LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và
kết quả nghiên cứu sử dụng trong luận văn này là trung thực, nghiêm túc và
chưa được công bố và sử dụng trong bất kỳ một tài liệu khoa học nào. Mọi
thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày……tháng……năm 2010
Sinh viên
Trương Thị Ánh Nguyệt
i
LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông nghiệp Hà
Nội, đặc biệt trong thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô giáo trong
khoa kinh tế và phát triển nông thôn, đặc biệt là thầy giáo ThS. Lê Khắc Bộ,
người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các ông bà trong Ban giám đốc, nhân viên
các phòng Tài chính kế toán, phòng sản xuất và công nhân trong Xí nghiệp đã
tận tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập tại Xí nghiệp.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới bố mẹ, anh chị em, bạn bè và
những người thân đã hết sức giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần trong cả quá
trình học tập và rèn luyện.
Mặc dù đã hết sức có gắng nhưng trình độ, năng lực bản thân còn hạn
chế nên trong khóa luận của tôi chắc chắn không tránh khỏi sai sót, kính
mong các thầy giáo, cô giáo, các bạn sinh viên góp ý để nội dung nghiên cứu
này hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
từ năm 2007 - 2009.
Đề tài đã làm rõ một số lý luận có liên quan tới việc cung ứng, tiêu thụ
thóc giống, như các khái niệm về thị trường, kinh doanh, dịch vụ, đại lý, sản
phẩm, hiệu quả trong sản xuất kinh doanh…và phân loại các loại thóc giống.
Ngoài ra đề tài cũng nêu lên vị trí, vai trò và nhiệm vụ của quá trình cung
ứng, tiêu thụ thóc giống là rất quan trọng đối với doanh nghiệp cũng như đối
iii
với sự phát triển của xã hội. Qua đề tài chúng ta cũng có thể biết được tình
hình cung ứng và tiêu thụ thóc giống hiện nay ở nước ta và một số nước trong
khu vực như Ấn Độ, Inđonêxia, Thái Lan, Trung Quốc.
Xí nghiệp Giống cây trồng Yên Khê với lịch sử ra đời từ năm 1963 tiền
thân là một trại lợn giống của huyện Gia Lâm thuộc xã Tên Thường. Đến năm
1992 trại chuyển sang sản xuất giống lúa, hoa màu các loại và có tên là trại
lúa. Đến năm 2002 đổi tên thành Xí nghiệp giống cây trồng Yên Khê, và đến
năm 2004 được sát nhập vào Công ty Giống cây trồng Hà Nội theo Quyết
định số 6720/QĐ - UB ngày 28/9/2004 của UBND Thành phố Hà Nội. Từ đó
đến nay Xí nghiệp Giống cây trồng Yên Khê là một xí nghiệp với hình thức là
một đơn vị trực thuộc nhưng sử dụng phương pháp hạch toán kế toán độc lập
và tự chủ về tài chính. Nhiệm vụ của Xí nghiệp là: Khảo sát giống có tiềm
năng, năng suất cao đáp ứng nhu cầu về giống cây trồng trong địa bàn
thành phố Hà Nội, thay thế các giống cũ có năng suất không cao; Chọn lọc
lai tạo giống siêu nguyên chủng để sản xuất giống nguyên chủng; Sản xuất và
cung ứng các loại giống cây trồng: lúa, hoa màu (đỗ, ngô, tương, lạc, …),
giống hoa và cây xanh bóng mát các loại.
Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài
bao gồm phương pháp thu thập số liệu: số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp. Số
liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra, phỏng vấn trực tiếp ngẫu nhiên 40 hộ
5, tháng 6, tháng 11, tháng 12 hàng năm.
∗ Lượng tiêu thụ tăng cao làm cho tổng doanh thu, lợi nhuận qua 3 năm
tăng lên và khiến hiệu quả sử dụng vốn của Xí nghiệp cũng được nâng cao.
Doanh thu và lợi nhuận cao giúp Xí nghiệp có thể bổ xung vào nguồn vốn sản
xuất kinh doanh phục vụ cho quá trình tái sản xuất. Ngoài ra còn góp phần
bảo đảm thu nhập và đời sống cho cán bộ công nhân viên của Xí nghiệp,
khích lệ họ nhiệt tình hăng hái hơn trong sản xuất và thực hiện cung ứng –
tiêu thụ sản phẩm.
v
∗ Tuy nhiên, về hoạt động Marketing là hoạt động kém hiệu quả nhất của Xí
nghiệp, hầu như Xí nghiệp không có sự nghiên cứu thị trường một cách khoa
học và đầy đủ, chưa có chiến lược quảng cáo, tiếp thị nhằm quảng bá sản phẩm
của mình một phần cũng là do quy mô của Xí nghiệp nhỏ, việc quảng cáo sản
phẩm chỉ được thực hiện phần nào qua tổng công ty nhưng cũng không có hiệu
quả cao. Từ đó dẫn đến sự thiếu hiểu biết về thị trường, không nắm bắt được
hết nhu cầu sản phẩm, gây hạn chế, khó khăn trong khâu tiêu thụ.
Để có thể phát huy những mặt tích cực và khắc phục những hạn chế
còn tồn tại của Xí nghiệp chúng tôi đưa ra một số giải pháp như sau: Công tác
tạo nguồn, công tác tạo nguồn phải được hoạt động dựa trên nhu cầu, tập quán
canh tác của người nông dân và cơ cấu giống, mùa vụ trên địa bàn; Giải pháp
về chất lượng sản phẩm; Giải pháp về đa dạng hóa sản phẩm; Giải pháp về
nghiên cứu mở rộng thị trường; Giải pháp về giá cả; và một số giải pháp khác
như biện pháp tăng cường hoạt động yểm trợ tiêu thụ cũng là một giải pháp
tăng hiệu quả trong cung ứng tiêu thụ sản phẩm của Xí nghiệp...
Trong 3 năm qua, Xí nghiệp giống cây trồng Yên Khê đã thực hiện tốt
nhiệm vụ của mình là cung ứng – tiêu thụ thóc giống trên thị trường Hà Nội và
một số tỉnh khác. Khối lượng tiêu thụ thóc giống và mức độ đáp ứng của Xí
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...................................................................23
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.................................42
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................90
vii
DANH MỤC BẢNG
TÓM TẮT KHÓA LUẬN...............................................................................iii
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ......................................................................................1
Phần 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN...................................................5
VỀ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ THÓC GIỐNG................................................5
Phần
3:
ĐẶC
ĐIỂM
ĐỊA
BÀN
VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...................................................................23
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.................................42
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................90
PTNN
Phát triển nông thôn
NC
Nguyên chủng
SNC
Siêu nguyên chủng
TBKT
Tiến bộ kỹ thuật
XN
Xác nhận
KD
Khang dân
SL
Số lượng
CC
qua kinh nghiệm sản xuất từ hàng nghìn năm trước. Riêng với sản xuất lúa
thì yếu tố giống đóng vai trò tiền đề, quyết định 15 – 20% năng suất. Trong
những năm qua, việc đầu tư cho nghiên cứu và chọn tạo giống lúa lai ở nước
ta đã mang lại nhiều thành quả đáng khích lệ. Nhiều dòng, giống bố mẹ lúa
lai tốt đã được tạo ra. Ðây là những vật liệu quý cho phát triển lúa lai Việt
Nam trong những năm tiếp theo , góp phần không nhỏ trong việc phát triển
thị trường lúa gạo, bảo đảm hiệu quả kinh tế trên một đơn vị canh tác của
người nông dân và giữ vững an ninh lương thực quốc gia. Tuy nhiên, hiện
nay hệ thống cung ứng, tiêu thụ thóc giống còn chưa được quản lý và kiểm
soát chặt chẽ của nhà nước vì thế nó cũng chưa đáp ứng được nhu cầu của
thị trường. Có khi thừa, cũng có khi thiếu nông dân phải mua trôi nổi trên thị
trường với giá cao, chất lượng giống không đảm bảo. Ở nhiều địa phương
nông dân phải tự lo lấy, đa số họ chọn một loại lúa vụ trước đã cho năng
suất cao để làm giống cho vụ gieo sạ năm sau, chứ không theo một tiêu
chuẩn khoa học nào.
Trước đây, trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Các doanh
nghiệp không cần quan tâm tới việc cung ứng và tiêu thụ thóc giống, bởi
vì tất cả các doanh nghiệp đều theo chỉ tiêu pháp lệnh. Sản xuất bao
nhiêu, cung cấp cho ai đều do nhà nước quy định. Ngày nay, trong cơ
chế thị trường, hoạt động cung ứng và tiêu thụ sản phẩm quyết định hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, quyết định hướng
đầu tư kinh doanh như thế nào cho có hiệu quả và có chiến lược sản
phẩm thích hợp với từng thị trường. Về phía những người nông dân, việc
cung ứng thóc giống sẽ góp phần giúp nông dân phát triển sản xuất, nâng
1
cao thu nhập. Vì vậy, xây dựng và phát triển hệ thống cung ứng giống
nói chung và thóc giống nói riêng ở các Công ty giống cây trồng là rất
Trên cơ sở khảo sát tình hình cung ứng và tiêu thụ thóc giống, phân
tích các yếu tố tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh từ đó đề xuất giải
pháp đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ, tiếp tục phát triển và mở rộng thị trường
tiêu thụ thóc giống của Xí nghiệp Giống cây trồng Yên Khê.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về các vấn đề
cung ứng, hoạt động tiêu thụ thóc giống;
- Phân tích kết quả và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí
nghiệp Giống cây trồng Yên khê;
- Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ thóc giống của
Xí nghiệp Giống cây trồng Yên Khê;
-
Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ thóc giống cho Xí
nghiệp Giống cây trồng Yên Khê.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
• Các loại thóc giống được xí nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ như
giống nguyên chủng, giống siêu nguyên chủng, giống thuần, giống lai...;
• Hoạt động cung ứng, phân phối thóc giống của Xí nghiệp Giống cây trồng
Yên Khê; Các vấn đề về hoạt động tiêu thụ thóc giống của Xí nghiệp;
• Các vấn đề liên quan như các đại lý bán thóc giống, hộ nông dân mua
thóc giống, các đối thủ cạnh tranh của Xí nghiệp Giống cây trồng Yên Khê.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
• Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về quá trình sản xuất, cung
ứng, kinh doanh, dịch vụ thóc giống, kết quả và hiệu quả hoạt động tiêu thụ
thóc giống của Xí nghiệp Giống cây trồng Yên Khê.
3
đến khâu đưa hàng hóa dịch vụ đến tận tay người tiêu dùng.
Như vậy cung ứng là việc cung cấp sản phẩm hàng hóa cho thị trường
nhằm đáp ứng nhu cầu của người sản xuất và người tiêu dùng. Trong nền kinh
tế mở thì vấn đề cung ứng đang được các nhà sản xuất kinh doanh quan tâm.
Việc xác định các sản phẩm mà người tiêu dùng đang quan tâm có vai trò
quan trọng trong việc nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh cho đơn vị. Đây
chính là cầu nối trung gian giữa người bán hàng và người mua hàng. Với
người bán cung ứng tốt là chuyển được nhiều hàng hóa đến tận tay người tiêu
dùng, như vậy hiệu quả trong kinh doanh sẽ cao hơn. Người tiêu dùng có điều
kiện đề thỏa mãn nhu cầu của mình một cách tốt nhất mà không mất nhiều
5
thời gian để tìm kiếm, không phải đi xa mới mua được hàng hóa vì nơi nào có
nhu cầu cao về sản phẩm nào đó thì sẽ luôn được đáp ứng đầy đủ. Đặc biệt là
trong sản xuất nông nghiệp thì việc cung ứng kịp thời sẽ giúp nông dân đảm
bảo mùa vụ.
2.1.1.3 Kinh doanh
Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng
dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
2.1.1.4 Dịch vụ
Dịch vụ là những hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản
xuất, kinh doanh và sinh hoạt. Tùy theo trường hợp, dịch vụ bao gồm: Một
công việc ít nhiều chuyên môn hóa, việc sử dụng hẳn hay tạm thời một tài
sản, việc sử dụng phối hợp một tài sản lâu bền và sản phẩm của một công
việc, cho vay vốn.
Sản xuất, kinh doanh và dịch vụ tác động lẫn nhau chặt chẽ; Dịch vụ là
một điều kiện để phát triển sản xuất, kinh doanh. Dịch vụ pháp lý, tài chính,
+ Thị trường: Trong thị trường, người bán sẵn sàng bán sản phẩm hàng
hóa dịch vụ của mình với mức giá nào đó, họ có khả năng cung cấp hàng hóa,
dịch vụ; Còn người mua sẵn sàng mua hàng hóa, dịch vụ với khả năng thanh
toán của mình. Thông qua trao đổi nhu cầu hai bên được thỏa mãn.
2.1.1.6 Kênh phân phối
Để đưa sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng hay người
sử dụng cuối cùng thì hình thức tiêu thụ và mạng lưới tiêu thụ là vô cùng
quan trọng. Ngày nay, các DN đều cung cấp sản phẩm của mình qua kênh
phân phối. Hệ thống kênh phân phối sản phẩm được DN thực hiện thông
qua các tổ chức tham gia tiêu thụ sản phẩm. Việc xác định hệ thống kênh
tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc vào đặc điểm của từng loại sản phẩm, cũng
như chiến lược kinh doanh của DN để mang lại hiệu quả tốt nhất trong
hoạt động SXKD của DN.
7
Vì vậy, có thể mô tả kênh phân phối sản phẩm đơn giản là con đường
của sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng.
Theo quan điểm tổng quát: “Kênh phân phối là một tập hợp các DN và
cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình đưa sản phẩm
hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng” (Trang 320, giáo trình
marketting cơ bản, trường đại học kinh tế quốc dân). Có thể hiểu đây là một
nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động nhằm thoả mãn nhu
cầu của người mua và sẵn sàng để người tiêu dùng hoặc người sử dụng có
thể mua và sử dụng. Tất cả các cá nhân, thành viên tham gia vào kênh phân
phối được gọi là thành viên trong kênh.
Một kênh phân phối được bắt đầu bởi nhà sản xuất hoặc nhà cung ứng,
kết thúc bởi người tiêu dùng cuối cùng. Các thành viên nằm ở giữa gọi là các
trung gian của kênh, hay còn gọi là các trung gian thương mại. Một kênh có
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm
mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
∗ Doanh nghiệp nhà nước: Được ra đời theo sắc lệnh số 104, ngày
1/1/1948 với tên gọi ban đầu là doanh nghiệp quốc gia. Năm 1995 Quốc
hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành luật doanh nghiệp
nhà nước, năm 2003 văn bản luật này được thay thế bởi văn bản luật cùng
tên. Doanh nghiệp nhà nước được xác định là cùng với kinh tế tập thể giữ
vai trò chủ đạo để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế
nhiều thành phần của Việt Nam. Hiện nay chỉ còn lại khoảng 1/3 số doanh
nghiệp nhà nước so với trước đây, tạo ra chưa tới 40% GDP và đóng góp
hơn một nửa ngân sách nhà nước.
∗ Công ty: Do một tổ chức, cá nhân hoặc nhiều tổ chức, cá nhân góp vốn
để thực hiện các hoạt động sản xuất – kinh doanh.
∗ Doanh nghiệp tư nhân: Do một cá nhân đầu tư vốn thành lập và làm chủ.
9
2.1.1.9 Sản phẩm
Sản phẩm theo quan niệm truyền thống là tổng hợp các đặc tính vật lý,
hóa học, sinh học có thể quan sát được, dùng để thỏa mãn những nhu cầu cụ
thể của sản xuất và đời sống.
Theo quan điểm marketing hiện đại sản phẩm là bất cứ những gì có thể
đưa ra thị trường, gây được sự chú ý, được tiếp nhận, được tiêu thụ và sử
dụng để thỏa mãn một nhu cầu hay mong muốn của con người.
Chúng ta thường dùng các từ “sản phẩm” và “dịch vụ” để phân biệt
các vật thể vật chất và cái không nhìn thấy, sờ mó được. Nhưng suy cho
cùng tầm quan trọng của các sản phẩm vật chất không nằm nhiều ở chỗ
chúng ta có nó mà là ở chỗ chúng ta dùng nó để thỏa mãn mong muốn của
Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận. Trong lao động nói chung
hiệu quả lao động là năng suất lao động, được đánh giá bằng số lượng thời
gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc là bằng số lượng sản
phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian. Trong xã hội học, một hiện
tượng, một sự việc có hiệu quả xã hội, tức là có tác dụng tích cực đối với một
lĩnh vực xã hội, đối với sự phát triển của lĩnh vực đó.
Trong mọi hoạt động của con người đều liên quan đến vấn đề hiệu quả.
Hiệu quả là căn cứ để đánh giá bất kỳ hoạt động nào của con người, là căn cứ
để xác định những hoạt động tiếp theo. Khi cần đánh giá một hoạt động nào
đó người ta thường sử dụng chỉ tiêu hiệu quả để so sánh hoạt động này với
hoạt động khác. Hiệu quả là chỉ tiêu toàn diện nhất dùng để đánh giá chất
lượng của hoạt động, nó được đánh giá bằng nhiều mặt khác nhau trong một
tổng thể thống nhất. Tùy theo mục đích khác nhau mà mỗi người quan tâm
đến hiệu quả ở những khía cạnh khác nhau. Đối với một hoạt động nào đó thì
điều được các nhà kinh tế quan tâm đầu tiên đó là hiệu quả kinh tế mà hoạt
động đó mang lại, còn các nhà môi trường lại quan tâm đến hiệu quả môi
trường, …Tuy nhiên, để đánh giá toàn diện nhất thì hiệu quả của bất kỳ hoạt
động nào cũng nên được xem xét đánh giá trên cả ba mặt là: mặt kinh tế, mặt
xã hội và mặt môi trường.
11
2.1.1.12 Hiệu quả sản xuất kinh doanh
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình tái sản
xuất trải qua các giai đoạn T – H - … SX…- H – T ( Tiền – Hàng - …- Sản
xuất…- Hàng – Tiền). Doanh nghiệp dùng tiền mua vật tư, thiết bị, công
nghệ (giai đoạn liên quan đến sản xuất hàng hóa dự trữ), kết hợp với sức
lao động (giai đoạn sản xuất) tạo ra hàng hóa; bán hàng hóa đi thu tiền (giai
đoạn lưu thông phân phối) với mục đích thu được số tiền lớn hơn số tiền đã
Hiệu quả phân phối là việc nghiên cứu cách thức tổ chức quản lý khoa
học để với các yếu tố đầu vào cố định, người sản xuất có thể thu được lợi
nhuận tối đa.
Hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Có hiệu quả, doanh nghiệp mới có điều kiện để đầu tư đổi mới
thiết bị và công nghệ, sản xuất sản phẩm có chất lượng cao, giá thành thấp,
mở rộng thị trường tiêu thụ, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập, cải thiện
đời sống cho người lao động. Vì vậy, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, có ý nghĩa sống còn đến sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp.
2.1.2 Phân loại thóc giống
2.1.2.1 Giống siêu nguyên chủng
Giống siêu nguyên chủng là giống nhân ra từ giống tác giả hoặc phục
tráng từ hạt giống sản xuất, đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định của tiêu
chuẩn ngành hoặc tiêu chuẩn Việt Nam. Chất lượng hạt giống siêu nguyên
chủng là : Độ sạch > 99%; độ thuần= 100%; tỷ lệ nảy mầm > 80%; độ ẩm
99%; độ thuần> 99,95%; tỷ lệ nảy mầm >
80%; độ ẩm < 13,5%; số hạt cỏ dại < 5 hạt/ 1 kg hạt giống.
2.1.3.1 Vị trí
+ Sản phẩm thóc giống do doanh nghiệp sản xuất ra nhưng lại là tư
liệu sản xuất đối với người nông dân. Do vậy vấn đề cung ứng giống là
một vấn đề cần quan tâm bởi nó phụ thuộc rất nhiều yếu tố như giống có
năng xuất cao, chất lượng tốt bảo đảm nhiều dinh dưỡng; phù hợp với khí
hậu, điều kiện sinh thái môi trường của các vùng và khu vực. Từ đó doanh
nghiệp cần tổ chức cung ứng phù hợp, đồng thời đưa những tiến bộ mới
hướng dẫn kỹ thuật gieo cấy cho người nông dân.
+ Thóc giống có thể do người nông dân tự sản xuất ra, có thể được cung
ứng bằng các cơ sở dịch vụ. Như vậy hình thức tổ chức cung ứng rất đa dạng.
+ Người nông dân sẽ gặp rủi ro cao khi chất lượng thóc giống kém
(độ nảy mầm thấp do bị ẩm, tạp), do vậy các cơ sở sản xuất kinh doanh
thóc giống muốn kinh doanh bền vững phải tạo được uy tín về chất lượng
sản phẩm của mình đối với người nông dân.
+ Khả năng thanh toán của người nông dân yếu kém bởi đa số họ là
những người nghèo. Vì vậy phải có những phương thức cung ứng thóc
giống cho phù hợp như hỗ trợ, cho vay, khuyến nông cho người nông dân.
2.1.3.2 Vai trò
Trong sản xuất nông nghiệp giống là yếu tố đầu vào rất quan trọng,
nó quyết định đến năng suất, phẩm chất của sản phẩm và hiệu quả sản
xuất. So với các yếu tố đầu vào khác, giá giống tương đối rẻ nhưng lại cho
năng suất cao từ 12% - 15%. Trên thực tế với điều kiện như nhau, giống
tốt hơn có thể làm tăng năng suất cây trồng. Mặt khác sản xuất nông
nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, mùa vụ và đặc tính sinh
thái của từng loại cây trồng. Vì vậy, việc cung ứng đầy đủ, kịp thời giống
cho sản xuất là điều rất quan trọng và rất cần thiết. Nó có vai trò: làm tăng
sức mua của người nông dân, tạo động lực cho các ngành phát triển làm
15