104 các quy định của pháp luật về chủ thể giao kết hợp đồng lao động - Pdf 35

BÀI LÀM:
I.

LỜI NÓI ĐẦU

Việc trao đổi hàng hóa sức lao động không thể giống như các giao dịch hàng
hóa thông thường khác mà cần thiết phải có một hình thức pháp lý vừa tạo ra sự
lưu thông bình thường, thuận tiện vừa đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp các
bên trong quan hệ lao động. Hình thức pháp lý đó chính là hợp đồng lao động
(HĐLĐ). Và một trong những yếu tố không thể thiếu của HDLĐ yếu tố chủ thể.
Sau đây, em xin trình bày các quy định của pháp luật về chủ thể giao kết hợp
đồng lao độNg.
II.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

Nêu và phân tích các quy định hiện hành về chủ thể giao kết hợp đồng lao
động.
Theo quy định tại Điều 6, BLLĐ : “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi,
có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động. Người sử dụng lao động
là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân, nếu là cá nhân thì ít nhất phải đủ
18 tuổi, có thuê mướn, sử dụng và trả công lao động ”).Theo quy định này, để tham
gia giao kết hợp đồng lao động, công dân cần có năng lực pháp luật lao động và
năng lực hành vi lao động. Năng lực pháp luật lao động là khả năng mà pháp luật
quy định hay ghi nhận cho công dân có quyền làm việc, được làm việc, được
hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ của người lao động. Năng lực hành vi lao
động của công dân là khả năng bằng chính hành vi của mình trực tiếp tham gia
vào quan hệ lao động, tự mình hưởng quyền và gánh chịu các nghĩa vụ phát sinh
trong quan hệ đó. Năng lực hành vi của công dân được biểu thị qua hai yếu tố: thể





khả năng trả công lao động, tùy vào loại hình tổ chức,quy mô, tính chất...mà cần có
những điều kiện pháp lý nhất định. Tuy nhiên, bên SDLĐ bao giờ cũng phải tiến
hành giao kết hợp đồng lao động thông qua người đại diện hợp pháp của mình, đây
là những người đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi đầy đủ.
Tuy nhiên, ngoài những quy định chung nói trên, tùy từng trường hợp, đối
tượng mà pháp luật có những quy định riêng. Cụ thể:
- Đối với người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức ở Việt Nam,
theo quy định tại khoản 1 Điều 133; khoản 2 Điều 184 BLLĐ.
- Đối với người Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt
Nam, theo quy định tại Điều 131, 132 BLLĐ.
Ngoài ra, trong một số trường hợp pháp luật lại có những quy định có tính chất
ngoại lệ về điều kiện chủ thể của HĐLĐ. Không được sử dụng lao động nữ, lao
động tàn tật, lao động cao tuổi... làm những công việc mà pháp luật cấm.2
III. ĐÁNH GIÁ, KIẾN NGHỊ
Qua sự phân tích trên ta thấy: những quy định này một mặt thỏa mãn những đòi
hỏi khách quan của quan hệ lao động, mặt khác phúc đáp được nhu cầu của đời
sống kinh tế xã hội, đồng thời góp phần đảm bảo và giải quyết việc làm cho người
lao động.
Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 30 BLLĐ “Hợp đồng lao động được giao kết
trực tiếp giữa người lao động với người sử dụng lao động”. Trong điều kiện phát
triển như hiện nay cần phải có cách hiểu cho đúng. Nếu quan niện khi giao kết hợp
đồng nhất thiết các chủ thể phải trực tiếp gặp nhau bàn bạc, thương lượng, thỏa
thuận và ký kết hợp đồngthì hiện nay những quy định này đã không còn phù hợp.
Bởi trong thực tế, giao dich trong thị trường (kể cả tuyển dụng lao động) đều có thể
thực hiện qua phương tiện thông tin như; internet, điện thoại...Vì vậy điểm này

2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status