Đề bài: 03
1. Quyền lợi của NKT trong vấn đề chăm sóc sức khoẻ theo quy định pháp luật
hiện hành?
2. Tìm một tình huống thực tế về việc tìm kiếm và đảm bảo việc làm của NKT.
Qua đó phân tích những khó khăn, bất lợi của họ và nhận xét quy định pháp luật
hiện hành về chế độ việc làm đối với NKT
1
MỤC LỤC
I.
QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT( NKT) TRONG VẤN ĐỀ
CHĂM SÓC SỨC KHOẺ THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
1.
Khái quát chung về chăm sóc sức khỏe NKT
1.1. Khái niệm NKT.
Khái niệm NKT hay cơ sở pháp lý để công nhận ai là NKT và từ đó được bảo vệ
bởi hệ thống pháp luật liên quan, phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu mà luật hoặc chính
sách cụ thể của mỗi quốc gia theo đuổi. Do vậy, không có khái niệm chung về NKT áp
dụng chung cho các nước. Ở Việt Nam, khái niệm NKT có thể được hiểu như sau:
“Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc
bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia
của NKT vào hoạt động xã hội trên cơ sở bỉnh đẳng với những chủ thể khác”.
I.2
. Chế độ chăm sóc sức khỏe NKT.
Theo tổ chức y tế thế giới thì “ Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể
NKT được hưởng các quyền của công dân nói chung trong đó có quyền được chăm sóc
sức khỏe. Trước khi Luật NKT được quốc hội thông qua, chế độ chăm sóc sức khỏe NKT
cụ thể hóa trong Pháp lệnh NKT năm 1998 và các luật chuyên ngành khác. Khi Luật
NKT ra đời, chế độ chăm sóc sức khỏe NKT được quy định tại Chương III, từ Điều 21
đến Điều 26. Ngoài ra, trong các luật chuyên ngành cũng có các điều khoản quy định về
việc chăm sóc sức khỏe NKT, đó là: Luật người cao tuổi (Điều 12), Luật khám, chữa
bệnh (Điều 3), Luật hoạt động chữ thập đỏ (Điều 7), Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân
(Điều 2, Điều 41), Luật bảo hiểm y tế (Điều 12 đến Điều 15), Luật bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em (các Điều 41, 42, 48,52), Luật thanh niên (Điều 27), Pháp lệnh ưu đãi
người có công với cách mạng (Điều 9 đến Điều 29)…Tùy từng đối tượng, dạng tật hoặc
nhu cầu của NKT mà pháp luật quy định chế độ chăm sóc sức khỏe NKT được thực hiện
khác nhau, theo đó NKT được hưởng một hoặc nhiều chế độ trong quá trình chăm sóc
sức khỏe.
Theo đó chế độ chăm sóc sức khỏe cho NKT gồm những nội dung cơ bản sau:
•
Chăm sóc sức khỏe ban đầu
•
Khám bệnh, chữa bệnh
•
Phục hồi chức năng
•
Các chính sách hỗ trợ thực hiện chế độ chăm sóc sức khỏe NKT.
-
Hoạt động phòng ngừa không xảy ra khuyết tật: với các nội dung cung cấp cho NKT
có kiến thức hiểu biết về vệ sinh, rèn luyện thân thể, lối sống lành mạnh để tăng cường
sức đề kháng, chống lại bệnh tật; thực hiện khám thai đầy đủ theo quy định của quốc tế
cho các đối tượng dễ sinh con bị khuyết tật; tiêm chủng, phòng chống các bệnh phổ biến
có thể dẫn đến khuyết tật ở trẻ em.
-
Hoạt động phòng ngừa để ngăn ngừa tình trạng ốm đau, tai nạn, rủi ro trở thành khuyết
tật: Cần phát hiện sớm và có những biện pháp xử lý kịp thời, điều trị phù hợp nhằm giúp
những người trong tình trạng ốm đau, tai nạn, rủi ro tránh trở thành NKT, phục hồi lại
được sức khỏe như ban đầu.
-
Hoạt động phòng ngừa để ngăn ngừa khuyết tật gây nên hậu quả nặng hơn: ở những
NKT mắc những bệnh, tật không chữa được hoặc chữa không khỏi thì hoạt động này có
ý nghĩa vô cùng thiết thực với họ, giúp họ tránh được tình trạng suy giảm chức năng trở
nên nặng hơn.
Quản lý sức khỏe
Quản lý sức khỏe NKT là một trong những nội dung quan trọng trong chăm sóc sức
khỏe ban đầu. Người khuyết tật là một trong những đối tượng bên cạnh trẻ em dưới 5
4
dụng các dịch vụ y tế phù hợp và được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện các biện
pháp khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với NKT. Ngoài ra tại khoản 4 điều 22 Luật NKT
2010 còn quy định nội dung: trường hợp NKT là người mắc bênh tâm thần ở trạng thái
kích động, trầm cảm, có ý gây nguy hiểm cho người khác,… thì buộc phải khám chữa
bệnh tại cơ sở khám chữ bệnh. Đối với trẻ sơ sinh khuyết tật bẩm sinh thì được xác định
khuyết tật kịp thời và có biện pháp điều trị, chỉnh hình phục hồi chức năng phù hợp. Mục
1Điều 2 Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009
5
đích của quyền này là nhắm khám và chuẩn đoán đúng bệnh, điều trị kịp thời, chăm sóc
điều dưỡng phù hợp, phục hồi chức năng nhanh chóng để NKT sớm ổn định sức khỏe.
Ưu tiên khám bệnh chữa bệnh
Theo quy định của pháp luật thì cơ sở y tế phải ưu tiên khám bệnh chữa bệnh cho
NKT nặng và đặc biệt nặng, trẻ em khuyết tật, người cao tuổi khuyết tật, phụ nữ khyết tật
đang mang thai, người có tật có công với cách mạng. Việc ưu tiên được thông qua các
hình thức như: miễn, giảm viện phí, hỗ trợ sinh hoạt phí, chi phí đi lại, …quy định này
thể hiện sự thống nhất, phù hợp với Luật người cao tuổi, Luật khám bệnh, chữa bệnh.
Khi khám bệnh, chữa bệnh NKT được bảo hiểm y tế thanh toán các chi phí y tế theo quy
định của pháp luật bảo hiểm y tế. Trường hợp họ tham gia loại hình bảo hiểm khác cũng
sẽ được hưởng quyền lợi theo quy định hoặc theo thỏa thuận
Ngoài ra theo quy định tại Điều 7 Luật Người khuyết tật thì nhà nước đảm bảo về
cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ y tế trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh cho NKT.
Với các quy định về khám bệnh, chữa bệnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho NKT
khám bệnh, chữa bệnh kịp thời, hiệu quả. Ngoài ra việc quy định các hình thức phong
phú khám bệnh, chữa bệnh, chữa bệnh nội trú, ngoại trú, lưu động, tại nhà như hiện nay
sinh đến 6 tuổi được sàng lọc phát hiện sớm khuyết tật bẩm sinh, rối loạn phát triển và
được can thiệp sớm các dạng khuyết tật; khoảng 60.000 trẻ em và NKT được phẫu thuật
chỉnh hình, phục hồi chức năng và cung cấp dụng cụ trợ giúp phù hợp...
•
Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là một biện pháp thực hiện tại nơi với
những NKT cùng chung sống, nhằm chuyển giao kiến thức về vấn đề kĩ thuật, kĩ năng
phục hồi và thái độ tích cực đến NKT, gia đình của NKT. Phục hồi chức năng dựa vào
cộng đồng được quy định tại điều 25 Luật NKT 2010. Theo đó khi phục hồi chức năng
tại cồng đồng thì NKT được tạo điều kiện, hỗ trợ phục hồi chức năng. Nhà nước còn quy
định trách nhiệm của gia đình, cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng, Ủy ban nhân dân
các cấp đối với NKT khi họ phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng.
Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là giải pháp hữu hiệu nhất để cân bằng sự
mất cân đối giữa nhu cầu của NKT với mức độ đáp ứng của xã hội là lời giải của bài toán
về chi phí chữa trị cho các gia đình NKT có hoàn cảnh khó khăn.
d.
Các chính sách hỗ trợ thực hiện chế độ chăm sóc sức khỏe NKT
Trong việc hỗ trợ thực hiện chế độ chăm sóc sức khỏe NKT, chúng ta đưa ra các
chính sách sau:
Nghiên cứu khoa học về NKT: những hoạt động nghiên cứu khoa học ở đây phải lâu
dài, ở mọi lĩnh vực, mọi khía cạnh liên quan đến đời sống thể chất cũng như tâm tinh
thần, xã hội của NKT. Những nghiên cứu khoa học sẽ giúp chúng ta tìm ra những nguyên
nhân gây ra khuyết tật để có những giải pháp chăm sóc sức khỏe cho NKT hợp lý, hiệu
quả hơn. Nhà nước cũng có trách nhiệm đối với vấn đề này khi có những quy định hỗ trợ
tiến trên thế giới, thông qua các hoạt động như: Tham gia các tổ chức quốc tế; kí kết, gia
nhập và thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế liên quan đến chăm sóc sức khỏe
NKT; hợp tác của quốc gia với các tổ chức quốc tế, các cơ quan, các tổ chức phi chính
phủ… trong việc xây dựng và thực hiện chương trình, dự án liên quan đến chăm sóc sức
khỏe NKT.
3.
THỰC TIỄN THỰC HIỆN NỘI DUNG QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC SỨC
KHỎE NKT Ở VIỆT NAM
3.1.
Những kết quả đạt được
Theo báo cáo đến năm 2010 các địa phương đã cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 100%
NKT thuộc hộ gia đình nghèo, thực hiện chỉnh hình phục hồi chức năng và cấp dụng cụ
chỉnh hình miễn phí cho khoảng 300 ngàn NKT; cung cấp phương tiện trợ giúp như xe
lăn, xe đẩy, chân tay giả cho trên 100 ngàn người; phẫu thuật chỉnh hình và trợ giúp phục
hồi chức năng cho hàng trăm ngàn trẻ em khuyết tật. Mạng lưới phục hồi chức năng dựa
vào cộng đồng đã được phát triển ở 46/63 tỉnh, thành phố với 215 huyện, trên 2.420 xã...
Theo đánh giá của Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội năm 2008 có 52,4% NKT đi
khám bệnh, phục hồi chức năng nhận được sự hỗ trợ về kinh phí (giảm viện phí).2
2 Bài viết: Thực trạng người khuyết tật và kết quả thực hiện chăm sóc người khuyết tật – TS. Nguyễn Quốc Anh
8
Trong chăm sóc sức khỏe ban đầu: Trong thời gian gần đây thì công tác chăm sóc
sức khỏe ban đầu cho NKT đã được các cơ sở y tế nghiêm túc thực hiện trách nhiệm của
9
3.2 Những hạn chế
Bên cạnh những mặt tích cực vẫn còn những mặt hạn chế cần được khắc phục, cụ
thể:
- Mức trợ cấp xã hội hàng tháng còn quá thấp so với mặt bằng mức sống dân cư
(mới chỉ bằng 60% chuẩn nghèo), chưa bảo đảm được những nhu cầu sống tối thiểu của
NKT.
- NKT vẫn khó khăn trong tiếp cận với các dịch vụ y tế, nhất là NKT ở vùng sâu,
vùng xa khó khăn, điều kiện đi lại không thuận tiện. Có khoảng trên 6 triệu NKT hiện
đang sinh sống ở vùng nông thôn của Việt Nam. Nhiều địa phương do điều kiện khó
khăn nên công tác chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng chưa được quan tâm thực hiện.
- Những NKT cũng có nhu cầu tình dục và sức khoẻ sinh sản như những người bình
thường khác nhưng họ phải đối mặt với những dịch vụ chăm sóc sức khoẻ không phù
hợp. Họ không có các cơ hội trong mọi khía cạnh của cuộc sống bao gồm cả những dịch
vụ cơ bản nhất. Hơn nữa, do thiếu tiếp cận về vật chất, thiếu các kỹ năng liên quan đến
khuyết tật và sự trợ giúp của cộng đồng, sự kỳ thị và phân biệt đối xử, các dịch vụ sức
khoẻ sinh sản đối với họ cũng hầu như bất khả kháng..
- Hiện Luật NKT đã đi vào đời sống được 3 năm nhưng vẫn còn rất ít nghị định,
thông tư hướng dẫn về luật này khiến cho NKT cũng như các cơ quan chức năng còn có
cách hiểu khác nhau, khiến việc chăm sóc sức khỏe NKT nói riêng và các nội dung khác
nói chung còn bất cập
II.TÌM MỘT TÌNH HUỐNG THỰC TẾ VỀ VIỆC TÌM KIẾM VÀ ĐẢM BẢO
VIỆC LÀM CỦA NKT. QUA ĐÓ PHÂN TÍCH NHỮNG KHÓ KHĂN, BẤT
LỢI CỦA HỌ VÀ NHẬN XÉT QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ
CHẾ ĐỘ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NKT
1.
ngại tuyển NKT).
Thứ nhất, về ngoại hình: trong thời đại hiện nay, rất nhiều nhà tuyển dụng khi
tuyển nhân viên còn đề xuất đến vấn đề ngoại hình, đặc biệt là những cơ quan như ngân
hàng, hàng không… Người bình thường còn khó khăn khi phả vượt qua cửa ải này.
Trong khi đó, đối với NKT thì vấn đề ngoại hình càng là trở ngại khiến họ khó đáp ứng
11
được các yêu cầu của nhà tuyển dụng. Ví như trong trường hợp của của chị Oanh, chị bị
khuyết tật vận động, khó khăn trong việc đi lại. Đây cũng là khuyết thiếu mà các nhà
tuyển dụng e ngại khi tuyển chị vào làm bởi việc đi lại khó khăn như vậy khó lòng mà
đáp ứng các công việc được giao
Thứ hai, về tình trạng sức khoẻ: NKT là những người bị khiếm khuyết về thể chất
hay tinh thần nên thường bị suy giảm khả năng lao động. Các đơnvị sử dụng lao động
thường không muốn nhận NKT vì sợ rằng năng suất lao động không cao .NKT thường
thì bị yếu thế hơn so với người lao động khác trong vấn đề sức khoẻ. Do vậy nhà nước
cũng có nhiều quy định ưu tiên đối với họ như về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi.
Tuy nhiên, về phía các nhà tuyển dụng thì đây cũng là điều khiến họ không muốn tuyển
NKT vào làm. Với tâm lý sợ họ không đủ sức khoẻ làm việc, không hoàn thành công
việc mà họ yêu cầu khi cần thiết. Đây cũng là khó khăn mà NKT gặp phải khi tìm kiếm
việc làm
Thứ ba, về trình độ học vấn: Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam,
trình độ học vấn của NKT ở Việt Nam rất thấp. 41% số NKT chỉ biết đọc biết viết;
19,5% học hết cấp một; 2,75% có trình độ trung học chuyên nghiệp hay chứng chỉ học
nghề, và ít hơn 0.1% có bằng đại học hoặc cao đẳng. Nhìn chung, chỉ có khoảng 3%
được đào tạo nghề chuyên môn, và chỉ hơn 4% người có việc làm ổn định. Hiện có hơn
40% người khuyết tật sống dưới chuẩn nghèo (Bộ LĐTBXH, 2005)
Khó khăn trong học tập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xin việc, trình độ học vấn
chung của NKT thấp hơn tương đối so với cộng đồng. Ngoài ra một số công việc có
những yêu cầu mà NKT khó thực hiện tốt được, điều này có thể được giảm thiểu bằng
hỗ trợ vốn, ưu tiên đối với. Tuy nhiên, số NKT có được việc làm ổn định hiện nay còn rất
thấp
Hiện NKT muốn làm việc đều chỉ có thể tự tạo việc làm cho mình, tự kinh doanh
sản xuất ở nhà chứ không làm việc trong các cơ quan, xí nghiệp. Vì chẳng ai tuyển họ,
mà có tuyển thì họ cũng khó theo kịp công việc của công ty.
3. Nhận xét quy định của pháp luât hiện hành về chế độ việc làm đối với NKT
Trách nhiệm của một số chủ thể trong lĩnh vực việc làm đối với NKT
- Trách nhiệm của nhà nước: Điều 13 BLLĐ quy định “Giải quyết việc làm, đảm
bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của
Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội”. NKT cũng là công dân, là lực lượng
lao động xã hội nên Nhà nước phải có trách nhiệm giải quyết việc làm cho họ. Hơn nữa,
NKT lại là bộ phận dân cư cần được quan tâm đặc biệt nên Nhà nước càng cần phải có
trách nhiệm hơn đối với đối tượng này. NKT thường bị suy giảm khả năng lao động nên
Nhà nước phải có trách nhiệm phục hồi chức năng lao động cho họ cùng với những hỗ
trợ khác để NKT có việc làm cũng như ổn định việc làm và duy trì việc làm lâu bền. Cụ
13
thể theo Điều 33 Luật người khuyết tật thì Nhà nước tạo điều kiện để NKT phục hồi
chức năng lao động, được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và làm việc phù hợp với
sức khoẻ và đặc điểm của NKT. Điều 125 BLLĐ quy định “Nhà nước bảo hộ quyền
làm việc của NKT và khuyến khích việc thu nhận, tạo việc làm cho NKT”..
Những quy định cụ thể trên đã đảm bảo quyền được lao động và những chính sách
ưu tiên nhất định cho NKT, phần nào giúp cho họ có cơ hội tìm kiếm việc làm được
thuận lợi hơn.
- Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân:Để tránh tình trạng
kì thị, phân biệt đối xử, tạo ra những rào cản dẫn đến sự hạn chế cơ hội có việc làm của
NKT, Luật người khuyết tật quy định các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cá nhân không
nặng cho các doanh nghiệp trong việc hỗ trợ cơ sở vật chất cho họ, từ đó những ưu tiên
nhất định trong việc tuyển dụng NKT vào làm tại những cơ sở này.
Quyền và nghĩa vụ của NKT trong lĩnh vực việc làm
Khi tham gia vào quan hệ lao động thì NKTcũng trở thành chủ thể của quan hệ lao
động. Vì vậy, cũng như những người lao động khác khi đã trở thành chủ thể của quan hệ
lao động, NKT cũng sẽ có các quyền đồng thời cũng phải thực hiện các nghĩa vụ của
người lao động trong quan hệ lao động.Tuy nhiên, vì NKT là đối tượng lao động đặc thù
nên pháp luật cũng có một số quy định riêng cho phù hợp với yếu tố đặc thù của họ. Cụ
thể khi tham gia quan hệ lao động, NKT được giảm thời gian làm việc. Họ chỉ phải làm
7h trong một ngày và 42h trong một tuần. Đặc biệt để bảo vệ sức khoẻ cho NKT, pháp
luật còn quy định NKT không phải làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp
xúc với các chất độc hại theo danh mục do Bộ Lao động, thương binh và xã hội và Bộ y
tế ban hành và NKT bị suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên không phải làm thêm
giờ, làm việc ban đêm.
Những quy định này ở một góc độ nào đó chính là nhằm bảo vệ NKT, đảm bảo sức
khoẻ cho họ khi tham gia quan hệ lao động. Tuy nhiên, ngày nay có quan điểm cho rằng
sự quy định mang tính chất ưu đãi NKT đó lại chính là rào cản đối với NKT trong lĩnh
vực việc làm. Với những quy định mang tính riêng biệt trong việc sử dụng lao động này,
người sử dụng lao động sẽ không muốn sử dụng lao động là NKT. Bởi vậy, cần phải
hướng tới việc đảm bảo điều kiện lao động để không xảy ra những rủi ro sức khoẻ cho
cả NKT và người không khuyết tật thay vì giảm thời gian làm việc hay cấm NKT không
được làm một số công việc nào đó.
Nhận xét chung về chế độ việc làm của NKT theo quy định của pháp luật hiện
•
Về hạn chế
Bên cạnh những thành công của hệ thống pháp luật về lao động khuyết tật vẫn còn
một số hạn chế cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội:
-Pháp luật lao động khuyết tật thiếu chính sách và đường lối chỉ đạo các hoạt động
hỗ trợ cho lao động khuyết tật thực hiện chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng
đồng và giáo dục hòa nhập để có thể học nghề, tìm việc làm;
-Pháp luật lao động chưa huy động được nguồn lực của xã hội và của cộng đồng
cùng chia sẻ trách nhiệm trong việc dạy nghề cho lao động khuyết tật. Nguồn lực đầu tư
cho dạy nghề còn hạn hẹp, nhất là việc thu hút nguồn lực để đầu tư dạy nghề cho nhóm
yếu thế ở các vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn;
-Qua 15 năm triển khai, một số quy định của pháp luật về lao động khuyết tật khi áp
dụng vào thực tế tỏ ra lúng túng và bất khả thi;
-Pháp luật còn thiếu các quy định về cưỡng chế thực hiện, mức xử phạt hành chính
đối với hành vi vi phạm pháp luật lao động với lao động là NKT còn nhẹ, chưa đủ sức
răn đe đối với các doanh nghiệp
16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam ( Trường Đại học Luật Hà Nội – NXB.
Công an nhân dân, 2011)
2.
Luật người khuyết tật 2010
3.
Đề cương tuyên truyền Luật người khuyết tật, Hà Đình Bốn, Bộ lao động thương
binh và xã hội, 2010
11.
Bài viết: Thực trạng người khuyết tật và kết quả thực hiện chăm sóc người khuyết tật
– TS. Nguyễn Quốc Anh
12.
/>
13.
/>14.
/>
option=com_content&task=view&id=3322
\
17