự tăng trưởng trong giai
đoạn 1988-2002. Phân tích hồi quy thấy rằng FDI có mối quan hệ dương với đầu tư
trong nước và tăng trưởng kinh tế cũng như FDI tạo ra những tác động dương đáng
kể trong ngắn hạn và dài hạn lên tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Chien et al.

Sajid Anwar và Lan Phi Nguyen (2011) với FDI và thương mại ở Việt Nam. Bằng
phương pháp định lượng xem xét tác động FDI đến xuất khẩu, nhập khẩu của Việt
Nam từ dữ liệu liên quan đến 19 đối tác thương mại lớn của Việt Nam giai đoạn
1990-2007. Nghiên cứu cũng xem xét tác động của FDI đến thương mại trong ba
giai đoạn: trước-trong và sau khủng hoảng tài chính châu Á, thực nghiệm bổ sung
cho mối liên kết giữa FDI và xuất khẩu; FDI và nhập khẩu cho giai đoạn 19902007. Sajid Anwar, Lan Phi Nguyen (2011) kiểm tra FDI và lan truyền xuất khẩu ở


- 11 -

Việt Nam cho thấy sự hiện diện của các công ty nước ngoài có thể đem lại lợi ích
doanh nghiệp trong nước thông qua việc hình thành các mối liên kết giữa các công
ty. Bằng cách sử dụng dữ liệu cấp độ doanh nghiệp từ lĩnh vực sản xuất của Việt
Nam, nghiên cứu xem xét tác động của mối liên kết ngang và dọc giữa doanh
nghiệp trong nước và nước ngoài về: (i) các quyết định của doanh nghiệp trong
nước để xuất khẩu và (ii) tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước. Phân tích
thực nghiệm cho thấy mối liên kết ngang đã dẫn đến hiệu ứng lan tỏa xuất khẩu
đồng thời nhận định về sự hiện diện của các công ty nước ngoài góp phần định
hướng xuất khẩu tại Việt Nam.
FDI và môi trường thu hút đầu tư
Dương Thị Bình Minh (2009) nghiên cứu cải thiện môi trường đầu tư, thu hút vốn
FDI ở một số nước Châu Á và bài học kinh nghiệm cho TP Hồ Chí Minh. Tác giả
đề xuất giải pháp mang tính định hướng về cải thiện môi trường đầu tư, tăng cường
thu hút FDI tại TP Hồ Chí Minh cũng như tại Việt Nam nói chung. Dương Thị Bình
Minh và cộng sự (2010) với hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút FDI vào TP
Hồ Chí Minh trong bối cảnh Việt Nam là thành viên WTO. Kết quả cho thấy vấn đề
hoàn thiện môi trường đầu tư trên địa bàn TP Hồ Chí Minh cần được thực hiện trên
nhiều phương diện đồng thời phù hợp với các cam kết của Việt Nam đối với WTO:
ổn định bền vững môi trường kinh tế vĩ mô, phát triển thể chế phù hợp với thông lệ
quốc tế; đẩy mạnh hơn nữa quy mô và chất lượng cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội; phát

(Ozawa, 1992; Blomstrom và Wolff, 1994; Zhang, 2001; Yao, 2006 và Yao và Wei
2007). Gần đây, Aviral Kumar Tiwari, Mihai Mutascu (2011) thấy rằng cả hai FDI
và xuất khẩu tăng cường quá trình tăng trưởng.
Một số học giả cũng nhận định giữa dòng vốn FDI và tăng trưởng kinh tế có tác
động tích cực hai chiều (Zhang, 2001; Liu, Burridge và Sinclair, 2002; Choe, 2003;
Hansen và Rand, 2006; Abdus Samad, 2009).
Một số nghiên cứu tìm thấy tác động tiêu cực của FDI đến nước nhận đầu tư.
Cantwell (1989) xem xét tác động lan tỏa của doanh nghiệp các nước châu Âu trong
sự hiện diện của doanh nghiệp đa quốc gia Hoa Kỳ giai đoạn 1955-1975. Không
phải tất cả các ngành công nghiệp châu Âu đã được tìm thấy có tác động lan tỏa tích


- 13 -

cực của công nghệ từ các chi nhánh doanh nghiệp đa quốc gia Hoa Kỳ. Tác giả cho
rằng năng lực công nghệ của các công ty bản địa và kích thước của thị trường trong
nước là hai yếu tố quan trọng trong việc xác định những thành công của các công ty
châu Âu phản ứng với những cơ hội từ các công ty đa quốc gia Hoa Kỳ. Kế đến
Nadiri (1991) có kết luận tương tự bằng cách kiểm tra tác động của FDI Hoa Kỳ
vào nhà máy và thiết bị sản xuất ở Pháp, Đức, Nhật Bản và Anh từ năm 1968 đến
năm 1988.
Karikari (1992) xem xét mối quan hệ nhân quả giữa FDI và tăng trưởng kinh tế ở
Ghana giai đoạn 1961-l988, kết quả cho thấy FDI không ảnh hưởng đến tăng trưởng
kinh tế, trong khi tăng trưởng kinh tế tác động làm giảm nhẹ dòng vốn FDI. Theo
tác giả, kết quả này có thể là do khối lượng vốn FDI không đáng kể theo dữ
liệu thời gian, tác động FDI làm tăng tự do thương mại hơn là thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Haddad và Harrison (1991, 1993) cũng không tìm thấy tác động đáng kể
của FDI đến tăng trưởng trong nước khi thực hiện kiểm tra tác động tràn của FDI và
tăng trưởng kinh tế ở các công ty của Moroccan trong thời gian 1985-1989. Tương
tự, khi nghiên cứu 72 nước phát triển và đang phát triển với phương pháp OLS và

2005). Nhiều phân tích đồng ý rằng tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế phụ
thuộc nhiều vào điều kiện trong nước của nước nhận đầu tư và xem đó là quyết định
về tầm quan trọng và phạm vi tác động lan tỏa của các dự án FDI. Các điều kiện ở
địa phương có thể được phân loại thành ba nhóm: chính sách thương mại
(Balasubramanyam et al., 1996; Zhang, 2001); chính sách nguồn nhân lực (Keller,
1996; Borensztein et al., 1998; Olofsdotter, 1998; Xu, 2000; Bengoa và SanchezRobles, 2003 và Bhattacharya et al., 2004) và khoảng cách công nghệ (Sjoholm,
1999; Glass và Saggi, 1998).
Từ đánh giá kết quả các nghiên cứu trong nước cũng như nước ngoài, liệu có mối
quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế trong điều kiện vùng ở Việt Nam hiện nay.
Đây là câu hỏi lớn cần giải quyết một cách thấu đáo, thể hiện sự chuyển hóa dữ liệu
quốc gia thành dữ liệu vùng. Từ đó khuyến nghị chính sách phù hợp ở các không
gian khác nhau nhằm phát huy mối quan hệ tích cực giữa FDI và tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam.


- 15 -

7. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận án, phương pháp nghiên cứu định lượng
được sử dụng trên cơ sở mô hình lý thuyết Cobb-Douglas và được mở rộng với tập
hợp các biến tác động đến tăng trưởng kinh tế. Đồng thời nghiên cứu thực nghiệm
các yếu tố thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam, với dữ liệu thứ cấp từ Tổng Cục
Thống kê giai đoạn 1997-2012 và không gian của 43 tỉnh/thành Việt Nam.
Để trả lời câu hỏi thứ nhất: FDI tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế Việt
Nam xét ở khía cạnh vùng và tổng thể vùng. Dựa vào mô hình thực nghiệm tăng
trưởng kinh tế, đề tài luận án tiến hành kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger
giữa FDI với các biến có quan hệ với tăng trưởng kinh tế để đánh giá tác động lan
tỏa của dòng vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế. Sau đó tiến hành ước lượng GMM
sai phân của Arellano-Bond (1991) để đánh giá tác động của FDI lên tăng trưởng
kinh tế trong điều kiện xử lý các vấn đề nội sinh và tự tương quan trong mô hình.


Xác định khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu lý thuyết
(Lý thuyết FDI-tăng trưởng kinh tế; mô hình hồi quy)

Xác định mô hình thực nghiệm
(Mô hình hồi quy bội)

Thu thập và kiểm tra dữ liệu
(Dữ liệu thứ cấp và kiểm tra thuộc tính dữ liệu)

Hồi quy mô hình thực nghiệm
(Kiểm định Granger, hồi quy theo phương pháp GMM Arellano-Bond và PMG)
Hình 1. Quy trình nghiên cứu
Nguồn: Tác giả đề xuất

8. Kết cấu đề tài
Nội dung của đề tài luận án được cơ cấu thành các phần, chương để thực hiện mục
tiêu nghiên cứu cũng như để trả lời các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra. Trong đó,
cơ cấu các phần hướng đến nhấn mạnh phần phương pháp nghiên cứu theo lý thuyết


- 17 -

cũng như phương pháp nghiên cứu khám phát thực tiễn từ dữ liệu của Việt Nam.
Theo đó, luận án bao gồm phần tổng quan, đến lược khảo lý thuyết phục vụ nghiên
cứu. Từ đó, xác định mô hình lý thuyết, xây dựng mô hình thực nghiệm, xử lý mô
hình thực nghiệm, kiểm định mô hình, thảo luận kết quả ước lượng và gợi ý các
chính sách để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời thu hút dòng chảy FDI vào
Việt Nam. Đề tài luận án cũng rút ra các kết luận, nhận dạng những hạn chế và xác
định hướng nghiên cứu tiếp theo. Cụ thể nội dung nghiên cứu của đề tài luận án bao

FDI

Khả năng hấp thụ

Các nhân tố
điều kiện

Lan tỏa
Cạnh tranh

Gắn kết

Kỹ năng

Học hỏi

Tác động gián tiếp
Đầu tư trong nước
Tác động phản hồi

Tác động trực tiếp

Tăng trưởng kinh tế

Hình 1.1 Các kênh tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế
Nguồn: Bhissum Nowbutsing (2009)


- 19 -



1.2. Tác động của dòng vốn FDI lên tăng trưởng kinh tế
1.2.1. Lý thuyết tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế
Lý thuyết tăng trưởng cung cấp cơ sở để giải thích tăng trưởng kinh tế toàn cầu, là
phương tiện để tìm hiểu các yếu tố tạo nên tăng trưởng kinh tế trong một nước
thông qua việc cung cấp các mô hình, cơ chế giải thích và khuôn khổ dự đoán.
Nhiều nỗ lực lý thuyết và thực nghiệm đã xác định các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế để đề xuất hoạch định chính sách thu hẹp khoảng cách giữa các nước phát
triển và đang phát triển, tạo ra phát triển bền vững (De Jager, 2004). Do đó, phần
này tập trung vào sự phát triển lý thuyết, chủ yếu là lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh
và lý thuyết tăng trưởng nội sinh để đánh giá sự đóng góp của dòng vốn FDI vào
tăng trưởng kinh tế ở nước nhận đầu tư.
Lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh
Lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh, thường được gọi là mô hình tăng trưởng tân cổ
điển hoặc mô hình tăng trưởng Solow-Swan đi tiên phong bởi Solow (1956). Lý
thuyết này cho rằng kinh tế tăng trưởng được tạo ra thông qua các yếu tố ngoại sinh
của các chức năng sản xuất như tích lũy vốn và lao động. Barro và Sala-I-Martin
(1995) chứng minh rằng có mối quan hệ tích cực giữa tăng trưởng kinh tế và tích
lũy vốn theo thời gian. Lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh cho rằng FDI làm gia tăng
vốn ở nước sở tại và sau đó thúc đẩy kinh tế tăng trưởng hướng tới trạng thái ổn
định mới bằng cách tích tụ vốn. Theo lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh thì FDI tác
động đến tăng trưởng kinh tế thông qua tác động đến đầu tư trong nước (Herzer et
al., 2008).
Lý thuyết tăng trưởng nội sinh
Vào giữa những năm 1980, lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh đã trở thành lý thuyết
không phù hợp trong việc giải thích các yếu tố quyết định tăng trưởng dài hạn
(Barro và Sala-I-Martin, 1995). Vì vậy, lý thuyết tăng trưởng nội sinh, tiên phong
bởi Romer (1986), trong đó tập trung vào hai yếu tố: tăng trưởng kinh tế có nguồn
gốc từ nguồn nhân lực và sau đó từ thay đổi công nghệ (De Jager, 2004).


dòng chảy vốn. Thứ hai, đi tiên phong bởi Hymer (1960) với lý thuyết tổ chức công
nghiệp. Đóng góp quan trọng khác được thực hiện bởi Buckley và Casson (1976),


- 22 -

Caves (1971), Dunning (1973), Kindleberger (1969) và Vernon (1966). Cách tiếp
cận này là kết quả của sự không hoàn hảo của thị trường hàng hóa hoặc các yếu tố
công nghệ hoặc một số can thiệp về cạnh tranh bởi chính phủ hoặc doanh nghiệp,
thường tập trung vào các tác động trực tiếp hoặc tác động lan tỏa.
Trong những năm gần đây, FDI đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong việc
tích lũy vốn và tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển. Dòng vốn FDI được
biết đến như là một gói tổng hợp của chứng khoán vốn, bí quyết và công nghệ (De
Mello, 1997). Dòng vốn FDI có thể giúp tăng trưởng kinh tế bằng cách tăng cường
tiết kiệm trong nước, sau đó tăng cường tích lũy trong nền kinh tế nước nhận đầu tư.
De Mello (1997) cho biết thêm rằng FDI tăng cường tăng trưởng thông qua vốn tích
lũy, sử dụng đa dạng hơn các sản phẩm trung gian trong sản xuất của các dự án FDI
liên quan và phát triển công nghệ.
Blomstrom và Kokko (1998) lập luận rằng khi các công ty đa quốc gia thành lập các
chi nhánh bên ngoài đất nước họ là khác nhau từ các công ty hiện có trong nền kinh
tế nước tiếp nhận đầu tư vì hai lý do. Đầu tiên, các dự án FDI mang đến nước nhận
đầu tư công nghệ độc quyền của họ, công nghệ này tạo nên lợi thế cho công ty cụ
thể của họ và cho phép họ cạnh tranh thành công với các công ty trong nước hiện tại
khác có lợi thế của thị trường trong nước, sở thích của người tiêu dùng và thực tiễn
kinh doanh. Lý do thứ hai, sự xâm nhập và hiện diện của các chi nhánh công ty đa
quốc gia làm nhiễu loạn trạng thái cân bằng hiện có trên thị trường và buộc các
doanh nghiệp trong nước phải hành động để bảo vệ thị phần và lợi nhuận của họ.
Borensztien et al. (1998) thấy rằng FDI, như là một phương tiện quan trọng cho
việc chuyển giao công nghệ với một ngưỡng tối thiểu của vốn cổ phần ở nước sở
tại, góp phần làm tăng trưởng kinh tế hơn so với đầu tư trong nước. Bên cạnh đó,

nghiệp của họ bằng cách tiếp thu công nghệ mới trong sản xuất. Athukorala và
Menon (1995) cho thấy FDI tác động đến Malaysia về chuyển giao công nghệ và
cải thiện kỹ năng của lực lượng lao động. FDI cũng góp phần gián tiếp đến tăng
trưởng thông qua các doanh nghiệp trong nước cạnh tranh với các chi nhánh nước


- 24 -

ngoài và sự phổ biến của kỹ năng lao động trong nền kinh tế khi các nhân viên di
chuyển đến các công ty thuộc sở hữu trong nước.
FDI không chỉ gia tăng cung cấp vốn ở các nước tiếp nhận mà còn đưa đến các hiệu
ứng lan tỏa thông qua rất nhiều kênh như sao chép, học hỏi kỹ năng, cạnh tranh và
xuất khẩu (Gorg và Greenaway, 2004). Ramirez (2000) nghiên cứu FDI tác động
đến tăng trưởng kinh tế Mexico, giai đoạn 1960-1995 với phương pháp hiệu chỉnh
sai số. Kết quả ghi nhận tác động tích cực của FDI đến kinh tế Mexico thông qua
năng suất lao động. Bende-Nabende và Ford (1998) dùng dữ liệu của Đài Loan giai
đoạn 1959-1995 với phương pháp ước lượng 3SLS để nghiên cứu FDI, điều chỉnh
chính sách và tăng trưởng ở Đài Loan. Kết quả, FDI tác động tích cực đến kinh tế
Đài Loan.
Kim và Seo (2003) sử dụng dữ liệu ở Hàn Quốc giai đoạn 1985-1999, cho thấy tác
động tích cực mạnh mẽ từ tốc độ tăng trưởng GDP tới FDI và không tồn tại tác
động của FDI tới tăng trưởng kinh tế nhưng FDI góp phần tăng trưởng đầu tư trong
nước, thể hiện tác động lan tỏa của dòng vốn FDI. Akinlo (2004) dùng dữ liệu ở
Nigeria giai đoạn 1970-2001 để nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng
kinh tế, cho thấy FDI tác động đến kinh tế Nigeria. Dritsaki et al. (2004) phát hiện
tác động một chiều từ FDI đến xuất khẩu và từ FDI đến GDP thực ở Hy Lạp bằng
cách sử dụng dữ liệu hàng năm của IMF giai đoạn 1960-2002. Fedderke và Romm
(2006) dùng dữ liệu giai đoạn 1956-2003 ở Nam Phi, cho thấy dòng vốn FDI vào
Nam Phi chủ yếu theo chiều ngang thay vì theo chiều dọc.
Gần đây, Mihai Daniel Roman và Andrei Padureanu (2012) đề xuất mô hình cho

Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy hiệu quả tác động của FDI đến tăng trưởng
kinh tế không phải là tự động, nó phụ thuộc vào một số yếu tố nhất định (quy mô thị
trường, nguồn nhân lực, lợi thế so sánh, độ mở thương mại, khoảng cách công nghệ,
thị trường tài chính, yếu tố văn hóa và thể chế). Điều đó góp phần lý giải tại sao tác
động của dòng vốn FDI là hoàn toàn khác nhau giữa các quốc gia có cùng mức độ
phát triển, cùng lĩnh vực và cùng loại công ty.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status