MỤC LỤC
MỤC LỤC........................................................................................................................................... 1
A. MỞ ĐẦU........................................................................................................................................ 1
B. NỘI DUNG..................................................................................................................................... 2
I. Khái quát chung về thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án theo lãnh thổ............................................2
1. Khái niệm, ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ 2
2. Cơ sở của việc xác định..........................................................................................................3
II. Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo
lãnh thổ và quyền lựa chọn tòa án của đương sự..........................................................................3
1. Các nguyên tắc xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của tòa án theo lãnh thổ....................3
2. Quyền lựa chọn Tòa án của các đương sự.............................................................................6
III. Thực trạng thực hiện pháp luật và kiến nghị hoàn thiện............................................................9
1. Thực trạng và nguyên nhân....................................................................................................9
2. Kiến nghị hoàn thiện:............................................................................................................. 11
C. KẾT LUẬN................................................................................................................................... 12
Danh mục tài liệu tham khảo:...........................................................................................................12
A. MỞ ĐẦU
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 là căn cứ pháp lý quan trọng để giải quyết cá vụ việc
dân sự. Trong đó, quy định về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ và
quyền lựa chọn Tòa án của đương sự không chỉ có ý nghĩa bảo đảm tối đa quyền và lợi
ích hợp pháp của các đương sự mà còn tạo thuận lợi cho quá trình giải quyết các vụ việc
1
dân sự của Tòa án. Mục đích cuối cùng mà những quy định này hướng tới chính là sự
chính xác, công bằng, tính khoa học và hợp lý trong suốt cả quá trình giải quyết các vụ
việc dân sự. Việc tìm hiểu về “Thẩmquyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ
và quyền lựa chọn Tòa án của đương sự” mộtcách toàn diện, cụ thể là điều rất cần
thiết, giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn hơn về vấn đề này.
B. NỘI DUNG
không thống nhất trong thực tiễn gây khó khăn kéo dài do thời gian giải quyết vụ việc
phải di chuyển lại giữa các Tòa án, thậm chí bản án, quyết định bị hủy để xét xử lại do vi
phạm thẩm quyền dân sự theo lãnh thổ. Đồng thời, quy định về thẩm quyền dân sự của
Tòa án theo lãnh thổ còn là cơ sở giải quyết trong các trường hợp có tranh chấp về thẩm
quyền sơ thẩm giữa các Tòa án cùng cấp với nhau.
2. Cơ sở của việc xác định
Việc phân định thẩm quyển của Tòa án theo lãnh thổà việc phân định thẩm quyền sơ thẩm
vụ việc dân sự giữa các Tòa án cùng cấp với nhau và phải dựa trên những cơ sở sau:
-
Đảm bảo giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án được nhanh chóng, đúng đắn, đảm
bảo việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước; quyề.n, lợi ích hợp pháp của các bên đương
sự; tạo thuận lợi cho các bên đương sự, tránh chồng chéo trong việc thực hiện thẩm
-
quyền giữa các Tòa án cùng cấp.
Đảm bảo quyền tự định đoạt của các đương sự
II. Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của
Tòa án theo lãnh thổ và quyền lựa chọn tòa án của đương sự
1. Các nguyên tắc xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của tòa án theo lãnh thổ
Việc phân định thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ là sự phân định thẩm quyền sơ
thẩm vụ việc dân sự giữa các Tòa án cùng cấp với nhau. Hiện nay, các quy định tại điều
35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004(BLTTDS) được sửa đổi theo khoản 10 Điều 1 Luật
sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 về việc phân định thẩm quyển của
Tòa án theo lãnh thổ được quy định theo hướng phân định hai loại việc là: thẩm quyền
giải quyết vụ án dân sự và thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ.
+ Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự.
- Đối với những tranh chấp về bất động sản.
mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
1
Khoản 3, khoản 4 – Điều 8 – Nghị quyết 03/2012/ NQ – HĐTP. Hướng dẫn thi hành một số quy định trong
phần thứ nhất “những quy định chung” của bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự.
4
- Tòa án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu
tuyên bố mất tích hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu
cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó, yêu
cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết;
- Tòa án đã ra quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết có thẩm quyền giải
quyết yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích hoặc là đã chết;
- Tòa án nơi người phải thi hành bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi
hành án là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành án có trụ sở, nếu người phải thi hành án
là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của
Tòa án nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động
của Tòa án nước ngoài;
- Tòa án nơi người gửi đơn cư trú, làm việc, nếu người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người
gửi đơn có trụ sở, nếu người gửi đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết yêu
cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;
- Tòa án nơi người phải thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài cư trú, làm việc,
nếu người phải thi hành là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành có trụ sở, nếu người phải
thi hành là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành quyết định của
-Theo sự thỏa thuận của các bên
Theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 35 BLTTDS được sửa đổi tại khoản 10 Điều 1
BLTTDS sưả đổi năm 2011 thì: “b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng
văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân
hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những
tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định
tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;
Như vậy ngoài các nguyên tắc đã xác định như trên, các đương sự còn có quyền tự
thỏa thuận về việc lựa chọn Tòa án để giả quyết vụ việc dân sự. Việc thỏa thuận phải lập
thành văn bản trong đó xác định rõ tòa án có thẩm quyền giải quyết; Tòa án này phải nằm
trong các tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật. Quy định này phù
hợp với nguyên tắc Quyền tự định đoạt của đương sự, quyền lợi của bị đơn – người bị
động trong vụ án dân sự cũng được đảm bảo.
6
Ngoài ra, cũng theo điểm m Khoản 2 Điều 35 BLTTDS: “m, Thẩm quyền của Toà án
theo lãnh thổ giải quyết các yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam
giải quyết các vụ tranh chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài
thương mại.” Và khoản 1 Điều 7 LTTTM xác định Toà án có thẩm quyền đối với hoạt
động trọng tài: “1. Trường hợp các bên đã có thỏa thuận lựa chọn một Tòa án cụ thể thì
Tòa án có thẩm quyền là Tòa án được các bên lựa chọn.” thì đương sự là các bên trong
tranh chấp thương mại cũng có thể thỏa thuận với nhau trước khi hoặc sau khi có tranh
chấp với nhau bằng văn bản về việc lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Quy định
này đáp ứng được yêu cầu giải quyết tranh chấp thương mại nhanh chóng bên cạnh việc
bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS và quyền tự do thương lượng, thỏa
thuận trong thương mại.
-
Quyền lựa chọn tòa án Theo sự lựa chọn của nguyên đơn
quyết(điểm d khoản 1 điều 36 BLTTDS).Mà theo quy định tại điều 9 nghị quyết
03/2012/NQ-HĐTP trong trường hợp này việc yêu cầu lựa chọn Tòa án giải quyết tranh
chấp dân sự không đòi hỏi phải có bất kỳ điều kiện nào, nên nguyên đơn có thể yêu cầu
Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết và
Tòa án chấp nhận yêu cầu đó.
- Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo
hiểm xã hội, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều
kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu
cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết(điểm đ khoản 1 điều 36 BLTTDS).
- Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai
trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có người sử dụng lao động là chủ
chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư
trú, làm việc giải quyết(điểm e khoản 1 điều 36 BLTTDS).
- Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi
hợp đồng được thực hiện giải quyết(điểm g khoản 1 điều 36 BLTTDS).
- Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể
yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết(điểm h
khoản 1 điều 36 BLTTDS).
- Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì
nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết(điểm i
khoản 1 điều 36 BLTTDS). Mà theo quy định tại khoản 2 điều 9 nghị quyết 03/2012/NQHĐTP trong trường hợp nguyên đơn, người yêu cầu được quyền lựa chọn nhiều Toà án
có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự thì khi nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, Toà án
8
phải giải thích cho họ biết là chỉ có một Toà án trong các Toà án được Điều luật quy định
mới có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự để họ lựa chọn. Cho nên người khởi kiện,
người yêu cầu phải cam kết trong đơn khởi kiện hoặc trong đơn yêu cầu là không khởi
kiện hoặc không yêu cầu tại các Toà án khác.
Trong trường hợp người khởi kiện, người yêu cầu nộp đơn khởi kiện, nộp đơn yêu cầu tại
chấp”. Nhưng Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 lại quy định:
“trong trường hợp vụ án chỉ liên quan đến bất động sản thì Tòa án nơi có bất động sản
giải quyết”. Vì thế các Tòa án gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong việc xác định tranh
chấp nào là tranh chấp về bất động sản do có nhiều ý kiến khác nhau như có phải tất cả
những tranh chấp liên quan đến bất động sản đều thuộc thẩm quyền của Tòa án nơi có bất
động sản đó; hay chỉ những tranh chấp mà đối tượng tranh chấp là bất động sản là tranh
chấp chính thì mới thuộc thẩm quyền của Tòa án nơi có bất động sản giải quyết.
Thứ hai, việc xác định thẩm quyền trong trường hợp tranh chấp về quan hệ về tài
sản bao gồm cả động sản và bất động sản.Đối với những vụ việc chỉ có một quan hệ pháp
luật tranh chấp là quan hệ về tài sản nhưng tài sản là đối tượng tranh chấp lại bao gồm cả
động sản và bất động sản. Điều này dẫn đến các Tòa án bị lúng túng khi xác định thẩm
quyền của Tòa án trong trường hợp đương sự có tranh chấp và yêu cầu chia tài sản chung
của vợ chồng trong thời kì hôn nhân còn tồn tại, yêu cầu chia tài sản thừa kế nhưng tài
sản tranh chấp lại bao gồm cả động sản và bất động sản. Vì vậy, trong các văn bản hướng
dẫn thi hành cần có hướng dẫn cụ thể về nguyên tắc xác định thẩm quyền trong trường
hợp vụ việc có nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp.
Thứ ba, việc mở rộng thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án cấp huyện như là
trong lĩnh vực giải quyết các tranh chấp lao động đã và đang đặt ra thách thức cho các
Tòa án cấp huyện, đặc biệt là các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa. Bởi các thẩm phán ở
cấp huyện hiện nay phần lớn vẫn còn thiếu về số lượng, chất lượng yếu. Thực tiễn giải
quyết tranh chấp tại Tòa án trong thời gian qua cho thấy kinh nghiệm của tòa trong việc
giải quyết tranh chấp ở nhiều địa phương là chưa nhiều. Do đó các Tòa án lúng túng ngay
từ khi xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và luật áp dụng.
- Thực tiễn áp dụng quyền lựa chọn Toà án của đương sự:
Trong thực tế, việc áp dụng quyền lựa chọn Tòa án của đương sự, do pháp luật chưa dự
liệu hết các trường hợp có thể xảy ra hoặc các đương sự hiểu không đúng các quy định
của pháp luật, đã phát sinh nhiều quan điểm trái chiều và tranh chấp về việc lựa chọn Tòa
10
11
Th hai, nu Tũa ỏn m nguyờn n yờu cu l ni cú phn ln bt ng sn m
cỏc bờn tranh chp (hoc la chn Tũa ỏn ni cú bt ng sn cú giỏ tr ln nht) thỡ vic
gii quyt v vic s thun li hn l nu nguyờn n yờu cu Tũa ỏn ni cú ớt bt ng
sn (hoc ni cú bt ng sn cú giỏ tr thp). Phỏp lut t tng dõn s cn cú mt quy
nh rừ rng hn, lm cn c phỏp lý cho ng s khi la chn Tũa ỏn gii quyt. iu
ny khụng ch m bo cho quỏ trỡnh gii quyt v vic xy ra nhanh chúng, tit kim
thi gian, tin bc; m hn na, cũn to tin hot ng t tng sau ú diờn ra thun
li.
C. KT LUN
Cú th thy, bờn cnh nhng im tớch cc trong quy nh v thm quyn s thm ca
Tũa ỏn theo lónh th trong BLTTDS thỡ cũn cú nhng im cũn hn ch cn c sa i
b sung hon thin nhng quy nh ca phỏp lut. iu ú m bo cho cỏc ng s
tham gia t tng bo v c quyn v li ớch hp phỏp ca mỡnh cng nh to iu kin
cho cỏc Tũa ỏn trong vic gii quyt nhanh chúng chớnh xỏc v vic dõn s.
Danh mc ti liu tham kho:
1. Trng Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng dân sự, Nxb. CAND, Hà Nội,
2011.
2. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011).
12
3. Nghị quyết của HĐTPTANDTC số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 3/12/2012 hướng dẫn
thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của
BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của