MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO Ở HỌC VIỆN NGÂN HÀNG -PHÂN VIỆN PHÚ YÊN TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN SANG ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ - Pdf 35

" MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
Ở HỌC VIỆN NGÂN HÀNG -PHÂN VIỆN PHÚ YÊN TRONG QUÁ
TRÌNH CHUYỂN SANG ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ "
NGUYỄN QUỐC LẬP
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG-PHÂN VIỆN PHÚ YÊN

Chất lượng đào tạo là một nội dung cơ bản thể hiện uy tín và quyết định sự
tồn tại, phát triển của một nền giáo dục một cơ sở đào tạo. Nhằm phát triển nền
giáo dục Đại học Việt Nam, phục vụ tốt cho đẩy mạnh công nghiệp hóa -hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế, ngày 2/11/2005, Chính phủ ra Nghị quyết số
14/2005/NQ về Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục Đại học Việt Nam giai
đoạn 2006-2020. Thực hiện Nghị quyết nói trên của Chính phủ, Bộ Giáo dục &
Đào tạo đã ban hành "Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo
hệ thống Tín chỉ " kèm theo Quyết định số 43/2007-QĐ-BGDĐT ngày
15/8/2007 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục & đào tạo .
Từ năm học 2008-2009 đào tạo theo hệ thống Tín chỉ được triển khai
trong tất cả các Trường Đại học và Cao đẳng toàn quốc ; việc thực hiện đào tạo
theo hệ thống Tín chỉ đối với giáo dục Đại học là một tất yếu trong quá trình hội
nhập quốc tế. Tuy vậy, đây cũng là một quá trình có nhiều nội dung còn mới mẻ
trong quá trình giáo dục Đại học ở nước ta, mặc dù đã có sự thử nghiệm ở một số
Trường Đại học trong thời gian qua.
Từ đào tạo theo niên chế chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ là cả
một quá trình phức tạp, cần có thời gian kiểm chứng. Nó đòi hỏi hàng loạt nội
dung cần phải đổi mới và đổi mới một cách đồng bộ, toàn diện. Đó là :
-Đổi mới mô hình quản lý đào tạo.
-Đổi mới chương trình đào tạo.
-Đổi mới giáo trình tất cả các môn học.
-Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy người học làm trọng
tâm.
-Đổi mới việc hướng dẫn kiểm tra , thi học phần ; đánh giá việc tự học, tự
nghiên cứu và kết quả học tập của sinh viên khi áp dụng hệ thống tín chỉ.

Có thể nói từ sau năm 2005 đến nay số lượng giáo viên và trình độ chuyên
môn của đội ngũ giáo viên được nâng cao. Đến 2009 cơ cấu trình độ chuyên môn
ở các Khoa và Bộ môn đã có sự phát triển tốt, thể hiện qua số giáo viên có trình
độ sau Đại học và đang học sau Đại học.
CÁC KHOA VÀ BỘ MÔN

01. Khoa Ngân hàng
02. Khoa Tài chính
03. Khoa Kế toán -Kiểm toán
04. Bộ môn chính trị
05. Bộ môn cơ bản

TỔNG SỐ GIÁO
VIÊN

11
08
11
08
06
44

TỶ LỆ SAU ĐẠI HỌC VÀ ĐANG
HỌC SAU ĐẠI HỌC

72,7%
50,0%
54,6%
75,0%
66,7%

việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy mang tính phổ biến.
1.1.2/Đối với học sinh- sinh viên :
Các khóa , các lớp đã có nhiều cố gắng trong việc tiếp cận với môi trường
chuyên nghiệp cải tiến phương pháp học để đạt kết quả tốt. Nhiều lớp , trong đó
chủ yếu là những lớp Cao đẳng chính quy, Liên thông Cao đẳng có tỷ lệ học tập
khá, giỏi cao đạt từ 32% đến gần 53% giảm tỷ lệ yếu kém . Các lớp Liên thông
Cao đẳng không có sinh viên yếu.
Ở nhiều lớp đã xuất hiện phương pháp học nhóm có hiệu quả; học tập
thông qua tìm kiếm thông tin qua các Website có liên quan đến nội dung học tập
dần lan rộng.
1.1.3/ Các điều kiện vật chất như Hội trường học, các phương tiện hiện
đại phục vụ giảng dạy được Phân viện quan tâm và ngày càng được tăng lên,
phục vụ tương đối kịp thời, có hiệu quả cho công tác đào tạo.
1.2-Những tồn tại, nhược điểm :
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được , công tác giảng dạy và học tập vẫn
còn những bất cập, hạn chế.
1.2.1/ Trước hết đó là đội ngũ cán bộ giảng dạy: Vẫn còn thiếu nhiều về số
lượng và chất lượng chưa đáp ứng được nhu cầu đổi mới và phát triển cả hiện
tại và trong tương lai gần. Giáo viên chủ yếu có trình độ là Thạc sĩ chưa nhiều và
chưa có giáo viên tốt nghiệp NCS có bằng Tiến sĩ, hầu hết được đào tạo trong
nước. Những năm gần đây (từ 2007 đến nay) đã có 4 Thạc sĩ đã chuyển ra thực
tế do nhiều nguyên nhân khác nhau. Việc tuyển dụng giảng viên gặp nhiều khó
khăn chưa đạt chỉ tiêu hàng năm.
Việc đổi mới phương pháp dạy học đã được triển khai những năm qua,
nhưng chưa tạo được tính đồng bộ và thực hiện chưa triệt để ở tất cả các Khoa ,
Bộ môn , tất cả giáo viên. Một số giáo viên sử dụng phương pháp truyền thống
thuyết trình độc thoại là chủ yếu. Cách thức giảng còn thiên về lý luận , thiếu
thực tiễn, chưa tìm ra và áp dụng những phương thức giúp HSSV chủ động hơn
trong tiếp thu kiến thức, sử dụng kiến thức lĩnh hội được để phân tích, luân giải
3

tự, song tỷ lệ học đúng nguyện vọng cao hơn, chiếm khoảng từ 70 đến 80%.
Thời gian dành cho tự nghiên cứu sau giờ lên lớp chưa được HSSV tận
dụng triệt để , lãng phí thời gian nhiều vào các hoạt động khác.
Mục đích học tập của sinh viên còn mang nặng tính thi cử, trả nợ xong
môn học, ở một số môn học nhất là những môn Lý luận chính trị sinh viên tỏ ra
thiếu hào hứng, nhiều sinh viên tỏ ra thờ ơ, chán học những môn này.
-HSSV chưa tìm ra được những phương pháp học phù hợp, vẫn còn quen
với cách học ở phổ thông Trung học là học thuộc lòng, trong khi nội dung môn
học khá lớn nên không theo kịp.
Học theo nhóm và học trên mạng Internet được xem là những phương
pháp học có nhiều ưu điểm những cũng rất ít HSSV áp dụng.
1.2.3/ Về chương trình đào tạo đã được cải tiến, giáo trình đã được biên
soạn chỉnh sửa đổi mới về nội dung, nhưng nội dung vẫn còn những vấn đề chưa
đáp ứng được yêu cầu thực tiễn , yêu cầu của người học.
1.2.4/ Về cơ sở vật chất: Mặc dù trong những năm qua nhờ sự giúp đỡ của
Học viện qua sự cố gắng của chúng ta, đã tạo nên những bước đột phá mới trong
xây dựng Hội trường, Thư viện , phương tiện giảng dạy hiện đại, nhưng vẫn
chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu đổi mới chất lượng đào tạo; trong đó có sự
đáp ứng đối với đổi mới phương pháp giảng dạy.
4


Để khắc phục những hạn chế , nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và học ở
HVNH-Phân viện Phú Yên trong quá trình chuyển sang đào tạo theo học chế tín
chỉ , chúng tôi đề xuất một số giải pháp chủ yếu sau :
2-Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo ở HVNH-Phân viện
Phú Yên trong quá trình chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ.
2.1/ Mục tiêu, định hướng phát triển của HVNH-Phân viện Phú Yên :
Ngay từ những năm đầu khi chuyển sang mô hình hoạt động mới Học viện
Ngân hàng-Phân viện Phú Yên (1998) đã đặt quyết tâm xây dựng và phát triển

Chúng ta đang thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh “ Thực hiện cuộc vận động “Hai không “ với 4 nội dung
Triển khai thực hiện quy định về đạo đức nhà giáo ban hành kèm theo Quyết
5


định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/4/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào
tạo ; trong đó chú trọng phẩm chất chính trị -đạo đức nghề nghiệp.
Triển khai thực hiện nghiêm túc những nội dung trên đây bằng nhiều
phương pháp hình thức phù hợp. Thông qua sự kết hợp chặt chẽ giữa chính
quyền , Công đoàn cơ sở và Đoàn TNCS dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ sẽ tạo ra
sự chuyển biến mạnh mẽ về phẩm chất chính trị và đạo đức của CBGV nói
chung, đội ngũ giáo viên nói riêng, nhằm giảm bớt những hạn chế tiêu cực trong
quá trình đào tạo.
Ý thức tự giác, vượt khó vươn lên mang tính tự chủ sáng tạo của mỗi
CBGV, thầy cô giáo được xem là động lực chủ yếu và quyết định cho sự thành
công của công tác đào tạo.
2.2.2/ Tăng cường về số lượng, nâng cao chất lượng chuyên môn của
đội ngũ giảng viên :
Đội ngũ giáo viên hiện nay ở Phân viện như đã trình bày trên vẫn còn
thiếu so với nhu cầu đào tạo trong tương lai, trong đó đặc biệt thiếu những giáo
viên chuyên ngành giỏi và những giảng viên có năng lực giảng dạy Đại học, Cao
đẳng chính quy theo tiêu chuẩn của Bộ GDĐT. Việc xây dựng được một đội ngũ
giảng viên có chất lượng cao là cả một quá trình lâu dài và phức tạp. Đến 2015
tối thiểu Phân viện phải có từ 100 đến 125 GV, trong đó 60% có trình độ sau Đại
học (trong đó có trên 20TS) mới có thể đạt được những yêu cầu cơ bản của đào
tạo Cao đẳng và Đại học chính quy có quy mô từ 400 SV đến 500 SV.
Cần có sự lựa chọn những giáo viên trẻ tốt nghiệp Thạc sĩ có kết quả tốt
tiếp tục NCS trong nước, ngoài nước và trong tương lai gần tăng nhanh số lượng
NCS và tốt nghiệp có bằng Tiến sĩ. Muốn đạt được điều đó cần có sự hỗ trợ tích

Giáo viên cần phải đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực
hóa hơn nữa quá trình học tập của sinh viên, phải tạo ra được cơ chế buộc sinh
viên phải tham khảo tài liệu , chủ động nắm bắt nội dung môn học một cách sâu
sắc và nhanh.
Chúng ta đều hiểu rằng : Nghề dạy học là một nghề cao quý, là một nghề
hết sức sáng tạo, công cuộc đổi mới phương pháp dạy học sẽ không có kết thúc ,
không có điểm dừng. Đồng thời đổi mới phương pháp dạy học phải mang tính
đồng bộ.
Vận dụng tư tưởng dạy học tích cực lấy người học làm trọng tâm khi tổ
chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ cần phải triển khai đồng bộ các bước :
1-Thiết kế lại chương trình đào tạo
2-Tổ chức lại quá trình đào tạo.
3-Triệt để đổi mới phương pháp dạy học.
Tiến trình nêu trên diễn ra đồng bộ; dạy học lấy người học làm trọng tâm
cần được hiểu một cách toàn diện là mọi người từ nhà quản lý đến giảng
viên,nhân viên; chương trình, giáo trình , cách thức tổ chức hoạt động dạy học và
các điều kiện cơ sở vật chất , thiết bị dạy học ...đều phải hướng vào lợi ích tối đa
của người học.
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, chủ động của sinh
viên cần theo hướng cơ bản sau :
-Đổi mới Phương pháp thuyết giảng.
-Coi trọng các buổi thực hành, thực tế .
Mỗi giảng viên cần chú trọng kỹ thuật giảng dạy trên lớp, được thể hiện
qua năng lực và thực hiện năng lực thuyết giảng có sự lôi cuốn sinh viên; tạo
không khí sôi nổi , thân thiện; say mê cảm hứng với nội dung bài giảng được
trình bày , tạo sự chú ý phấn khởi của sinh viên qua giọng nói truyền cảm lôi
cuốn, thuật ngữ sử dụng chính xác, rõ ràng ở các khái niệm. Luận đề, kỹ năng
thuyết giảng đạt kết quả cao khi hội đủ 4 yếu tố : chính xác, thực tế , hấp dẫn,
thuyết phục.
Đồng thời giảng viên phải phối hợp nhuần nhuyễn, hữu hiệu các phương

2.2.4/ Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả chất lượng dạy học
của đội ngũ giảng viên:
Chất lượng giảng dạy không những là cơ sở để đánh giá việc hoàn thành
nhiệm vụ ở mức độ cao nào, của giảng viên mà đồng thời nó là yếu tố quan trọng
nhất để đánh giá vai trò và tác dụng của giảng viên đó trong mỗi Khoa, Bộ môn
và trong toàn đội ngũ cán bộ giảng dạy. Nó đồng thời là căn cứ để chúng ta xem
xét đánh giá làm căn cứ cho việc xác định lương và phụ cấp lương trong tiến
trình cải cách tiền lương và phụ cấp lương cao hay thấp cho mỗi giảng viên: Thể
hiện uy tín của giảng viên đó.
Để làm được điều đó và tạo ra sự công bằng dân chủ trong đánh giá hiệu
quả, chất lượng giảng dạy, chúng ta cần xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu
quả chất lượng dạy học.
Hiện nay đã có một số tiêu chí đánh giá về số lượng, chất lượng giảng dạy
như số tiết giảng trong năm , kết quả học tập, của HSSV … nhưng vẫn còn thiếu
cụ thể.
Để có hệ thống tiêu chí chuẩn mực cần xây dựng những tiêu chí thể hiện
cả năng lực và thể hiện năng lực đó trong thực hiện giảng dạy. Thể hiện cả số
8


lượng và chất lượng tương quan giữa giáo viên và HSSV chẳng hạn về năng lực
cần đưa ra tiêu chí :
+Năng lực tư duy mang tính lô gíc và sáng tạo trong chuẩn mực và thực
hiện giảng dạy.
+Năng lực quản lý lớp học.
+Năng lực ứng dụng hợp lý, sáng tạo các phương tiện giảng dạy truyền
thống và phương tiện hiện đại (Projector, Internet…)
Trong tiêu chí đánh giá hiệu quả, chất lượng giảng dạy ngoài kết quả học
tập của HSSV cần cụ thể hóa thêm một số tiêu chí như đưa ra tiêu chí:
+Thực hiện năng lực thuyết trình bài giảng.

giảng dạy, học tập.
9


Trong việc ứng dụng công nghệ thông tin , nếu có điều kiện có thể nối
mạng Internet ở các phòng học. Điều này giúp cho giảng viên khi đề cập thực
tiễn hay minh họa cho những nội dung bài giảng có thể sử dụng mạng được
nhanh chóng và hữu hiệu. Đồng thời qua đó giúp cho HSSV tiếp cận ngày cách
khai thác và nhanh chóng tìm các nội dung ở trên mạng Internet.
2.5.7/ Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả quản lý của lãnh đạo Khoa, Bộ
môn trong điều hành hoạt động đào tạo.
Đội ngũ cán bộ lãnh đạo các Khoa, Bộ môn không những đòi hỏi có năng
lực chuyên môn cao; mà còn phải có năng lực và thể hiện tốt năng lực đó trong
điều hành giảng dạy, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác của Khoa, Bộ
môn.
Có thể có trường hợp cán bộ lãnh đạo Khoa, Bộ môn không có được cả
năng lực về chuyên môn và điều hành mà chỉ có năng lực chuyên môn cao.
Chính vì vậy cần phải sớm phát hiện và kịp thời bồi dưỡng năng lực điều hành
cho họ.
Ngoài ra cán bộ lãnh đạo mỗi Khoa, Bộ môn cần có sự linh hoạt trong
quan hệ hợp tác với các Khoa, Bộ môn khác với Phòng Đào tạo và các phòng
khác có liên quan khi thực thi nhiệm vụ đào tạo của mình.
3-Một số kiến nghị :
3.1-Học viện Ngân hàng -Phân viện Phú Yên vẫn tiếp tục cần sự hỗ trợ
giúp đỡ về mọi mặt của Học viện Ngân hàng. Trong đó trọng tâm là triển khai
từng bước quá trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ . Trên cơ sở tăng số lượng
tuyển sinh Cao đẳng và Đại học chính quy từ năm học 2010-2011 trở đi.
-Học viện Ngân hàng Hà Nội cần có những quy định cụ thể trong phân
cấp quản lý, đào tạo cho Phân viện. Đồng thời tăng cường sự phối hợp chặt chẽ
hơn nữa giữa các Khoa, Bộ môn của Học viện với Khoa, Bộ môn của Phân viện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status