1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ng Dng (1945 - 1954)
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
6
4. Nguồn tư liệu
6
5. Phương pháp nghiên cứu
7
6. Đóng góp của luận văn
7
7. Cấu trúc của luận văn
7
Chương 1 VỀ NGUYÊN NHÂN BÙNG NỔ CHIẾN TRANH
8
1.1. Nước Pháp và mục tiêu tái chiếm Đông Dương
8
1.1.1. Đông Dương dưới ách thống trị Nhật - Pháp
8
1.1.2. Quan điểm thực dân của tướng De Gaulle về vấn đề Đông Dương
10
1.1.3. Tướng De Gaulle ráo riết chuẩn bị tái chiếm Đông Dương
12
1.2. Thực dân Pháp bước đầu tái xâm lược Đông Dương (9.1945 –
12.1946)
19
1.2.1. Thực dân Pháp gây chiến ở Nam bộ
19
1.2.2. Âm mưu và hoạt động của Pháp ở miền Bắc. Hiệp định Sơ bộ
6.3.1946
24
2.3.3. Về diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ
74
2.3.4. Về ý nghĩa, tác động của Điện Biên Phủ
76
Chương 3 VỀ QUAN HỆ QUỐC TẾ CỦA PHÁP VÀ SỰ KẾT
THÚC CHIẾN TRANH
80
3.1. Quan hệ giữa Pháp và các cường quốc về vấn đề Đông Dương
80
3.1.1. Quan hệ Pháp – Mỹ.
80
3.1.2. Quan hệ Pháp – Anh
84
3.1.3. Quan hệ Pháp - Trung Quốc
86
3.2. Hội nghị Genève về việc chấm dứt chiến tranh Đông Dương
88
3.2.1. Vấn đề Đông Dương trong tính toán của các cường quốc
89
3.2.2. Nước Pháp và Hội nghị Genève về Đông Dương
90
3.2.3. Về kết quả, ý nghĩa của Hiệp định Genève
92
3.3. Về nguyên nhân thất bại của Pháp trong chiến tranh Đông Dương
94
3.3.1. Chính phủ Pháp không có đường lối thống nhất điều hành
cuộc chiến
94
3.3.2. Binh lực Pháp không đủ, nhất là không quân và sự thiếu quan
tâm của Chính phủ Pháp đến đội quân viễn chinh
của hai hệ thống xã hội đối lập, “hai cực” trong trật tự thế giới được xác lập sau
đại chiến. Cuộc chiến đã kết thúc cách nay hơn nửa thế kỉ, nhưng vẫn để lại
những dư âm, vẫn được nhắc đến như một thắng lợi vĩ đại của cuộc đấu tranh
chống chủ nghĩa thực dân ở nửa sau của thế kỉ XX.
Chiến thắng của nhân dân Việt Nam (và nhân dân Đông Dương) đối với
chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược (có sự giúp sức của đế quốc Mỹ) để lại
nhiều bài học quý báu cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây
cũng như công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.
Về phía bên kia, những người Pháp nghĩ gì, họ đánh giá như thế nào về
cuộc chiến tranh của nước Pháp ở Đông Dương? Đã có không ít công trình
nghiên cứu của các học giả, các nhà nghiên cứu và nhiều người Pháp từng tham
gia chiến đấu ở Đông Dương. Họ sưu tầm và khai thác nhiều nguồn tài liệu,
phân tích, đánh giá từ nhiều quan điểm khác nhau, cung cấp cho người đọc
nhiều thông tin và cách nhìn từ phía bên kia về cuộc chiến.
Với mong muốn tìm hiểu một cách toàn diện về cuộc chiến tranh Đông Dương
(1945-1954), tôi đã lựa chọn đề tài “Chiến tranh Đông Dương (1945-1954) qua
một số công trình của người Pháp” làm đề tài luận văn cao học chuyên ngành
Lịch sử thế giới.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trên thế giới viết về cuộc
chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945-1954), nhiều cuộc hội thảo ở trong
và ngoài nước có chủ đề liên quan đến vấn đề này. Các công trình này đã đề
cập một cách khá đầy đủ các khía cạnh của cuộc chiến.
2
Về phía người Pháp, nhà sử học Ph.Devillers đã dành nhiều thời gian
nghiên cứu, sưu tầm các tài liệu để xác định nguyên nhân thực sự của cuộc
chiến tranh Đông Dương. Tác phẩm “Paris - Sài Gòn - Hà Nội” dựa trên nhiều
nguồn tư liệu phong phú, nhất là những tư liệu mật lần đầu tiên được công bố ở
Pháp năm 1987, đã chỉ ra nguyên nhân thực sự của cuộc chiến không phải do
tuỳ tùng của Tổng chỉ huy Navarre ở Đông Dương.
Cuốn “Cao-Bang la tragique épopée de la colonne Le Page” (Cao Bằng -
Sự nghiệp bi thảm của đại tá Le Page) của Marcel Le Page và cuốn hồi ký
“Con đường tử địa RC4-1950” của Charles Henri De Pirey là hai tác phẩm có
giá trị viết về những trận chiến diễn ra ở khu vực biên giới đông bắc Việt Nam.
Là những người trực tiếp tham gia chỉ huy chiến đấu, các tác giả đã thuật lại
một cách khá chi tiết và sinh động nhiều trận đánh trên đường số 4, nhất là
những trận ác liệt ở vùng núi Cốc Xá trong chiến dịch Biên giới thu đông 1950;
nêu lên những nhận định, đánh giá của họ về đối thủ, những suy ngẫm về thất
bại của quân Pháp ở Biên giới Đông Bắc, về ý nghĩa và ảnh hưởng của sự kiện
này đối với toàn bộ cuộc chiến tranh Đông Dương.
André Teulieres trong cuốn “L’Indochine - Guerres et paix” (Đông Dương -
Chiến tranh và hoà bình) dành phần đầu thuật lại sự cai trị của Pháp ở Đông
Dương, sự xâm nhập của phát xít Nhật vào Đông Dương, việc giành chính
quyền của nhân dân Việt Nam, mối quan hệ Việt Nam - Pháp giai đoạn 1945-
1946, về cuộc chiến tranh Việt - Pháp (1946-1954) đặt trong bối cảnh hai cực
“giữa Đông và Tây”.
Tác giả Gilles Férier đã dành phần I cuốn “Les trois guerres d’Indochine”
(Ba cuộc chiến tranh Đông Dương - Chiến tranh Đông Dương (1945-1954),
Chiến tranh Việt Nam (1960-1975), Chiến tranh ở Campuchia hay chiến tranh
Đông Dương lần thứ ba (1975-1989)) viết về cuộc chiến tranh xâm lược của
Pháp (1945-1954). Trong 63 trang sách, tác giả đã trình bày một cách ngắn gọn
về lịch sử nền thống trị của thực dân Pháp ở Đông Dương từ năm 1858, sự thất
bại của Pháp trong chiến tranh thế giới thứ hai, sự quay trở lại Đông Dương của
quân đội Pháp, diễn biến của chiến tranh và sự ra đi của Pháp để nhường chỗ
cho đế quốc Mỹ nhảy vào Đông Dương năm 1956.
Một tác phẩm không thể không nhắc tới là cuốn sách của Françoise Joyaux
“Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất”.
Với nguồn tư liệu phong phú, tác giả đã thuật lại khá chi tiết, đưa ra những
đánh giá sắc sảo về những mối liên hệ chằng chéo giữa các bên tham chiến
Tác phẩm “Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và
bài học” là một bản tổng kết sâu sắc về sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời của
Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng Tư lệnh đối với thắng lợi
của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Tác phẩm rút ra
5
những bài học kinh nghiệm quý báu, đồng thời cũng thẳng thắn thừa nhận một
số thiếu sót trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến.
Tác giả Trần Trọng Trung có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu về
cuộc chiến Đông Dương, trong đó phải kể đến tác phẩm “Lịch sử một cuộc
chiến tranh bẩn thỉu”. Với nhiều tài liệu phong phú, nhiều trích dẫn từ các sách
báo nước ngoài, tác giả đã phân tích, trình bày về các hoạt động của thực dân
Pháp ở Đông Dương từ khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ; Phác hoạ quá
trình trở lại xâm lược Đông Dương của Pháp và diễn biến các trận đánh tiêu
biểu, chỉ ra những nguyên nhân thất bại của thực dân Pháp.
Các tác giả Lưu Văn Lợi - Nguyễn Hồng Thạch trong cuốn “Pháp tái chiếm
Đông Dương và chiến tranh lạnh” tiếp cận cuộc chiến tranh Đông Dương trong
bối cảnh chiến tranh lạnh. Cuốn sách đã chỉ ra quá trình Pháp quay trở lại Đông
Dương và đế quốc Mỹ dính líu vào cuộc chiến, tính chất quốc tế của cuộc
chiến, những ảnh hưởng của chiến tranh lạnh đối với Đông Dương. Chín bản
phụ lục về các hiệp định, hiệp ước giữa Pháp và các nước Đông Dương, tuyên
bố của Tổng thống Mỹ và phái đoàn Mỹ ở Genève, Hiệp ước phòng thủ tập thể
Đông Nam Á (SEATO) là những nguồn tư liệu tham khảo có giá trị.
Tác giả Nguyễn Đình Bin chủ biên công trình nghiên cứu “Ngoại giao Việt
Nam 1945-2000” dành hai chương đầu để phân tích cuộc đấu tranh trên mặt
trận ngoại giao của Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà,
đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong lĩnh vực nghiên cứu về mặt trận
ngoại giao trong kháng chiến chống Pháp còn phải kể tới cuốn “Ngoại giao
Việt Nam 1945-1995” của nhà ngoại giao Lưu Văn Lợi.
Ngoài ra, còn có rất nhiều bài nghiên cứu của nhiều tác giả viết về các khía
- Nội dung nghiên cứu: Luận văn phân tích cách nhìn nhận, đánh giá của
các nhà nghiên cứu Pháp về các vấn đề nguồn gốc, diễn biến, kết quả và tác
động của cuộc chiến tranh Đông Dương (1945-1954) qua đó có sự phê phán
theo quan điểm của Việt Nam.
4. Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu chính là các công trình nghiên cứu của các tác giả người
Pháp (chủ yếu là các công trình đã được dịch sang tiếng Việt), bao gồm các
cuốn sách, các bài báo, các tham luận tại các hội thảo về cuộc chiến tranh Đông
Dương. Ngoài ra còn tham khảo một số công trình nghiên cứu của các tác giả
nước ngoài có đề cập đến các khía cạnh của cuộc chiến trên bình diện quốc tế.
7
Nguồn tài liệu của Việt Nam cũng có ý nghĩa quan trọng góp phần định
hướng, đối chiếu để thấy được những điểm khác biệt trong cách nhìn của hai
bên về cuộc chiến.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu sử dụng để thực hiện luận văn là thông qua các công
trình của các tác giả người Pháp viết về chiến tranh Đông Dương (đã được
công bố, chủ yếu là các công trình đã được dịch sang tiếng Việt) để thấy được
những quan điểm nhận định, đánh giá của họ đối với các vấn đề liên quan đến
cuộc chiến tranh Đông Dương. Dựa trên quan điểm duy vật lịch sử và đường
lối cách mạng của Đảng, đồng thời sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu tư
liệu để luận văn có sự phê phán và đưa ra ý kiến của tác giả về các vấn đề được
bàn tới.
6. Đóng góp của luận văn
- Góp phần nghiên cứu cuộc chiến tranh Đông Dương thông qua việc khai
thác tài liệu và phân tích quan điểm đánh giá của những người ở phía bên kia
về cuộc chiến.
- Luận văn có thể được sử dụng làm một tài liệu tham khảo cho việc nghiên
cứu về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954).
thương qua Vân Nam (và cả nước Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch) và đe doạ
sẽ dùng vũ lực can thiệp vào Đông Dương nếu Pháp không chấp thuận. Chính
phủ Pháp sợ rằng thái độ cứng rắn của Toàn quyền Catroux sẽ khiến quân Pháp
phải đương đầu với cuộc tấn công của Nhật ở Đông Dương. Ngày 26.6.1940,
chính phủ Vichy cách chức Toàn quyền Đông Dương của Catroux, thay vào đó
là đô đốc Decoux theo phái Pétain.
Sau khi tấn công Trân Châu Cảng (7.12.1941), mở đầu chiến tranh Thái
Bình Dương, chỉ trong ba tháng, phát xít Nhật đã chiếm gọn cả miền Đông
Nam Á và quét sạch các hệ thống cai trị của Mỹ (ở Philippin), Anh (tại Malai,
Singapore, Miến Điện) và Hà Lan (tại Indonesia). Chỉ duy nhất còn lại Đông
Dương vẫn dưới quyền cai trị của nước Pháp.
Toàn quyền Decoux và các cộng sự của ông ta nuôi hy vọng có thể giữ
vững được tình thế (tức nắm quyền kiểm soát hành chính trên danh nghĩa) cho
đến khi kết thúc chiến tranh bằng cách hành động khéo léo, tránh khiêu khích
Nhật. Do sự nhân nhượng của Decoux ở Đông Dương cùng đường lối thân Đức
của chính phủ Vichy, phát xít Nhật cho rằng chưa cần thiết phải ra tay đối với
quân Pháp ở Đông Dương. Vì thế, “trong cuộc đại chiến khủng khiếp ở Thái
Bình Dương kéo dài tới 44 tháng đó, Đông Pháp (tức Đông Dương thuộc Pháp)
9
vẫn là một khu vực không hoạt động. Nó như một hải cảng yên tĩnh giữa một
cơn bão táp” [34, tr.274]. Để có được sự “yên tĩnh” đó, chính quyền Pháp phải
trả bằng hàng loạt hiệp ước nhân nhượng Nhật về kinh tế và quân sự.
Ngày 22.9.1940, chính quyền Pháp ở Đông Dương phải “kí hiệp ước đầu
tiên về quân sự, cho phép các đơn vị quân Nhật có thể đi qua lãnh thổ Đông
Dương” [52, tr.47]. Cụ thể, hiệp ước này “đã đặt 3 sân bay dưới quyền sử dụng
của không quân Nhật Bản và cho phép 5000 đến 6000 lính Nhật được đồn trú
tại phía bắc sông Hồng” [65, tr.413]. Ngày 16.5.1941, chính phủ Vichy kí với
Nhật Bản “văn bản đầu tiên về kinh tế, chấp nhận cung cấp cho Nhật lương
thực thực phẩm và các sản phẩm khai mỏ với giá rẻ” [52, tr.49]. Ngày
đội Nhật
1
. Gánh nặng cuộc chiến tranh đổ lên đầu nhân dân Đông Dương, đưa
tới nạn đói khủng khiếp vào năm 1945. Chỉ với một câu ngắn gọn, P.Brocheux
và D.Hémery đã đánh giá một cách đầy đủ nguyên nhân và mức độ của sự kiện
này: “nạn đói miền Bắc cung cấp một tư liệu lý tưởng để tố giác sự thiếu trách
nhiệm của chế độ thuộc địa và cả sự thông đồng Pháp - Nhật nhằm thanh toán
bớt dân số Việt Nam”
2
[65, tr.427]. Đó cũng chính là hình ảnh khái quát nhất về
đời sống của nhân dân Đông Dương dưới ách thống trị Nhật - Pháp.
1.1.2. Quan điểm thực dân của tướng De Gaulle về vấn đề Đông Dương
Đông Dương là một trong những thuộc địa quan trọng nhất của đế quốc
Pháp. Vì thế, trong mọi tình huống, nước Pháp không bao giờ có ý định từ bỏ
việc nô dịch vùng đất này.
“Phong trào nước Pháp tự do”
3
của phái De Gaulle mặc dù đang bị chi phối
bởi nhiều nhiệm vụ cấp bách vẫn rất quan tâm đến số phận tương lai của xứ
Đông Dương thuộc Pháp.
Trái ngược với biện pháp thoả hiệp của chính quyền Pétain và Decoux, De
Gaulle cho rằng nước Pháp chỉ có thể giữ được vai trò và bảo vệ được lập trường
của mình trước mặt các Đồng minh nếu Pháp tham gia chiến tranh chống Nhật,
lập lại chủ quyền toàn vẹn với tất cả quyền hành của mình trên đất Đông Dương
bằng quân sự.
1
Diện tích trồng thầu dầu và lạc tăng “từ 17.500 ha năm 1939 lên tới 59000 ha năm 1942 và 68000 ha năm
1944”, còn “diện tích dành để trồng bông từ 7000 ha năm 1939 lên tới 19000 ha năm 1942 và 52000 ha năm
1944”. Số tiền mà chính quyền Pháp ở Đông Dương phải cung cấp cho quân Nhật cũng ngày càng lớn (58 triệu
khẳng định “thời điểm đã tới để Đông Dương phụ thuộc vào quyền lực của Uỷ
ban giải phóng quốc gia”. De Gaulle yêu cầu Mordant nghiên cứu đề xuất tất cả
những vấn đề liên quan đến cách tổ chức, chỉ đạo kháng chiến và đệ trình lên
C.F.L.N. Cuối cùng ông ta nói: “Kết quả chủ yếu nhất của cuộc kháng chiến
này ở bên trong Đông Dương tuỳ thuộc sự quay trở lại một cách không bàn cãi
của Đông Dương vào Đế chế Pháp”[52, tr.59].
Có thể nói, cho tới lúc này, những người theo phái De Gaulle cũng như
những người theo chính phủ Vichy dường như vẫn đặt niềm tin tưởng trọn vẹn
vào “sự trung thành của người dân Đông Dương” đối với đế chế Pháp. Quan
điểm đó đã tồn tại ở Pháp từ cuối thế kỉ XIX, xuất phát từ tư tưởng “nước Pháp
là trung tâm”, cho rằng nước Pháp có một sứ mệnh vừa là giải phóng vừa là khai
hoá văn minh cho nhân dân Đông Dương. Họ cho rằng “Các dân tộc Đông
Dương không có lý do chính đáng nào để mong muốn tách ra khỏi nước Pháp,
đòi hỏi độc lập dân tộc, bởi vì độc lập sẽ làm cho các dân tộc ấy lại rơi vào
“những bóng tối của bên ngoài”… Người ta đòi hỏi người Annam phải tin tưởng
(một cách mù quáng) vào nước Pháp, bởi vì nước Pháp, theo định nghĩa, chính là
12
sự độ lượng, sự trật tự và sự tiến bộ, và người ta chỉ có thể ngưỡng mộ nước
Pháp hơn tất cả các nước khác, có nghĩa là đi với Pháp mãi mãi” [63, tr47- 48].
Trong Hội nghị các nước châu Phi thuộc Pháp diễn ra từ ngày 1- 8.2.1944
tại Brazzaville, mọi tư tưởng giải phóng các dân tộc thuộc địa sau chiến tranh
đều bị gạt bỏ. Pleven, đại diện chính phủ lâm thời Cộng hoà Pháp tuyên bố
không úp mở rằng “Trong khuôn khổ đế quốc Pháp, không hề có vấn đề dân
tộc để giải phóng, cũng không hề có vấn đề phân biệt chủng tộc để thủ tiêu. [ ]
Các dân tộc hải ngoại (thuộc địa) không hề biết đến nền độc lập nào khác ngoài
nền độc lập của nước Pháp”. Tại Hội nghị này, De Gaulle cũng tuyên bố “Vị trí
của nước Pháp ở Đông Dương rất đơn giản, nước Pháp có ý định thu hồi chủ
quyền của mình trên toàn xứ, dĩ nhiên là sự khôi phục sẽ kéo theo một thể chế
mới, nhưng đối với chúng ta, chủ quyền của nước Pháp là vấn đề hàng đầu”
của De Gaulle. Để chỉ đạo kịp thời, ngày 26.12.1944, De Gaulle quyết định tổ
chức “Ban hành động”, đặt trụ sở tại Calcutta, dưới quyền chỉ huy của
Crèvecoeur, nhiệm vụ trước mắt là tổ chức mạng lưới thu lượm tin tức về Đông
Dương và làm cái cầu liên lạc giữa người Pháp ở Đông Dương với Paris. Khi
thời cơ đến, tức là khi đã có điều kiện tiến hành “các chiến dịch quy mô lớn”,
Ban này sẽ do Blaizot trực tiếp chỉ huy để tiến hành các kế hoạch đưa quân đội
Pháp trở lại Đông Dương. Thông qua Ban hành động ở Calcutta, De Gaulle
không ngừng chỉ thị cho Mordant phải chuẩn bị “sẵn sàng chiến đấu phối hợp”
khi quân Pháp từ ngoài theo quân Anh – Mỹ đổ bộ vào. De Gaulle đã nhiều lần
nhấn mạnh với Mordant rằng trong bất kì trường hợp nào cũng không để quân
đội Pháp bị loại khỏi vòng chiến.
Từ năm 1943, De Gaulle đã dự định thành lập “Đội quân viễn chinh Pháp ở
Viễn Đông” (CEFEO). Tháng 9.1944, De Gaulle và giới cầm quyền Pháp trù
tính việc tổ chức lại hai sư đoàn bộ binh thuộc địa Viễn Đông (1ere DICEO và
2eDICEO) để đưa sang chiến trường châu Á. Nhưng do những khó khăn quá
lớn của nước Pháp, nên ý định này chưa thể thực hiện. Tại Calcutta, chừng 600
lính biệt kích được tổ chức thành binh đoàn ứng chiến nhẹ (CLI). Đây là những
tên lính đầu tiên để tổ chức thành trung đoàn bộ binh thuộc địa thứ 5 (5e RIC)
sau này. Tại Madagascar, từ cuối năm 1944 Lữ đoàn Viễn Đông được tổ chức,
với thành phần hầu hết là lính thuộc địa.
Như vậy, đến cuối năm 1944, lực lượng quân Pháp dự định dành cho Viễn Đông
bao gồm:
- “Lực lượng quân đội Pháp dành cho Viễn Đông” (gồm khoảng 15.000
người) dưới sự chỉ huy của tướng Blaizot. Lực lượng này đã được gửi đến
14
Ceylan (Srilanca), nơi đặt Tổng hành dinh của quân Anh, chịu trách nhiệm
chiến trường Đông Nam Á, và “Lữ đoàn hạng nhẹ Viễn Đông”, đến đầu năm
1945 được bổ sung thêm hai Lữ đoàn bộ binh;
- “Binh đoàn ứng chiến nhẹ” gồm các chuyên viên kĩ thuật và khoảng 20
minh ở Viễn Đông - để cùng tham gia chiến đấu chống Nhật. Khi nhận được
thông báo này, Chính phủ Mỹ chấp nhận trên nguyên tắc nhưng không cung
cấp cho Pháp các phương tiện để chở quân. Nhận thức rõ việc nước Pháp đang
bị các Đồng minh bỏ rơi, nhất là tại các hội nghị quan trọng như Cairo,
Teheran, Potsdam đều không có đại diện Pháp, De Gaulle càng xúc tiến mạnh
mẽ việc cử đội quân viễn chinh tham gia chống Nhật. Do Mỹ cố tình trì hoãn
việc cung cấp phương tiện chở quân, De Gaulle phải cầu cứu Anh. Lời đề nghị
của Pháp được Anh chấp nhận. Đô đốc Mounbatten - Tư lệnh lực lượng Anh ở
Viễn Đông - đồng ý tiếp nhận lực lượng CEFEO của Pháp. Một kế hoạch tác
chiến được vạch ra: “lực lượng CEFEO của Pháp sẽ tập kết ở Ấn Độ, sau khi
Anh chiếm lại Singapore, lực lượng này sẽ được “ưu tiên” đổ bộ lên bán đảo
Đông Dương”[Dẫn theo 42, tr.80].
Kế hoạch của Pháp gặp rất nhiều khó khăn, nhất là về vấn đề vận chuyển số
quân khoảng 70.000 lính từ Pháp sang Đông Dương, trong khi hầu hết các tàu
của Pháp đều đang được trưng dụng để vận chuyển quân đội Đồng minh.
Điều quan trọng nhất lúc này là, nước Pháp không thể hy vọng vào sự phối
hợp hành động của các lực lượng kháng chiến của Pháp ở Đông Dương khi
quân Pháp ở bên ngoài cùng quân Anh đổ bộ vào đây. Ngày 9 tháng 3 năm
1945, nhằm ngăn chặn một cuộc tập kích của lực lượng Pháp ở Đông Dương
đồng thời với cuộc tấn công của quân Đồng minh có thể xảy ra, phát xít Nhật
đã quyết định loại bỏ Pháp để độc chiếm Đông Dương. Trước cuộc tấn công
mạnh mẽ, đồng loạt của quân Nhật, toàn bộ lực lượng Pháp ở Đông Dương
hoặc bị giết, bị bắt hoặc chạy trốn sang bên kia biên giới Trung Quốc (khoảng
6000 tên do Alessandri và Sabattier chỉ huy).
Cuộc đảo chính ngày 9.3.1945 của Nhật đưa đến tác động vô cùng to lớn.
Nó tước bỏ hoàn toàn quyền cai trị của người Pháp trên toàn lãnh thổ Đông
Dương. Đây “là sự trừng phạt muộn mằn nhưng có tính chất quyết định đối với
sự suy tàn của nước Pháp với danh nghĩa là sức mạnh của đế chế”[65, tr.428].
Bất chấp sự thật ấy, ngày 24 tháng 3 năm 1945, nửa tháng sau cuộc đảo
chính của Nhật, De Gaulle lại tung ra một bản tuyên bố về Đông Dương với
ngày càng giảm, thậm chí bị các Đồng minh “coi thường”. Nước Pháp chỉ có thể
khôi phục địa vị cường quốc của mình bằng cách chiếm lại những vùng thuộc
địa đã mất trong chiến tranh. Bởi “không có đế chế, nước Pháp chỉ là một nước
được giải phóng, nhưng với đế chế nó sẽ trở thành một cường quốc”[65, tr.411].
Mong muốn tham gia vào trận đánh cuối cùng của Pháp không được thực
hiện, do những khó khăn của Pháp. Lúc này, trừ một trung đoàn đóng quân ở
17
căn cứ Srilanca, các tiểu đoàn đóng ở Trung Quốc và vài ba toán Commando,
trong tay Pháp không hề có một đơn vị nào sẵn sàng sang Đông Dương; không
có phương tiện vận chuyển. Hơn nữa, sau Hội nghị Potsdam (17.7 - 2.8.1945)
Liên Xô đã tuyên chiến với Nhật ngày 8.8 và chỉ trong một tuần (8-14.8) Hồng
quân Liên Xô đã tiêu diệt đạo quân Quan Đông gần một triệu tên của Nhật, góp
phần buộc phát xít Nhật phải đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Chiến tranh
kết thúc. Việc phát xít Nhật đầu hàng (15.8) khiến Pháp “hoàn toàn bất ngờ”
4
,
đồng thời cũng làm nước Pháp trở nên quá chậm.
Trước diễn biến bất ngờ, ngày 16.8.1945 De Gaulle quyết định cử d’Argenlieu
làm Cao uỷ Pháp ở Đông Dương và cử tướng Leclerc làm Tổng chỉ huy đạo quân
viễn chinh Pháp tại Viễn Đông (thay thế tướng Blaizot). Chỉ thị bổ nhiệm của De
Gaulle đã chỉ rõ quyền hạn và trách nhiệm của Cao uỷ và Tổng chỉ huy là dùng
mọi biện pháp để khôi phục chủ quyền của Pháp ở Đông Dương.
Ngày 18.8, De Gaulle hối thúc Leclerc lên đường sang Đông Dương, giao
cho ông ta được toàn quyền dùng mọi phương sách quân sự để đem bằng được
lá cờ ba sắc trở lại Đông Dương.
Ngay sau khi Leclerc lên đường, ngày 19.8.1945, trong khi cuộc Tổng khởi
nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương đang giành được thắng
lợi quan trọng ở Hà Nội, thì De Gaulle gửi một bức điện sang Đông Dương với
giọng điệu vừa đầy vẻ bề trên, vừa sặc mùi thực dân, lừa bịp: “Kẻ thù đã đầu
tương lai cho mình. Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông
Dương và lãnh tụ Hồ Chí Minh, đã đứng lên tự quyết định vận mệnh tương lai
của mình. Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công, nhân dân ta đã đánh đổ
phong kiến, phát xít Pháp – Nhật, “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.
Lúc này, De Gaulle vẫn hy vọng, với bản tuyên bố 24.3 cùng các “quan cai trị”
được thả dù xuống và nhất là với đạo quân viễn chinh đang được cấp tốc đưa
sang, ông ta có thể nhanh chóng “lập lại trật tự” ở Đông Dương. De Gaulle và
chính quyền thực dân Pháp vẫn giữ thái độ ngoan cố, không chấp nhận đứng nhìn
các dân tộc thuộc địa trước đây tuột khỏi sự thống trị của mình, càng không muốn
mất đi cơ hội trở lại vị trí một “cường quốc thứ tư”. Vì thế, trong buổi họp báo ngày
24.8 sau khi hội đàm với Truman tại Washington, De Gaulle khẳng định: “Quan
điểm của nước Pháp về Đông Dương rất đơn giản. Nước Pháp khẳng định thu hồi
lại chủ quyền của mình ở Đông Dương” [52, tr.68].
Trong lúc đó, khi đến Viễn Đông, Leclerc thực sự nhận thấy những tin tức
mà Paris nhận được hồi giữa tháng 8 nay đã trở nên “những chuyện hoang
đường”. Leclerc cho người về Pháp báo cáo với De Gaulle “tình hình Đông
Dương trở nên rất nghiêm trọng Nước Pháp không thể cố gắng làm những gì
để trở lại Việt Nam như xưa” và đề nghị De Gaulle “phải bổ sung vào những
19
thông điệp đã ban hành, bằng những lời hứa hẹn chung chung về độc lập, cũng
không cần nói rõ từ độc lập. Nhưng lời hứa hẹn phải vượt xa tầm của những lời
tuyên bố ngày 24.3”. Nhưng De Gaulle khẳng định sẽ “không đi xa hơn, mọi
tuyên bố khác sẽ làm yếu đi thế của nước Pháp”. Thậm chí ông ta tỏ rõ sự bức
mình “Nếu chỉ có những người như Leclerc, thì chúng ta sẽ mất Đông Dương”
[Dẫn theo 67, tr.109-110].
Thái độ thực dân bảo thủ, ngoan cố của De Gaulle thể hiện một cách rõ ràng.
Nhà nghiên cứu Henri Azeau đặt vấn đề: “phải chăng so với năm 1944, De
Gaulle chưa hiểu thêm được điều gì và cũng chưa hề quên đi điều gì vì ông ta đã
cố tình khoác cho quá khứ trọng trách của tương lai ”[Dẫn theo 75, tr.52].
xuống sân bay Gia Lâm chiều 22.8, Sainteny được đưa về ở trong Dinh Toàn
quyền cũ. Trên đường từ Gia Lâm về đây, Sainteny đã cảm nhận được những khó
khăn mà ông ta cũng như nước Pháp sẽ gặp phải trong cuộc “khôi phục lại chủ
quyền” mà họ sắp thực hiện. Sainteny đã nhận được những “lời chào mừng
vượt quá mức bình luận (!)”
5
. Ông ta còn giật mình hơn khi nhận thấy “chỗ nào
cũng chỉ có cờ đỏ sao vàng. Tuyệt đối không thấy một lá cờ duy nhất nào tiêu
biểu cho đế quốc Pháp” [37, tr.98]. Trong bức điện đầu tiên gửi đi Calcutta sau
khi tới Hà Nội, Sainteny cho biết: “Tình hình chính trị Hà Nội xấu hơn dự kiến.
Đã nhìn thấy Hà Nội chỉ treo một lá cờ duy nhất của Mặt Nạ (tức Mặt trận Việt
Minh) ” [37, tr.106].
Trong bức điện ngày 28.8, Sainteny tỏ rõ sự lo lắng. Ông ta cảnh báo:
“Cuối cùng phải làm cho mọi người hiểu rằng, Bắc Đông Dương trong giờ phút
này không còn là của Pháp nữa”[37, tr.124] (chúng ta cũng cần nói thêm, thực
tế toàn bộ Đông Dương đã không còn là “của Pháp” từ sau ngày 9.3.1945).
Ngày 2.9.1945, Sainteny được chứng kiến khí thế của nhân dân ta trong một
sự kiện trọng đại – nước Việt Nam tuyên bố độc lập. Sự kiện này đã khẳng định
chủ quyền hoàn toàn của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là sự kiện sẽ giữ
vị trí quan trọng bậc nhất trong mối quan hệ Việt – Pháp thời gian tới.
Không chịu nhìn nhận tất cả những gì đã và đang diễn ra tại Việt Nam,
nước Pháp vẫn tiếp tục theo đuổi quyết tâm chiếm lại Đông Dương.
Ngay từ ngày 2.9.1945, trong cuộc mít tinh chào mừng nền Độc lập của
nhân dân ta ở Sài Gòn – Chợ Lớn, những tên thực dân Pháp đã núp trong một
nhà thờ bắn lén vào đoàn người, làm “5 người chết và nhiều chục người bị
thương” [35, tr.29].
5
Sainteny cho biết: “Các đại lộ, các khu phố, tường dày đặc những băng rôn, khẩu hiệu thể hiện ý chí của nhân
dân Việt Nam “Độc lập hay là chết – Nước Việt Nam của người Việt Nam – Tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc Pháp -
Sau khi trang bị lại cho bọn tù binh vừa được Anh thả ra, Cédile cho rằng có
thể nhanh chóng “vãn hồi trật tự, khôi phục chủ quyền của Pháp” và sau đó tập
hợp bọn tay sai để lập lại chế độ cai trị của chúng. Chúng cho rằng “dân An nam
chỉ là những kẻ hèn nhát Khi Pháp tỏ ra cương quyết, khi chiếc gậy đã được
giơ lên thì chúng (chỉ người Việt Nam) sẽ tan tác như đàn chim sẻ”(!) [Dẫn theo
22
75, tr.56]. Cédile quả thực vẫn giữ cái nhìn thiển cận, lệch lạc và bảo thủ không
khác cái nhìn của bọn thực dân ở Paris, vẫn không hề nhận thấy hoặc cố tình
không thừa nhận (dù đã được chứng kiến tận mắt) những sai lầm đó. Vì thế,
ngay sau khi trang bị cho bọn cựu tù, quân Pháp đã lợi dụng tình trạng giới
nghiêm được đưa ra một cách bất hợp pháp của Anh trong thành phố, nổ súng
chiếm thêm một số công sở và bị lực lượng vũ trang Việt Nam chống lại.
Cédile quyết định dựa vào quân Anh để nhanh chóng làm chủ thành phố Sài
Gòn. Từ 4 giờ sáng 23.9 quân Pháp đánh chiếm Sở cảnh sát, kho bạc, trụ sở Uỷ
ban hành chính lâm thời. Tác giả Devillers khẳng định: “Ngày 23.9, nhờ vũ khí
của Anh, người Pháp ở Sài Gòn đã giành lại quyền kiểm soát thành phố. Tất cả
cháy bùng lên. Chiến tranh” [63, tr.140]. Vậy là, từ ngày 23.9.1945, cuộc chiến
tranh xâm lược trở lại của Pháp ở Việt Nam chính thức bắt đầu.
Thực dân Pháp đã tìm mọi cách để đánh lừa dư luận. Chúng tung tin vu
khống rằng quân đội Việt Nam đã tấn công người Pháp. Nhưng những gì đưa ra
sau đây sẽ bác bỏ hoàn toàn luận điệu xuyên tạc đó.
Thiếu tá Patti, chỉ huy OSS (Cục công tác chiến lược - tiền thân của Cục tình
báo trung ương Mỹ - CIA) ở Đông Dương, trong cuốn “Tại sao Việt Nam?” cho
biết: “Sáng sớm ngày 22, Anh lặng lẽ thay thế quân Nhật tiếp quản khám lớn và
thả một số lính tù Pháp đã bị bắt giữ trong các cuộc rối loạn tuần lễ trước. Số này
đi thẳng tới trại 11RIC và tổ chức mười bốn ngàn (có lẽ là 1400 - HVT) tù binh
Pháp phần lớn là lính lê dương thành đơn vị chiến đấu, rồi đưa về các địa điểm
đã được quy định để chờ lệnh. Nhưng để chứng tỏ giá trị và lòng trung thành với
“nước Pháp mới”, số lính này toả ra khắp trung tâm thành phố và chộp lấy bất kỳ