Trường Cao đẳng nghề Yên Bái
Giáo trình môn: CTXH với người nghèo
BÀI 3: CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO, HỘ NGHÈO
1. Công tác xã hội cá nhân với người nghèo và hộ nghèo
Trong lịch sử phát triền nghề CTXH thế giới, phương pháp CTXH đầu tiên
được sử dụng là phương pháp CTXH cá nhân; trong đó đối tượng đầu tiên của
phương pháp này được sử dụng là tiếp xúc trực tiếp để hỗ trợ những cá nhân và gia
đình khó khăn về kinh tế, hỗ trợ họ tìm kiếm việc làm, tham vấn giúp họ tự chủ
trong cuộc sống và nâng cao tính tôn trọng bản thân.
Cho đến hiện nay, phương pháp CTXH cá nhân trở thành một phương pháp
khoa học mang tính chuyên nghiệp bao gồm hệ thống giá trị và phương pháp được
các NVXH chuyên nghiệp sử dụng; trong đó, các khái niệm về tâm lý xã hội, hành
vi và hệ thống được chuyển thành các kỹ năng giúp đỡ cá nhân và gia đình giải
quyết những vấn đề về nội tâm lý, quan hệ giữa các nhân, KTXH và môi trường
thông qua các mối quan hệ một - một. Với phương pháp này, NVXH sử dụng để hỗ
trợ cá nhân vượt qua khó khăn trong việc thực hiện chức năng xã hội của họ, trong
đó NVXH can thiệp giúp đỡ cá nhân giải quyết vấn đề trong mối quan hệ tương tác
với môi trường xã hội của cá nhân đó.
Theo cách tiếp cận giải quyết vấn đề của phương pháp CTXH cá nhân thì
“cá nhân” có thể được hiểu rộng hơn là một case hay một trường hợp cụ thể và cần
được quan tâm. Nghĩa là gia đình cũng được coi như một trường hợp (một case)
với các mối quan hệ đặc thù giữa các cá nhân trong gia đình đó. Vì thế, trong
phương pháp này, NVXH có điều kiện nhấn mạnh vào nguyên tắc cá thế hóa sự
giúp đỡ đối với thân chủ là một cá nhân hay đối với trường hợp là cả gia đình.
Trên thực tế, khi NVXH can thiệp giúp đỡ một cá nhân giải quyết vấn đề của
họ thì phải đặt mối quan hệ của cá nhân đó trong mối quan hệ với môi trường và cá
nhân đó đang tồn tại; trong đó có môi trường gia đình và môi trường xã hội rộng
hơn đang diễn ra các mối quan hệ xã hội tác động tới thân chủ. Khi tác nghiệp, thân
chủ cùng với mối quan hệ xã hội của thân chủ là mối quan tâm hàng đầu của
thông qua việc sử dụng các kiến thức về hành vi con người và môi trường, các
thuyết trong tâm lý học, các thuyết về gia đình...để hộ trợ và tham vấn tâm lý; đồng
thời huy động các nguồn lực xã hội, cộng đồng để giúp đối tượng giải quyết vấn đề
đang gặp phải. Đương nhiên khi giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết khó khăn,
còn đỏi hỏi NVXH phải sử dụng một số kỹ năng phù hợp, hiệu quả mới thấu hiểu
vấn đề và việc giúp đỡ mới thành công.
Như đã nêu ở trên, CTXH với cá nhân và gia đình của các NVXH được bắt
đầu từ sự giúp đỡ những người và gia đình nghèo, do đó tiến trình CTXH với
những đối tượng này cũng giống như tiến trình CTXH với người nghèo và hộ
nghèo.
1.1. Tiến trình công tác xã hội với người nghèo và hộ nghèo
Dù tiến trình CTXH với người và gia đình nghèo tương tự tiến trình CTXH
với cá nhân và gia đình nói chung, nhưng nó vẫn mang tính đặc thù và có tính phức
tạp riêng. Trước hết, họ có thể có những vấn đề tương tự như những cá nhân và gia
đình bình thường, nhưng đồng thời vấn đề đó lại ở người và gia đình nghèo, do đó
68
Trường Cao đẳng nghề Yên Bái
Giáo trình môn: CTXH với người nghèo
mối quan hệ của họ với môi trường có thể phức tạp và trầm trọng hơn nhiều. Mặt
khác, người nghèo và hộ nghèo lại có những đặc điểm tâm lý, xã hội đặc thù rất
khó giải quyết. Điều này đòi hỏi ở NVXH phải ý thức được để trong quá trình giúp
đỡ biết huy động kiến thức và sử dụng kỹ năng phù hợp.
Tiến trình CTXH với người và gia đình nghèo có các bước sau đây:
- Tiếp nhận đối tượng.
- Thu thập, phân tích thông tin, xác định vấn đề và nguyên nhân.
- Lập kế hoạch giải quyết vấn đề.
1.1.2. Thu thập, phân tích thông tin, xác định vấn đề và tìm nguyên nhân
Qua mỗi lần tiếp cận với người và gia đình nghèo, NVXH sẽ có được nhiều
thông tin. Các thông tin này có thể được từ các cuộc gặp gỡ chung với mọi thành
viên trong gia đình, cũng có thể được từ các cuộc gặp riêng lẻ từng thành viên. Bên
cạnh đó nguồn thông tin cũng có thể được khai thác từ môi trường xung quanh của
mỗi cá nhân và môi trường xung quanh của cả gia đình.
Khi làm việc với người và gia đình nghèo, NVXH cần chú ý một hoạt động
mang tính kỹ thuật và là yêu cầu của chuyên môn, đó là “vãng gia”. Việc vãng gia
là để tìm hiểu các thông tin cần thiết của người nghèo và gia đình của họ ( từ hoàn
cảnh bản thân, gia đình, tâm sự, nguyện vọng và các mối quan hệ, nguồn lực...),
trên cơ sở đó NVXH có thể hoạch định một chiến lược giúp đỡ họ hiệu quả và lâu
dài. Tuy nhiên, để có được một buổi vãng gia hiệu quả, NVXH cần sử dụng kết hợp
nhiều kỹ năng như: giao tiếp, thu thập và xử lý thông tin, ghi chép, vấn đàm...
Khi làm việc với người và gia đinh nghèo trong các hoàn cảnh sau đây,
NVXH cần có sự quan tâm phù hợp và đặc biệt, đáp ứng tính “đặc thù” của từng
đối tượng:
- Người và gia đình nghèo đơn thân.
70
Trường Cao đẳng nghề Yên Bái
Giáo trình môn: CTXH với người nghèo
- Người và gia đình nghèo đơn thân mà chủ hộ là phụ nữ.
- Người và gia đình nghèo đơn thân mà chủ hộ là phụ nữ nuôi con nhỏ.
- Người và gia đình nghèo có người tàn tật và nhất là tàn tật nặng.
- Người và gia đình nghèo có người gia cả ốm yếu, người ốm đau lâu ngày.
- Người và gia đình nghèo có thành viên mắc các tệ nạn xã hội.
- Người và gia đình nghèo có thành viên bị nhiễm hoặc ảnh hưởng bởi
Giáo trình môn: CTXH với người nghèo
NVXH cần thống nhất suy nghĩ, quan điểm của mọi thành viên trong gia
đình về vấn đề cơ bản của họ. Mỗi thành viên trong gia đình có nhận thức và quan
điểm khác nhau trước một vấn đề , nhất là vấn đề quan trọng của một thành viên
hay của cả gia đình. Vì vậy NVXH phải làm cho tất cả các thành viên trong gia
đình đồng nhất được về nhận thức và quan điểm trước vấn đề đó thì vấn đề mới
được tiếp tục bàn thảo để đưa ra các phương án giải quyết. Ví dụ, vấn đề nghèo đói
của một gia đình, người thì cho là thiếu vốn làm ăn, người thì bảo do không có kinh
nghiệm, lại có người cho rằng thời tiết không thuật lợi...( trong khi gia đình khác ở
đây cùng chịu thời tiết ấy họ lại có thể phát triển được sản xuất), vậy thì nguyên
nhân chủ yêu của cái nghèo ở gia đình này là gì?
Khi đã thống nhất quan điểm nhận thức của mọi thành viên trong gia đình
trước vấn đề của một thành viên hay của cả gia đình - kể cả của NVXH - thì NVXH
cần nhắc lại như là một kết luận trong cuộc trao đổi cho mọi người nhớ và trải
nghiệm vấn đề và nguyên nhân của vấn đề. Từ “sự trải nghiệm” đó mà mỗi người
có thể tự suy nghĩ đưa ra phương hướng giải quyết vấn đề, đây là tiền đề cho bước
tiếp theo của tiến trình.
Từ cách phân tích ở trên, trong hoạt động giúp đỡ, NVXH cần quan tâm đến
các nhóm nguyên nhân nghèo đói của các nhóm gia đình nghèo để xác định đúng
nhu cầu cần hỗ trợ. Ví dụ: nhóm gia đình nghèo là phụ nữ, họ cần vốn hay tư liêu
sản xuất hoặc lao động; nhóm gia đình có người khuyết tật. họ cần phục hồi chức
năng hay cần có vốn đề tự tổ chức việc làm phù hợp với lao động khuyết tật...
1.1.3. Lập kế hoạch giải quyết vấn đề
Nguyên tắc cơ bản trong CTXH là giành quyền tự quyết cho thân chủ, do
vậy, khi vấn đề và nguyên nhân của vấn đề được xác định thì NVXH tạo điều kiện
để mọi thành viên trong gia đình của người nghèo có thể trình bày các hướng giải
quyết vấn đề. NVXH có vài trò của một nhà tham vấn viên giúp các thành viên đưa
ra và lựa chọn được kế hoạch giải quyết vấn đề tốt nhất.
gia đình người nghèo thực hiện như đã được thống nhất. Trong quá trình thực hiện
kế hoạch giup đỡ này, NVXH phải theo sát cá nhân hay gia đình để tham vấn, có
những điều chỉnh cần thiết khi có những “trục trặc” xảy ra hoặc để động viên
khuyến khích kịp thời, củng cố niềm tin cho cá nhân hoặc gia đình trong từng bước
thay đổi tích cực, hoặc họ tiếp tục là cầu nối để giúp cá nhân hay gia đình tiếp cận
được tốt hơn với nguồn lực bên ngoài như vốn liếng, các thủ tục pháp lý cần thiết...
1.1.5. Đánh giá thực hiện kế hoạch
Đây là bước diễn ra xem xét kết quả các hoạt động trong việc thực hiến kế
hoạch giúp đỡ đối tượng đạt ở mức nào so với mục tiêu đặt ra. Kết quả đạt được
mục tiêu hay không đạt được mục tiêu cũng phải có đánh giá khi kết thúc thời gian
thực hiện kế hoạch.
Đánh giá giúp cho người được giúp đỡ và NVXH nhìn nhận được kết quả
thực hiện kế hoạch, qua đó cả hai phía có được bài học kinh nghiệm và được trải
nghiệm với những kết quả đó để có những hoạt động tích cực và hiệu quả hơn
trong thời gian tới. Ở đây NVXH cần có những phân tich sâu sắc mang tính khuyến
khích các hoạt động mà họ đã trải nghiệm thành công; đồng thời cũng chỉ ra các
suy nghĩ và hành động chưa mang lại kết quả như mong muốn, để họ có được
những bài học sâu sắc.
73
Trường Cao đẳng nghề Yên Bái
Giáo trình môn: CTXH với người nghèo
Nếu kết quả đạt được mục tiêu thì cần khuyến khích đối tượng củng cố kết
quả và tăng cường niêm tin để tiếp tục vươn lên; nếu kết quả chưa đạt được mục
tiêu thì chúng ta động viên, khích lệ đối tượng tiếp tục các mục tiêu đó ở chu trình
tiếp theo trên cơ sở có những điều chỉnh phù hợp.
Tuy nhiên, cả đối tượng và NVXH phải ngồi lại với nhau để kiểm điểm và
Trường Cao đẳng nghề Yên Bái
Giáo trình môn: CTXH với người nghèo
Cũng qua giao tiếp, con người mới có điều kiện tăng cường vốn xã hội để dần dần
hoàn thiện bản thân. Tuy nhiên, giao tiếp phải đem lại hiệu quả và mang tích cực
mới tạo ra những hành vi tích cực.
Để hoạt động giao tiếp mang lại hiệu quả tích cực, ngoài nội dung thông tin
chuyền tải thì phải có những kỹ năng nhất định. Con người có thể giao tiếp bằng
ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ hoặc kết hợp cả hai. Thông thường ta thấy phần lớn
các cuộc giao tiếp đều có sự kết hợp cả hai thứ ngôn ngữ - có lời và không lời xuất phát từ cảm súc của người đưa thông tin và người nhận thông tin. Những cuộc
giao tiếp thông thường của những người bình thường là như vậy. Còn đối tượng với
những người có “vấn đề” thì nhiều khi chúng ta giao tiếp thật khó khăn, trước hết
là họ có chấp nhận cuộc giao tiếp hay không, họ có trải lòng để nghe và phản hồi
tích cực; rồi trình độ, nhận thức của họ trong giao tiếp ở mức nào, nói như thế nào
để người ta có thể hiểu và chấp nhận giao tiếp tích cực với chúng ta...Điều này đòi
hỏi trong giao tiếp mang tính chuyên môn của NVXH cần phải có những kỹ năng
nhất định.
Đối với đối tượng là người và gia đình nghèo, do đặc điểm tâm lý mặc cảm,
tự ty, hạn chế về môi trường giao lưu và vốn hiểu biết xã hội... thì khi giao tiếp với
họ đòi hỏi NVXH phải sử dụng những kỹ năng gì để được họ chấp nhận, hợp tác
tích cực trên cơ sở từ các chia sẻ bên trong con người họ. Buổi tiếp xúc đầu tiên
của NVXH với họ có vị trí rất quan trọng vì buổi tiếp xúc này nếu không mang lại
ấn tượng tốt thì thật khó khăn cho những lần gặp gỡ sau và mục tiêu chia sẻ thông
tin cũng như giúp đỡ họ không đạt được.
NVXH tiếp xúc với họ cần có thái độ cảm thông, chia sẻ, với cách ăn mặc
phù hợp, giọng nói truyền cảm, dễ mến, thân thiện, dễ gần, cách đi đứng, tác
phong, nét mặt, ánh mắt ... tất cả phải tao ra được thiện cảm, sự gần gũi trong mắt
- Cuộc vấn đàm cần có mục đích, mục tiêu cụ thể, rõ ràng.
- Cuộc vấn đàm cần phải chuẩn bị một cách kế hoạch.
- Cuộc vấn đàm cần có phương pháp và đảm bảo tiến trình - chuẩn bị - mở
đầu - triển khai, và - kết thúc.
- Cuộc vấn đàm có hiệu quả đòi hỏi phải có sự hợp tác tích cực của NVXH
và đối tượng. Để có được sự hợp tác này thì NVXH và đối tượng phải có sự đồng
cảm, chân thành, thân thiện, cởi mở và NVXH phải đảm bảo với họ rằng quyền tự
quyết thuộc về đối tượng, quyền giữ bí mật thông tin thuộc trách nhiệm của
NVXH.
Các kỹ năng cần thiết sử dụng trong vấn đàm:
- Kỹ năng tạo lập mối quan hệ
Là khả năng NVXH thiết lập quan hệ công việc với đối tượng. Điểm xuất
phát để tạo ra mối quan hệ này được bắt đầu từ cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa NVXH
và đối tượng, nó có vị trí rất quan trọng tạo nên sự tin tưởng hay hợp tác tích cực
giữa hai bên trong suốt tiến trình, nhất là đối tượng. Vì vậy, trong cuộc gặp gỡ đầu
tiên, NVXH phải giới thiệu nghề nghiệp, mục đích của cuộc gặp gỡ ... và với thái
76
Trường Cao đẳng nghề Yên Bái
Giáo trình môn: CTXH với người nghèo
độ cởi mở, thân thiện, quan tâm, đồng cảm, sẵn sàng chia sẻ ...để đối tượng yên tâm
và có thể trông cậy vào khả năng giải quyết vấn đề.
- Kỹ năng đưa ra câu hỏi
Trong cuộc vấn đàm việc hỏi các câu hổi để đối tượng trả lời một cách tự
nhiên, thoái mái khi chia sẻ thông tin với NVXH là rất quan trọng. NVXH không
nên hỏi quá nhiều, câu hỏi đưa ra nên ngắn gọn, dễ hiểu, tập trung vào vấn đề cần
quan tâm, sử dụng kết hợp và hợp lý cả hai loại câu hỏi mở và đóng.
Việc tập trung cao độ vào người nói giúp NVXH không chỉ nghe, hiểu đầy
đủ nội dung trình bày của người nói mà còn giúp “đọc” được cả cảm xúc của đối
tượng qua quan sát hành vi, cử chỉ, diễn biến trên nét mặt đối tượng. NVXH có thể
phát hiện sự sai lệch giữa nội dung đang được nghe với trạng thái của đối tượng để
có thể đưa ra những câu hỏi thăm dò nhằm khai thác hết chiều sâu của thông tin mà
mình cần phải hiểu. Cũng với việc tập trung nghe cao độ, NVXH có thể kiểm soát
được nội dung câu chuyện mà đối tượng trình bày để có thể định hướng khi câu
chuyện đi xa trọng tâm.
Trường hợp NVXH vấn đàm với người và gia đình người nghèo cũng có thể
gặp phức tạp, bởi trước một vấn đề, các thành viên trong một gia đình có thể có
cách nhìn nhận rất khacsnhau về mức độ trầm trọng cũng như nội dung của vấn đề
đó. Vì thê, NVXH khi vấn đàm để giúp giải quyết một vấn đề nào đó của một thanh
viên trong gia đình thì ngoài việc phải tiếp xúc với thành viên đó để tìm hiểu vấn đề
còn cần phải gặp và vấn đàm các thành viên khác trong gia đình để họ nói lên quan
điểm cũng như đánh giá vấn đề của thành viên mà chúng ta cần giúp đỡ. Nhiều khi
NVXH còn gặp tất cả các thành viên trong gia đình để có cuộc vấn đàm “tập thể”
mới xác định rõ vấn đề của thành viên cần giúp đỡ.
Trên thực tế, gia đinh là một nguồn lực quan trọng giúp cá nhân giải quyết
vấn đề vì gia đình là môi trường có tác động trực tiếp đến từng thành viên. Sự nhìn
nhận vấn đề của một thành viên, giúp cho các thành viên khác trong gia đình có
được sự chia sẻ và hợp tác giúp đỡ thành viên đó giải quyết vấn đề . Nếu chúng ta
giúp đỡ để giải quyết vấn đề của cả một gia đình thì đương nhiên chúng ta phải có
những cuộc gặp gỡ chung các thành viên, để trước một vấn đề cụ thể họ có chung
nhận thức nhằm đi đến thống nhất những hoạt động cần thiết và phối hợp với nhau
để giải quyết vấn đề.
1.2.3. Kỹ năng thu thập và phân tích thông tin
Khi NVXH đã được thân chủ “chấp nhận” thì hoạt động thu thập đầy đủ và
phân tích tốt thông tin là công việc bước đầu quan trọng của NVXH trong mục tiêu
giúp đỡ người và gia đình nghèo thoát khởi cảnh nghèo đói.
mối quan hệ tương tác tích cực với thân chủ nhằm giúp họ nhận thức được hoàn
cảnh vấn đề để thay đổi cảm xúc, suy nghĩ và hành vi, trên cơ sở đó họ tìm kiếm
giải pháp cho vấn đề của mình. Nói cách khác, tham vấn là một tiến trình trong đó
diễn ra các mối quan hệ tương tác trên tinh thần giúp đỡ giữa hai người khi một bên
cảm thấy cần sự giúp đỡ , đặc biên khi có vấn đề mà bản thân không có khả năng tự
giải quyết.
Hoạt động tham vấn cá nhân nói chung và tham vấn đối với người nghèo nói
riêng được sử dụng nhằm hỗ trợ đối tượng giải quyết vấn đề tâm lý như: mặc cảm,
tự ty, chán nản, buồn khổ...Các hình thức tham vấn cũng rất đa dạng, tùy thuộc vào
từng đối tượng, mức độ nghiêm trọng của vấn đề, môi trường sống của đối tượng
đó...mà NVXH sử dụng hình thức nào cho phù hợp. Ngoài tham vấn cá nhân, đôi
khi NVXH sử dụng hình thức tham vấn gia đình nhằm cải thiện cách thức giao tiếp
giữa các thành viên trong gia đình, tăng cường sự ảnh hưởng tích cực và mối liên
kết giữa các thành viên trong gia đình đó, hướng tới việc giải quyết một vấn đề của
một cá nhân hay của cả gia đình.
79
Trường Cao đẳng nghề Yên Bái
Giáo trình môn: CTXH với người nghèo
Giống như tham vấn cá nhân nói chung, tham vấn cho người và gia đình
người nghèo trải qua 6 bước sau:
- Tạo lập mối quan hệ và xây dựng mối tin tưởng nơi thân chủ.
- Thu thập thông tin và xác định vấn đề.
- Đưa ra và xác định giải pháp thích hợp.
- Thực hiện giải pháp.
- Kết thúc.
- Theo dõi sau tham vấn.
cụ thể các mục tiêu cần đạt được trong công việc giải quyết vấn đề, hãy để đối
tượng được hình dung và trả nghiệm các mục tiêu khi thục hiện thành công.
Cần có giải pháp tốt nhất đẻ giải quyết vấn đề. Các giải pháp này được
khuyến khích đối tượng đưa ra, trên cơ sở đó NVXH cùng với họ nhìn nhận những
điểm mạnh, những hạn chế của từng giải pháp, đối chiếu với vấn đề chính được xác
định là phải giải quyết vấn đề chính đối tượng lựa chọn một giải pháo phù hợp
nhất.
Sau khi đã lựa chọn được giải pháp phù hợp, NVXH giúp đối tượng lên kế
hoạch thưc hiện giải pháp và chuẩn bị những điều kiện cần thiết để thực hiện kế
hoạch. NVXH cần lưu ý, kế hoạch thực hiên giải pháp cần xây dựng cụ thể, chi tiết
và khả thi dựa trên việc phân tích, xác định nguồn lực thực hiện.
Việc thực hiện giải pháp là trách nhiệm của đối tượng. Nhan viên xã hội lúc
này giữ vai trò là người khích lệ và hỗ trợ đối tượng thực hiện giải pháp khi cần
thiết. Là nhà tham vấn, NVXH cũng cần giúp đỡ đối tượng hình thành kỹ năng giải
quyết vấn đề để đối tượng có thể sử dụng sau này khi phải đối mặt với những vấn
đề khác.
NVXH cùng đối tượng xem xét quá trình tham vấn đã giúp đối tượng thực sự
thay đổi theo hướng tích cực về thái độ và hành vi hay chưa, nếu có thì mức độ
thay đổi đến đâu, cần tăng cường những gì để đảm bảo đối tượng hoàn toàn thay
đổi tích cực. Ví dụ, người và gia đình nghèo hoàn toàn xóa đi mặc cảm, tự ti, tích
cực học hỏi, tham gia các hoạt động XĐGN ở địa phương.
1.2.5. Kỹ năng biện hộ
Biện hộ là hoạt động bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của con người,
thúc đẩy công bằng xã hội. Hoạt động này đặc biệt có ý nghĩa đối với các nhóm
người yếu thế, khi mà tiếng nói của họ ít được xã hội chú ý và thừa nhận.
Nhìn ở góc độ CTXH thì biện hộ là việc NVXH giúp cho đối tượng nói lên
được tiếng nói, quan điểm của mình hoặc đại diện cho họ đưa ra tiếng nói và đảm
bảo rằng quyền và lợi ích hợp pháp của họ được tôn trọng và nhu cầu của họ được
thõa mãn cũng như mang lại dịch vụ tốt nhất cho họ.
Một ví dụ được đưa ra dưới đây cho thấy NVXH giữ vai trò biện hộ cho một
+ Kỹ năng lắng nghe, bằng cả tai và mắt, sử dụng ngôn ngữ cơ thể, bắt nhịp
các cảm xúc và phản hồi tích cực.
2.CTXH nhóm với hộ nghèo
2.1. Xác định các nhóm đối tượng: Hộ nghèo
CTXH với nhóm người nghèo dựa trên các nguyên tắc, nội dung và tiến trình
của CTXH nhóm nói chung. Tuy nhiên, đây là nhóm khá đặc thù, có những đặc
điểm tâm lý chung nhưng cũng có đặc điểm tâm lý rất khác biệt so với các nhóm xã
hội khác, cho nên khi làm việc với nhóm người nghèo, NVXH không thể áp dụng
cứng nhắc cho một loại nhóm mà sự “pha trộn” giữa loại nhóm - nhóm nhiệm vụ
và nhóm can thiệp:
82
Trường Cao đẳng nghề Yên Bái
Giáo trình môn: CTXH với người nghèo
- Nhóm nhiệm vụ ( còn được gọi là nhóm hành động) được sử dụng để thực
hiện một nhiệm vụ nào đó, tìm ra giải pháp cho vấn đề, lấy ý kiến, và đưa ra quyết
định. Ví dụ - nhóm người nghèo - nhiệm vụ: thống nhất ý kiến, đưa ra quyết định
các giải pháp, hỗ trợ giúp nhau thoát nghèo.
- Nhóm can thiệp là nhóm có hoạt động hỗ trợ trực tiếp các thành viên.
Nhóm can thiệp được chia ra các loại hình như: Nhóm hỗ trợ, nhóm giáo dục,
nhóm phát triển, nhóm trị liệu và nhóm xã hội hóa. Đối với nhóm người nghèo , do
hoàn cảnh và đặc điểm tâm lý khá đặc thù nên khi thực hiện các hoạt động giúp đỡ
họ, NVXH có thể phải sử dụng linh hoạt các loại hình nhóm khác nhau nhằm thay
đổi toàn diện nhận thức, thái độ và hành vi của họ.
Phương pháp CTXH với nhóm nói chung và với nhóm người nghèo nói riêng
được sử dụng khi vấn đề của cá nhân muốn được giải quyết có liên quan, phụ thuộc
vào sự tương tác giữa cá nhân đó với các thành viên khác trong nhóm thông qua
- Giai đoạn can thiệp/ thực hiện nhiệm vụ.
- Giai đoạn kết thúc (cả nhóm can thiệp và thực hiện nhiệm vụ).
2.2.1. Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm
Đây là giai đoạn đầu tiên của tiến trình CTXH nhóm. NVXH sau khi thấy có
nhu cầu của thân chủ hoặc của nhóm thân chủ là cần thiết có các hoạt động nhóm
để đảm bảo có sự hộ trợ giải quyết các vấn đề liên quan tới chính sách, thủ tục hay
tiếp cận các DVXH...thì NVXH có những chuẩn bị kỹ càng dựa trên mục đich hỗ
trợ, khả năng thành lập nhóm để hình thành nhóm CTXH. Giai đoạn này thường
bao gồm các bước sau đây:
a. Xác định mục đích hỗ trợ nhóm
Đây là đích cuối cùng của CTXH nhóm, xuất phát từ sự cần thiết của thân
chủ. Ví dụ, đối với nhóm hộ nghèo, đích cuối cùng là thoát nghèo vươn lên khá.
Việc xác định mục đích phải dựa trên nhu cầu, trình độ nhận thức, điều kiện
thực hiện của các nhóm.
b. Đánh giá khả năng thành lập nhóm
- Đánh giá khả năng tài trợ hoạt động nhóm:
NVXH cần rà soát và nghiên cứu kỹ các cơ quan, tổ chức cung cấp DVXH
về chức năng, nhiệm vụ, các hoạt động, cơ chế làm việc...để đảm bảo rằng các cơ
quan, tổ chức đó có thể hỗ trợ, giúp đỡ thân chủ về yếu tổ vật chất và các nguồn lực
khác nhau. Ví dụ, liên quan tới nhóm người nghèo, về vốn sản xuất, các ngân hàng
(nhất là Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông
thôn) có vai trò gì, cơ chế cho người nghèo vay vốn ra sao...; các trung tâm khuyến
nông có chức năng gì, họ cung cấp gì cho nông dân...
- Đánh giá sự tham gia của các thành viên của nhóm:
Trước hết NVXH phải đánh giá nhu cầu và điều kiện thực tế của thân chủ:
xem xét động cơ, mong muốn, mục tiêu tham gia nhóm của mỗi thân chủ, sau đó
xem xét liệu họ có đủ điều kiện để tham gia vào các hoạt đọng nhóm hay không.
84
nghèo, trên thực tế các nhóm Tín dụng tiết kiệm của các hội phụ nữ đang hoạt động
thì mỗi nhóm khoảng từ 10 - 15 chị em đại diện cho các gia đình nghèo.
d. Định hướng cho các thành viên trong nhóm
- Thông tin về nhóm và tiến trình hoạt động của nhóm:
85
Trường Cao đẳng nghề Yên Bái
Giáo trình môn: CTXH với người nghèo
Các thành viên của nhóm cần biết thông tin của nhau và biết nội dung cũng
như tiến trình hoạt động của nhóm.
- Đánh giá lại nhu cầu của các thân chủ:
Sau khi biết thông tin về nhóm, các thân chủ có thể đối chiêu mục tiêu của
nhóm với mục tiêu của thân chủ để có quyết định cuối cùng là tham gia nhóm hay
không.
e. Thỏa thuận nhóm
- Thỏa thuận về cách thức hoạt động nhóm.
- Thỏa thuận về các mục tiêu cá nhân.
g. Chuẩn bị môi trường
- Chuẩn bị cơ sở vật chất: các điều kiện để sinh hoạt nhóm.
- Chuẩn bị kế hoạch tài chính.
h. Viết đề xuất nhóm
Đây như là văn bản “cấp giấy phép” hoạt động của nhóm. Bản kế hoạch
này phải nêu rõ mục đích, mục tiêu, đối tượng hưởng lợi, phương thức hoạt đọng,
kết quả, các cơ quan tổ chức, tổ chức liên quan với những yêu cầu cần hỗ trợ. Đề
xuất nhóm này như là cam kết hoạt động của các thân chủ trong nhóm.
2.2.2. Giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động
Về lý thuyết, giai đoạn này là giai đoạn bắt đầu các hoạt động của nhóm và
trong hành vi để hướng tới việc thực hiện tốt mục tiêu cá nhân và mục tiêu nhóm.
Mỗi lần sinh hoạt nhóm, qua sự chia sẻ nhau, họ sẽ trưởng thành hơn trong nhận
thức cũng như các hoạt động hướng tới mục tiêu thoát nghèo. Vấn đề còn lại và
quan trọng hơn cả là NVXH như một cầu nối trung gian nối kết người nghèo với
các nguồn lực hoặc các DVXH để người nghèo có thêm “bột” để “gột nên hồ”.
Trong hoạt động thực tiễn của các nhóm Tín dụng tiết kiệm do Hội phụ nữ tổ
chức lâu nay tại các địa phương, người phụ nữ vay được một số vốn, triển khai các
hoạt động kinh tế gia đình (chăn nuôi, trồng rau – đối với các vùng đô thị) đã làm
cho nhiều gia đình có cuộc sống khá hơn. Nhờ tiết kiệm, họ đã trả được vốn và lãi,
đồng thời còn dành ra được một khoản để làm ăn lâu dài. Nhóm phụ nữ xây dựng
quy chế sử dụng đồng vốn và quy định mức góp lãi hàng ngày hoặc hàng tuần tại
gia đình của người tổ trưởng. Chính ở địa chỉ này, các hội viên có thể gặp nhau
hàng ngày ( thường là vào cuối một ngày làm việc hay cuối tuần), họ có điều kiện
chia sẻ ki nghiệm và những thay đổi trong ngày những gì liên quan tới việc làm ăn
của họ. Số tiền tiết kiệm đó đủ “một khoản” – theo cách nói của nhóm – họ có thể
đầu tư thêm cho người muốn mở rộng việc sản xuất, kinh doanh hoặc họ lại mở
rộng thành viên của nhóm bằng cách cho các hội viên khác vay.
2.2.3. Giai đoạn can thiệp/ thực hiện nhiệm vụ
Giai đoạn can thiệp/ thực hiện nhiệm vụ là giai đoạn tập trung vào các hoạt
động hỗ trợ, trị liệu và triển khai thực hiện nhiệm vụ hướng tới hoàn thành mục
đích . các mục tiêu và nhiệm vụ được nhóm xác định. Nhiệm vụ chính của NVXH
87
Trường Cao đẳng nghề Yên Bái
Giáo trình môn: CTXH với người nghèo
trong giai đoạn này là giúp đỡ các thành viên vượt qua các rào cản, khó khăn; điều
phối các hoạt động nhóm để hỗ trợ các thành viên đạt được mục đích, mục tiêu của
những ý tưởng mới, các chương trình và kế hoạch giải quyết các vấn đề. Mang lại
lợi ích nhiều hơn cho thân chủ. Đôi khi những nhiệm vụ này vượt qua phạm vi của
88
Trường Cao đẳng nghề Yên Bái
Giáo trình môn: CTXH với người nghèo
nhóm như việc đưa ra nhưng quyết định về môi trường tổ chức, về chính sách ,
dịch vụ hỗ trợ thân chủ.
Để thực hiện thành công nhiệm vụ của nhóm, NVXH hướng dẫn nhóm duy
trì sự tập trung vào mục tiêu, chức năng và vai trò nhóm đảm nhiệm. NVXH trong
loại hình nhóm nhiệm vụ có vai trò là người trưởng nhóm hoặc là người chịu trách
nhiệm chính trong việc điều phối và quản lý hoạt động của nhóm. Với vai trò là
trưởng nhóm hay người điều phối, quản lý hoạt động của nhóm trong loại hình
nhóm nhiệm vụ, NVXH phải tạo ra sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm,
trên cơ sở đó tìm kiếm một giải pháp cho việc giải quyết một vấn đề, lấy ý kiến và
đưa ra quyết định để các thành viên nhóm thực hiện nhiệm vụ.
Các hoạt động của nhóm nhiệm vụ bao gồm:
-
Chuẩn bị các cuộc họp nhóm.
-
Chia sẻ thông tin, suy nghĩ và cảm xúc về những lo lắng các quan tâm mà
nhóm đang đối mặt.
-
phải trị liệu với từng thành viên, nhưng cũng đảm bảo cho mỗi thành viên có những
hành động cụ thẻ để thoát khỏi cảnh nghèo đói. Trong quá trình trị liệu tâm lý cho
từng thành viên của nhóm, NVXH cần lưu ý không được phép dập khuôn, bởi vì,
dù người nghèo có đặc điểm tâm lý cơ bản giống nhau, nhưng khí chất, cách thể
hiện cảm xúc cũng như mức độ “bệnh lý” thì mỗi thành viên đều khác. Ngay cả
89
Trường Cao đẳng nghề Yên Bái
Giáo trình môn: CTXH với người nghèo
việc tạo cơ hội cho các thành viên tương tác trong loại hình nhóm nhiệm vụ cũng
vậy, NVXH cũng phải hiểu biết từng thành viên để điều phối sự tương tác trong
nhóm sao cho có lợi nhất cho mọi thành viên, để ai cũng có điều kiện được chia sẻ
và học hỏi cũng như được trải nghiệm tốt nhất. Làm được như vậy thì mục tiêu
nhóm và nhất là mục tiêu của từng cá nhân mới thực hiện được. Như vậy thì đòi hỏi
kỹ năng của NVXH rất cao vì cùng một lúc phải làm việc với một đối tượng nhưng
lại với hai loại hình nhóm. Nếu thấy khó khăn quá thì có thể “tách” ra làm hai công
đoạn.
2.2.4. Giai đoạn kết thúc
Đây là giai đoạn cuối cùng của CTXH nhóm. Giai đoạn này diễn ra khi các
thành viên nhóm đã đạt được mục đích của nhóm và các mục tiêu của thành viên;
hoặc sau quá trình đánh giá, xem xét cẩn thận, nhóm kết thúc để chuyển giao sang
hình thức hỗ trợ khác. Nội dung trong giai đoạn kết thúc tiến trình sẽ tập trung vào
hai bước công việc chính: Lượng giá, và kết thúc.
Ở giai đoạn này, các thành viên trong nhóm, kể cả NVXH, sẽ tiếp tục trải
nghiệm những tác động, ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm. Khi kết thúc , các thành
viên và NVXH phải chia tay, mỗi người thường có tâm lý hẫng hụt, có trường hợp
lại có cảm nhận như sự mất mát; do đó NVXH cần có động thái nhắc nhở các thành
khi sinh hoạt trong nhóm đã có sự đan xen với các hoạt động gia đình và cộng đồng
nên giai đoạn kết thúc sinh hoạt nhóm có thể không làm “ xáo trộn” lắm về cảm
súc, tuy nhiên, việc họ hoàn toàn trở lại cuộc sống xã hội với tâm lý chưa hoàn toàn
thoát khỏi “kiếp nghèo” có thể ảnh hưởng tới việc tiếp tục tìm kiếm nguồn lực bên
ngoài để tiếp tục thay đổi. Vì vậy NVXH cần phải theo dõi và trong trường hợp cần
thiết còn phải hỗ trợ họ giúp đỡ.
3. Kỹ năng CTXH với nhóm người nghèo
3.1. Kỹ năng lãnh đạo nhóm
Các kỹ năng lãnh đạo nhóm được đề cập đầu tiên và có vài trò quan trọng
đối với NVXH trong quá trình giúp đỡ, hỗ trợ trị liệu đối với hai loại hình nhóm
can thiệp và nhóm nhiệm vụ. Những kỹ năng này được sử dụng ngay cả trong một
số trường hợp, khi trong nhóm có thành viên đủ năng lực và được nhóm tín nhiệm
làm trưởng nhóm, NVXH rất cần có kỹ năng lãnh đạo để giúp người trưởng nhóm
hoàn thành tốt nhiệm của mình trong việc điều hành các hoạt động của nhóm.
Các kỹ năng lãnh đạo nhóm được hiểu rất rộng từ năng lực điều phối, điều
hành, thu hút sự tham gia của các thành viên, xử lý các xung đột nhóm và định
hướng các thành viên nhóm hướng tới mục đích của nhóm và mục tiêu của cá nhân.
Các kỹ năng lãnh đạo nhóm bao gồm một số kỹ năng chính sau đây:
a. Kỹ năng thúc đẩy tiến trình nhóm, bao gồm:
- Kỹ năng thu hút thành viên nhóm:
Thể hiện ở khả năng người lãnh đạo lôi cuốn được các thành viên nhóm
tham gia và tham gia tích cực vào tiến trình của nhóm. Ví dụ: tham gia nhiệt tình và
tích cực vào việc thảo luận các vấn đề liên quan đến nhóm như cách thức, nội dung
91