Mối quan hệ giữa kinh tế, chính trị và biểu hiện của nó trong chế độ tư bản chủ nghĩa - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
__________________________________________

TIỂU LUẬN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN
CỦA CHỦ NGHĨA
MÁC – LÊ-NIN

Đề tài:
Mối quan hệ giữa kinh tế, chính trị và biểu hiện của nó trong chế độ
tư bản chủ nghĩa. Từ đó rút ra ý nghĩa và liên hệ với thực tế
Tác giả: Phạm Mạnh Cường
Mã SV: 11130593
Hướng dẫn khoa học: Lê Ngọc Thông

Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2014
1


Lời mở đầu
Quan hệ giữa kinh tế và chính trị là quan hệ cơ bản, tồn tại khách quan
trong mọi xã hội có phân chia giai cấp và được tổ chức thành nhà nước;
là mối quan hệ mật thiết giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng;
quan hệ giữa cái khách quan và cái chủ quan; giữa cái tất yếu và cái có
thể… Nhận thức đúng và giải quyết thành công quan hệ giữa kinh tế và
chính trị là vấn đề có ý nghĩa quyết định chiều hướng, nội dung, nhịp độ,
hiệu quả và mức độ bền vững của sự phát triển nói chung.Để hiểu thêm
các vấn đề về này,tôi biên soạn bài luận này để làm rõ thêm về mối quan
hệ giữa kinh tế,chính trị và biểu hiện của nó trong chế độ tư sản. Từ đó
giúp mọi người có thể hiểu rõ về ý nghĩa và cách áp dụng của nó vào
thực tế để đạt được hiệu quả tối ưu nhất.

Biểu hiện của chính trị trong chế độ tư bản
Tổng kết

Phần nội dung
3


I. Mối quan hệ giữa chính trị với kinh tế
1. Khái niệm “chính trị” và “kinh tế”
“Chính trị” theo nghĩa chung nhất được hiểu như hoạt động liên
quan đến mối quan hệ giữa các nhóm xã hội lớn, trước hết là
giữa các giai cấp, xét rộng hơn nữa là quan hệ giữa các dân tộc,
giữa các quốc gia trên thế giới. Xét về thực chất,chính trị là
quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp,các nhóm xã hội,các quốc
gia dân tộc, trong đó trước hết và cơ bản là lợi ích kinh tế trong
việc giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước. Ph.Ăng ghen
khẳng định rằng: chính trị là sự thống nhất của giai cấp này đối
với các giai cấp khác trong xã hội, là việc một giai cấp hay liên
minh giai cấp nào đó nắm quyền lực để cai trị các giai cấp
khác, để lãnh đạo các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Còn theo
LêNin, trong chính trị vấn đề cốt lõi nhất là” thiết chế quyền
lực nhà nước”. Phạm vi của chính trị, trước hết bao hàm “sự
tham gia vào các công việc nhà nước, đinh hướng hoạt động
của nhà nước, xác định hình thức, nhiệm vụ,nội dung hoạt động
của nhà nước”. Như vậy, một vấn đề sẽ mang tính chính trị,
nếu việc giải quyết nó động chạm đến lợi ích của giai cấp xa
hội, đến quyền lực nhà nước. Do chính trị là quan hệ giữa các
giai cấp xã hội, tức là sản phẩm của xã hội có giai cấp gắn liền
với sự ra đời, phát triển của nhà nước,nên nó là hiện tượng lịch
sử. Điều đó có nghĩa, nó có quá trình hình thành, phát triển và

nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ…). Ngoài ra, khái niệm kinh tế
cũng có thể được dung ở nghĩa: chỉ một tính chất đặc trưng thể
hiện mục tiêu then chốt, đó là tính hiệu quả ( năng suất, chất
lượng, giải hao phí….) của mọi quá trình sản xuất kinh doanh.
Từ việc phân tích nội hàm của các khái niệm “chính trị” và
“kinh tế”,
Khi nghiên cứu vai trò của chính trị đối với kinh tế, chúng ta có
thể tiếp cận từ những phương tiện sau:
Thứ nhất, từ quan hệ của các lĩnh vực cơ bản của chính trị,
quyền lực chính trị( đường lối, chính sách; tổ chức, thiết chế
5


chính trị; người lãnh đạo chính trị ) với toàn bộ nền kinh tế nói
chúng.
Thứ hai, từ quan hệ của chính trị, quyền lực chính trị nói chung
với các lĩnh vực kinh tế cơ bản ( nông nghiệp, công nghiệp,
dịch vụ…) hoặc với các quan hệ kinh tế cơ bản , như quan hệ
sở hữu, quan hệ quản lý quan hệ phân phối, hoặc với các hoạt
động kinh tế, như hoạt động kinh tế trong nước hoạt động kinh
tế đối ngoại.
Thứ ba, từ cấp độ quan hệ hẹp, cụ thể hơn, như chính sách về
nhông nghiệp chính sách về sở hữu…..
2. Quan hệ biện chứng giữa chính trị và kinh tế
Có thể khẳng định rằng, quan hệ giữa chính trị với kinh tế bao
hàm những nội dung và hình thức khác nhau,tùy thuộc vào góc
độ nghiên cứu khác nhau, đặc trưng bản chất của quan hệ này
được biểu hiện ở quan hệ của việc nắm và thực hiện quyền lực
chính trị với tính hiệu quả của nền kinh tế.
Quan điểm mác-xít về quan hệ biện chứng giữa chính trị và

cho rằng, phát triển LLSX, phát triển sản xuất là một trong
những cơ sở, tiêu chí cơ bản để đánh giá sự tác động của chính
trị đối với kinh tế. Với tư cách là một lý luận cách mạng bằng
con đường hiện thực,học thuyết mác xít đặt mục tiêu căn bản
và quan trọng là giải phóng sức sản xuất. Trong lý luận đó giai
cấp tư sản trở thành đối tượng của cách mạng vô sản không
phải chỉ do đối lập tình cảm giai cấp, mà căn bản là do trong
những điều kiện đương thời, giai cấp tư sản đã trở thành một
trong những lực lượng xã hội chủ yếu cản trở sự phát triển của
LLSX nói riêng, của toàn bộ nền sản xuất nói chung. Theo tinh
thần đó, nhận thức và giải quyết quan hệ chính trị với kinh tế
bên cạnh việc phải xý thức tới vị trí và lợi ích của giai cấp cầm
quyền thì yêu cầu cơ bản, nền tảng cần phải tính tới là quan hệ
và sự tác động của chính trị với kinh tế phải vì mục tiêu phát
triển sức sản xuất. Điều này có nghĩa, xét từ phương diện vai
trò của chính trị đối với kinh tế thì một giai cấp xã hội, một
thiết chế chính trị xã hội, một đường lối chính sách nào đó chỉ
7


được coi là tiến bộ, là phù hợp với xu thế phát triển, khi sự tồn
tại và hoạt động của nó tạo điều kiện thúc đẩy và tạo đã cho sức
sản xuất phát triển.
Sự phát triển, bổ sung của V.I.Lê nin vào quan điểm của C.Mác
và Ph. Ăng ghne về vai trò của chính trị đối với kinh tế được
thể hiện đặc biệt rõ nét ở hai luận điểm kinh điển của Người: “
Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế” và “chính trị
không thể không chiếm địa vị hang đầu so với kinh tế”
Về luận điểm thúc nhất: “ Chính trị là sự biểu hiện tập trung
của kinh tế”. Luận điểm này có cơ sở từ chính thực tiễn của quá

trường hợp những yêu cầu đó trước mắt có thể mâu thuẫn, trái
ngược với mong muốn, mục đích chủ quan của giai cấp, nhóm
xã hội cầm quyền. Điều này thường xảy ra ở các nước đang
phát triển. Tại đây, nhà nước thông qua các chính sách của
mình phải chấp nhận và duy trì sự bát bình đẳng trong thu nhập
ở mức độ nào đó để có sự tăng trưởng, phát triển. Bời vì, sự bất
bình đẳng trong kinh tế ở mức nhất định lại là nhân tố thúc đẩy
sự đổi mới sản xuất và công nghệ, tức là có tác dụng thúc đảy
sự phát triển. do những nguyên nhân khách quan của sự vận
động và phát triển kinh tế, sự bất bình đằng rất có thể lạ là bước
tất phải qua đẻ đạt tới sự bình đẳng hơn. Hay như ở thực tế
nước ta hiện nay, Đảng Cộng sản và Nhà nước CHXHCN Việt
Nam chấp nhận, tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của
các thành phần kinh tế ohi XHCN( kinh tế tư bản tư nhân, kinh
tế tư bản nước ngoài….), mặc dù xét về bản chất, các thành
phần kinh tế đó không phù hợp với bản chất chế độ chính trị
XHCN của chúng ta.
Về luận điểm thứ hai : “Chính trị không thể không chiếm địa vị
hang đầu so với kinh tế”. Có được nhận thức đúng “ Chính trị
là biểu hiện tập trung của kinh tế”, vì thế cơ bản là có đủ cơ sở
để khẳng định “ Chính trị không thể không chiếm địa vị hàng
đầu so với kinh tế”.
Về phương diện nhận thức, việc khẳng định sự ưu tiên của
chính trị so với kinh tế là đúng, hợp lý. Bởi vì, ưu tiên cho
9


chính trị là ưu tiên cho những vấn đề căn bản, quyết định đối
với sự phát triển của bản thân kinh tế.
Về phương diện thực tiễn, giành, nắm quyền lực chính trị là

những sai lầm rất dễ mắc phải trong thời kì đổi mới CNXH
hiện nay.
Có thể khẳng định,các nhà kinh điển mác xít đều thống nhất
rằng, quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị được thể
hiện ở chỗ, kinh tế và chính trị là hai mặt thống nhất biện
chứng trong một hình thái kinh tế- xã hội nhất định. Trong sự
tác động qua lại giữa hai lĩnh vực này của đời sống xã hội thì
kinh tế giữ vai trò quy định đối với chính trị; quan hệ kinh tế,
quan hệ sản xuất là những quan hệ vật chất quy định quan hệ
chính trị. Vai trò quy định của kinh tế được thể hiện ở những
điểm sau: Thứ nhất, với tư cách nền tảng vật chất, cơ cấu kinh
tế hiện thực của xã hội, kinh tế sản sinh ra một kết cấu, thể chế
chính trị tương ứng. Thứ hai, xét đến cùng sự biến đổi căn bản
trong kinh tế dẫn đến sự biến đổi căn bản trong chính trị. Với
sự biến đổi căn bản của kinh tế, thì trong chính trị trước sau
cũng diễn ra những biến đổi tương ứng. Khi trong kinh tế chưa
diễn ra những thay đổi căn bản thì trong lĩnh vực chính trị cũng
khó xảy ra biến động gì đáng kể.
Quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị còn là sự tác động
trở lại của chính trị đối với kinh tế. Chủ nghĩa duy vật mác xít
chỉ ra rằng, chính trị nảy sinh nền tảng kinh tế, chịu sự quy định
của kinh tế, xong nó lại mang tính độc lập tương đối. Chính trị
không phải là sản phẩm thụ động của kinh tế mà nó tác động
trở lại rất mạnh đối với kinh tế. Trong hệ thống chính trị của xã
hội thì nhà nước có vai trò tất yếu đặc biệt quan trọng, quyết
định sự hiện thực hóa các tất yếu kinh tế, vì như Ph.Ăng ghen
chỉ rõ: “ Bạo lực (nghĩa là quyền lực nhà nước) cũng là một
tiềm lực kinh tế”.
Khái quát lại, tác động của chính trị đối với kinh tế được biểu
hiện ở xu hướng chủ đạo: nếu sự tác độnh đó phù hợp với quy

chính trị:
"Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế. Chính trị không
thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế"

12


Nguyên lý đó chỉ ra rằng: đường lối chính sách phải phản ánh
được nhu cầu và quy luật kinh tế. Chỉ trong điều kiện đó, chính
trị mới lãnh đạo, quản lý kinh tế có hiệu quả, mới giữ được vai
trò chính trị. Thực tiễn những thời kỳ sau này đó xác nhận tính
đúng đắn của nguyên lý ấy biểu hiện ở những thất bại của các
đảng cầm quyền rơi vào chủ quan duy ý chí trong lãnh đạo và
quản lý kinh tế - xã hội.
4. .Mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị cũng là mối quan hệ
giữa xã hội với chính trị
Qúa trình phát triển kinh tế thị trường tác động đến phát triển
xã hội từ hai mặt:
Một là,sự phát triển phân công lao động xã hội dần dần làm
thay đổi cơ cấu xã hội dân cư. Xãhội Việt Nam sau hơn 20 năm
chuyển sang kinh tế thị trường đó khác xã hội trước đổi mới
về phân tầng xã hội và cơ cấu xã hội dân cư. Sự biến đổi này sẽ
dẫn đến những thay đổi về yêu cầu việc làm và hưởng thụ, về
nhân sinh quan, thế giới quan của xã hội, trước hết là thế hệ trẻ.
Hai là,sự phát triển kinh tế sẽ dần dần làm thay đổi nhu cầu
của dân cư về cơ cấu và chất lượng sản phẩm. Do đó làm thay
đổi mức sống và lối sống của dân cư, sự phát triển xó hội và cá
nhân. Như vậy, sự phát triển kinh tế thị trường nảy sinh những
đòi hỏi mới về mặt xã hội mà chính trị phải giải quyết.
Do phân công lao động phát triển, nên xã hội dần dần được tổ

phong kiến không do một lý thuyết gia nào xây dựng. Tuy
14


nhiênA.Smith là người có đóng góp to lớn nhất xây dựng một
hệ thống lý luận tương đối hoàn chỉnh về chủ nghĩa tư bản tự
do hay tự do kinh tế. Chủ nghĩa tư bản không đồng nhất với chủ
nghĩa tự do dù nền tảng là kinh tế tư hữu, nói cách khác chủ
nghĩa tư bản là một trong các hình thái kinh tế của sản xuất tư
hữu, và đối lập với chủ nghĩa xã hội trên nền tảng sở hữu công
cộng. Các chính sách an sinh xã hội trong nền kinh tế tư bản
không phải là thành tố của chủ nghĩa tư bản, và cũng không phải
biểu hiện đặc trưng của chủ nghĩa xã hội. Chính xác hơn là nó là
một biểu hiện của một nền kinh tế được điều chỉnh ít nhiều bởi
nhà nước.
Đặc điểm đặc trưng nhất của chủ nghĩa tư bản là nhìn
nhận quyền sở hữu tư nhân và quyền tự do sản xuất và kinh
doanh được xã hội bảo vệ về mặt luật pháp và được coi như
một quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của con người. Trong
nền kinh tế tư bản chủ nghĩa không loại trừ hình thức sở hữu
nhà nước và sở hữu toàn dân và đôi khi ở một số nước tại một
số thời điểm tỷ trọng của các hình thức sở hữu này chiếm không
nhỏ (hay còn gọi là mô hình kinh tế hỗn hợp), nhưng điều cơ
bản phân biệt xã hội của chủ nghĩa tư bản với xã hội đối lập với
nó là xã hội cộng sản là trong xã hội tư bản chủ nghĩa quyền tư
hữu đối với phương tiện sản xuất được xã hội và pháp luật bảo
vệ, sự chuyển đổi quyền sở hữu phải thông qua giao dịch dân sự
được pháp luật và xã hội quy định. Còn chủ nghĩa cộng sản và
phần lớn trường phái chủ nghĩa xã hội công nhận quyền sở hữu
tập thể và nhà nước đối với phương tiện sản xuất.

họ chủ nghĩa tư bản chỉ phản ánh một quan hệ sản xuất trên nền
tảng chế độ tư hữu hay nguyên tắc vốn và lãi khi tham gia vào
thị trường. Ở các nước mà những người cộng sản gọi là theo chế
độ chính trị "tư bản chủ nghĩa" (đối lập với xã hội chủ nghĩa) thì
không có định nghĩa rõ ràng thế nào là CNTB trong các văn
kiện pháp luật hay các văn kiện mang tầm cỡ quốc gia (không
quy định trong Hiến pháp,...). Về mặt chính trị, ở những "quốc
gia tư bản" quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt
không hề bị nghi ngờ, họ không đưa ra khái niệm thế nào là nhà
nước CNTB mà chỉ định nghĩa các chế độ chính trị như thế nào
thì được gọi là một nhà nước quân chủ lập hiến, quân chủ hợp
hiến, nhà nước dân chủ, quân phiệt, chế độ độc tài, chế độ cộng
hòa.v.v..Không có đảng nào mang tên Đảng tư bản chủ nghĩa.
Tuy nhiên những người theo phái xã hội chủ nghĩa,... thường
cho là các cuộc bầu cử của chế độ tư bản đem lại lợi thế cho giai
16


cấp tư sản, và bảo vệ chế độ tư bản nên khái quát thành "chính
trị tư bản chủ nghĩa".
Do nhận thức khác nhau trên cơ sở kinh tế hay chính trị, "các
nước tư bản" thường tự gọi họ là các nước thuộc "Thế giới tự
do", trong khi gọi các nước đảng cộng sản lãnh đạo là "các nước
cộng sản"; trong khi đó các nước đảng cộng sản lãnh đạo gọi
nước họ là "các nước xã hội chủ nghĩa", và các nước kinh tế tư
bản chủ đạo là "các nước tư bản", và không gọi các nước tuyên
bố "xã hội chủ nghĩa" (trong Hiến pháp,v.v.) nhưng không do
đảng cộng sản lãnh đạo là "các nước xã hội chủ nghĩa".
Có thể nói rằng hình thái kinh tế xã hội mà những người cộng
sản gọi là "CNTB" tồn tại dựa trên quan hệ cho vay lãi và cho

nghệ, máy móc, và chất xám làm phương tiện sản xuất chính và
là nền kinh tế định hướng sang công nghiệp, dịch vụ và thương
mại. Sự định hướng này hoàn toàn do yếu tố lợi nhuận vàthị
trường điều phối. Do phương tiện sản xuất là công nghệ, tri thức
nên nền sản xuất tư bản chủ nghĩa để có lợi nhuận tối đa luôn có
xu hướng hướng đến "nền sản xuất lớn" với sự tái đầu tư mở
rộng và gắn liền với cách mạng khoa học-công nghệ. Việc nâng
cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh là lợi ích sống
còn của các chủ sở hữu doanh nghiệp trong cạnh tranh giành lợi
nhuận.
Mua bán sức lao động (thị trường lao động): đây là đặc
điểm rất nổi bật của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Trong nền
kinh tế phong kiến và các nền kinh tế cấp thấp lực lượng nhân
công (nông dân, nông nô) bị phụ thuộc vào chủ đất (địa chủ,
lãnh chúa) và quý tộc về mặt pháp lý, họ bị gắn chặt vào ruộng
đất và ý chí của chủ đất và quý tộc. Còn nhân công (người lao
động) trong kinh tế tư bản chủ nghĩa về mặt pháp lý là hoàn
toàn bình đẳng với chủ sở hữu doanh nghiệp (người thuê lao
động). Giữa người thuê lao động và người lao động ràng buộc
kinh tế với nhau bằng hợp đồng lao động: người lao động và
chủ doanh nghiệp mua bán sức lao động theo các yếu tố của thị
trường. Công nhân có thể thanh lý hợp đồng lao động với người
thuê lao động này và sang làm việc cho người thuê lao động
khác và nếu muốn cùng với có khả năng hoặc may mắn thì cũng
có thể trở thành chủ doanh nghiệp.Cả xã hội TBCN là một thị
trường lao động lớn và thường thì cung ứng lao động nhiều hơn
yêu cầu lao động, do vậy trong xã hội tư bản chủ nghĩa thường
18





theo thời gian, xã hội chuyển biến như một thị trường các giá trị
lên giá và xuống giá rất nhanh. Một mặt, nó khuyến khích các
chủ thể sáng tạo nhằm mục tiêu thu lợi cho mình, mặt khác, nó
cũng gây ra sự hỗn loạn của nền kinh tế (đầu cơ trục lợi, khủng
hoảng thừa, đầu tư mất cân đối, cạnh tranh tư bản dẫn tới độc
quyền...). Sự hỗn loạn này đã tạo ra các cuộc khủng hoảng kinh
tế theo chu kỳ trong suốt quá trình lịch sử của chủ nghĩa tư bản.
Quyền cá nhân: Đối với xã hội tư bản chủ nghĩa cá nhân là
chủ thể trung tâm của xã hội: là người sáng tạo ra của cải vật
chất và tinh thần, là lực lượng lao động chính của xã hội. Cá
nhân có trách nhiệm hoàn toàn trước xã hội và có các quyền bất
khả xâm phạm. Quyền lợi của cá nhân trong xã hội tư bản chủ
nghĩa được khẳng định nếu nó không phủ định quyền của cá
nhân khác hoặc xâm phạm đến trật tự của nền sản xuất tư bản
chủ nghĩa, quyền lợi của giai cấp tư sản (chủ thuê lao động). Ở
đây khái niệm cá nhân là rất cụ thể.
Đa đảng và đa nguyên chính trị: Vì nền tảng kinh tế tư bản
chủ nghĩa khước từ mô hình chỉ huy tập trung, kinh tế tư bản đề
cao sự hành động của cá nhân nên trong xã hội cũng hiếm có
với những quan điểm hoặc tín lý mang tính chi phối áp đảo. Các
quốc gia tư bản chủ nghĩa không có giáo lý chung cho "chủ
nghĩa" của hệ thống này. Xã hội tư bản chủ nghĩa không bắt
buộc công nhận bất cứ "chủ nghĩa", học thuyết hoặc nhân vật
thần thánh nào. Tôn giáo cũng bị phán xét, mọi lý thuyết xã hội,
chính trị hoặc lý luận của các tổ chức và cá nhân đều phải qua
thực tế kiểm nghiệm và phán xét công khai và được chấp nhận
hoặc loại bỏ. Do đó chế độ chính trị của xã hội tư bản chủ nghĩa
thường dựa trên chế độ đa đảng cạnh tranh và đa nguyên chính


21


22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status