ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------
NGUYỄN THỊ CẨM HỒNG
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH
VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHẨM CHẤT CHÍNH TRỊ
VÀ TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN TRONG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ, VIÊN CHỨC CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Hồ Chí Minh học
HÀ NỘI – 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------
NGUYỄN THỊ CẨM HỒNG
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH
VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHẨM CHẤT CHÍNH TRỊ
VÀ TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN TRONG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ, VIÊN CHỨC CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh học
Mã số: 60 31 02 04
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
4
1. Tính cấp thiết của đề tài
4
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
9
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
9
6. Đóng góp của luận văn
quan hệ giữa phẩm chất chính trị và trình độ chuyên môn
1.2.1. Những yêu cầu cơ bản cần có của người cán bộ đối với sự
18
nghiệp cách mạng
1.2.1.1. Về phẩm chất chính trị
18
1.2.1.2. Về trình độ chuyên môn
23
1.2.2. Mối quan hệ giữa các yếu tố phẩm chất chính trị và trình độ
chuyên môn
1
25
1.2.3. Con đường hình thành và phát triển các yếu tố phẩm chất
27
chính trị và trình độ chuyên môn
1.2.3.1. Thông qua hoạt động thực tiễn
27
37
2.1.1.2. Về cơ cấu, tổ chức bộ máy
38
2.1.1.3. Về nhiệm vụ và quyền hạn của các khoa, phòng
39
2.1.1.4. Đối với giảng viên các trường chính trị
42
2.1.1.5. Về chương trình, nội dung giảng dạy
49
2.1.2. Thực trạng việc xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức các
49
trường chính trị trong thời gian qua (2005 – 2012)
2.1.2.1. Về giáo dục, rèn luyện đạo đức
49
2.1.2.2. Về công tác tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng và phân công
giữa phẩm chất chính trị và trình độ chuyên môn trong xây dựng đội
ngũ cán bộ, viên chức các trường chính trị tỉnh trong thời gian tới
2.2.1. Đẩy mạnh công tác giáo dục phẩm chất chính trị cho cán bộ,
68
viên chức
2.2.2. Làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng và phân công công việc
72
hợp lý
2.2.3. Nâng cao ý thức tự rèn luyện vươn lên của từng cá nhân
77
2.2.4. Tạo môi trường thuận lợi để cán bộ, viên chức có cơ hội nâng
79
cao đời sống vật chất, tinh thần, phát triển toàn diện phẩm chất, năng
lực của bản thân
* Tiểu kết chương 2
82
KẾT LUẬN
83
đào tạo, bồi dưỡng theo hướng nâng cao chất lượng cả về năng lực và phẩm
chất đạo đức nhằm đạt mục đích cao nhất vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh. Tuy nhiên, trên thực tế không phải ở mọi lúc,
mọi nơi, mọi cấp, mọi ngành trong tổ chức Đảng và chính quyền đều đạt được
kết quả như mong muốn.
4
Hơn nữa, trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, sự nghiệp đổi mới của
nước ta đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới, hơn lúc nào hết đòi
hỏi chúng ta cần phải có một đội ngũ cán bộ đủ “hồng” và “chuyên” để có thể
đáp ứng và giải quyết được những yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Vì
thế việc trở lại nghiên cứu một cách thấu đáo tư tưởng Hồ Chí Minh về quan
hệ giữa đức và tài ở người cán bộ nhằm xây dựng một đội ngũ cán bộ vừa có
đủ phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn để phục vụ cho sự nghiệp
cách mạng hiện nay là vấn đề hết sức cần thiết.
Đối với các trường chính trị, mặc dù trong những năm qua đã có nhiều
quyết tâm và nỗ lực trong xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, viên chức
có đủ phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn nghiệp vụ để hoàn thành
tốt nhiệm vụ chính trị của mình, song kết quả đạt được vẫn chưa đáp ứng
được yêu cầu hiện nay: trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như phẩm chất
chính trị của một số cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; công tác tuyển
chọn, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch còn nhiều bất cập…
Với mong muốn được góp phần làm sáng tỏ thêm những quan điểm, tư
tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa đức và tài ở người
cán bộ, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, năng lực
của đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ, viên chức ở các trường
chính trị nói riêng, chúng tôi chọn đề tài: “Vận dụng quan điểm Hồ Chí
Minh về mối quan hệ giữa phẩm chất chính trị và trình độ chuyên môn
trong xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức các trường chính trị” làm đề tài
Chí Minh”, Đặc san Hồ Chí Minh học (số 4). Bài viết đã nêu được những nét
lớn trong triết lý phát triển của Hồ Chí Minh: khẳng định vai trò to lớn của
con người trong đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng xã hội
mới; xem con người là nhân tố trung tâm trong sự phát triển; chỉ ra những yêu
cầu của Hồ Chí Minh đối với chiến lược trồng người;
6
- Nguyễn Hữu Cát (2009), “Hồ Chí Minh với công tác giáo dục, rèn
luyện đạo đức cách mạng”, Tạp chí Lý luận Chính trị (số 6). Bài viết đã trình
bày khá chi tiết quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về các chuẩn mực đạo
đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên; những nguyên tắc để cán bộ,
đảng viên tự tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng; đồng thời tác
giả cũng đã đưa ra những nội dung cơ bản trong công tác đào tạo, bồi dưỡng
đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Lại Quốc Khánh (2012), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác
cán bộ”, Tạp chí Lý luận Chính trị (số 4). Bài viết khẳng định vị trí, vai trò
quan trọng của đội ngũ cán bộ đối với sự nghiệp cách mạng, trình bày một
cách chi tiết những phẩm chất cần có của đội ngũ cán bộ: đạo đức cách mạng
(nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm); trung thành, hăng hái, trách nhiệm trong công
việc; có trình độ, năng lực, có ý thức tổ chức kỷ luật, tôn trọng và chấp hành
nghiêm pháp luật; ngoài ra tác giả còn chỉ ra những căn bệnh mà cán bộ cần
phải đề phòng, khắc phục;
- Ngô Văn Hà (2012), “Hồ Chí Minh với việc trọng dụng trí thức - nhân
tài”, Tạp chí Lịch sử Đảng (số 3). Bài viết đã khẳng định trọng dụng nhân tài
là truyền thống quý báu của dân tộc ta, nêu lên những quan điểm cơ bản của
chủ tịch Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của trí thức - nhân tài đối với sự nghiệp
cách mạng, đồng thời tác giả cũng đã chỉ ra nghệ thuật sử dụng nhân tài của
Hồ Chí Minh;
+ Quan niệm Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của con người trong sự
nghiệp cách mạng.
+ Những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ
giữa phẩm chất chính trị và trình độ chuyên môn.
+ Thực trạng việc xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức ở các trường
chính trị trong thời gian qua (từ năm 2005 đến 2012).
8
+ Đề xuất một số giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, viên
chức ở các trường chính trị trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ
Chí Minh về mối quan hệ giữa phẩm chất chính trị và trình độ chuyên môn;
thực tiễn xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, viên chức ở các trường
chính trị.
- Phạm vi nghiên cứu: một số trường chính trị trong nước từ năm 2005
đến 2012.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Trong quá trình nghiên cứu, luận văn vận dụng các quan
điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm,
chính sách của Đảng và Nhà nước về mối quan hệ giữa đức và tài trong xây
dựng con người. Ngoài ra luận văn còn sử dụng các tài liệu, công trình nghiên
cứu có liên quan.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng chủ yếu các phương pháp
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là
phương pháp phân tích-tổng hợp, lôgic-lịch sử, thống kê, so sánh v.v...
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn nghiên cứu làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ
Chí Minh về mối quan hệ giữa phẩm chất chính trị và trình độ chuyên môn.
gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng
nữa là cả loài người” [25, tr.130]. Hồ Chí Minh không bao giờ xem xét con
người một cách trừu tượng mà luôn xuất phát từ hoàn cảnh con người hiện
thực cụ thể trong các quan hệ xã hội với nhiều bình diện, nhiều chiều khác
nhau. Đặc biệt ở Hồ Chí Minh, bên cạnh những khái niệm phổ quát như giai
cấp công nhân, giai cấp vô sản, nhân dân lao động, chúng ta đã thấy xuất hiện
thêm các khái niệm mới: “Người nô lệ mất nước”, “Người cùng khổ”. Theo
nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu, đấy là những khái niệm xuất hiện đầy ấn
tượng và là một cách tiếp cận riêng của Hồ Chí Minh trong quan niệm về con
người. Có thể khẳng định: cách tiếp cận cơ bản nhất của Hồ Chí Minh vẫn là
đặt con người trong mối quan hệ với cộng đồng dân tộc. Bởi vì, hơn bất cứ ai,
Hồ Chí Minh luôn luôn ở trong lòng nhân dân, mang cùng một truyền thống
anh hùng, gắn bó với con người, với nhân dân từ trong khối óc, khát vọng và
con tim, trọn vẹn suốt cuộc đời.
Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã
hội. Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn quan niệm con người, trong cấu trúc nhân
cách, là một hệ thống bao gồm tổng hoà nhiều yếu tố hợp thành như: thể xác
và tâm hồn, thể lực và trí tuệ, cái sinh vật và cái xã hội... Con người ai cũng
11
có chỗ hay chỗ dở, ai cũng có tính tốt tính xấu, có thiện có ác. Vấn đề là làm
sao cho phần xấu mất dần đi, phần tốt nảy nở như hoa mùa xuân; con người ta
sinh ra, ai cũng lớn lên, già đi rồi chết; người ta ai cũng muốn sung sướng,
mạnh khoẻ... Cách quan niệm như thế cho phép Hồ Chí Minh đạt tới cái nhìn
toàn diện về con người; là cơ sở để Hồ Chí Minh hiểu, cảm thông, lo lắng cho
con người. Đây là tư tưởng chủ đạo, bao trùm và xuyên suốt, vừa có ý nghĩa
như tiền đề xuất phát, đồng thời lại là mục đích trong hệ thống tư tưởng Hồ
Chí Minh.
1.1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của con người
tra. Dân vừa là chủ nhưng dân vừa thực hiện công việc làm chủ, vừa là chủ
thể, vừa là khách thể, vừa là lực lượng, động lực vừa là mục tiêu của cách
mạng Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất
nước nhà, xây dựng đời sống mới, tiến lên xã hội chủ nghĩa đều phải bắt đầu
từ vốn con người, từ việc phát huy nhân tố con người. Nếu khinh dân, xem
khinh việc sử dụng và phát huy nhân tố con người sẽ là một sai lầm rất to, rất
có hại, có quan hệ mật thiết đến thành hay bại của sự nghiệp cách mạng.
Vai trò con người chính là vai trò của quần chúng nhân dân, người sáng
tạo chân chính ra lịch sử chứ không phải "vài ba cá nhân anh hùng nào", thể
hiện qua các hoạt động thực tiễn cơ bản nhất: Lao động sản xuất, đấu tranh
chính trị - xã hội và sáng tạo các giá trị văn hóa - tinh thần.
Hồ Chí Minh cho rằng: Tất cả của cải vật chất trong xã hội đều do quần
chúng nhân dân làm ra. Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội
mới sống còn phát triển, ngoài ra quần chúng còn là người sáng tác ra các giá
trị văn hóa - tinh thần. Người giải thích cơ sở khoa học cho vai trò đó xuất
phát từ chỗ lực lượng dân chúng nhiều vô cùng. “Kinh nghiệm trong nước và
13
các nước tỏ cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó
khăn mấy cũng làm được. Không có thì việc gì cũng làm không xong. Dân
chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà
những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra" [24, tr.335].
Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người đóng vai trò là động
lực to lớn, quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tư
tưởng “dân là vốn quý nhất, có dân là có tất cả” cho thấy trong tư tưởng Hồ
Chí Minh, nhân tố con người là nguồn lực quan trọng nhất, nguồn lực của mọi
nguồn lực. Vai trò ấy được Người kế thừa từ tư tưởng: “Chở thuyền cũng là
dân, lật thuyền cũng là dân” của Nguyễn Trãi để rồi khái quát ở tầm chân lý.
Trong quá trình giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa động lực và mục
có thêm, có sớm, nhưng cần hơn là con người, là sự phấn khởi của quần
chúng. Làm tất cả là do con người... Làm cho quần chúng hiểu chủ nghĩa xã
hội đúng hơn.
Vào thời điểm đó, cách đặt vấn đề như vậy cho thấy chiều sâu mục tiêu
con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ
bước vào giai đoạn quyết liệt, thì mục tiêu "Không có gì quý hơn độc lập, tự
do" lại ở bậc cao của thang giá trị dân tộc. Mục tiêu con người gắn chặt với
chủ quyền dân tộc. Tại kỳ họp Quốc hội khóa III, ngày 10-4-1965, Hồ Chí
Minh kêu gọi: Lúc này, chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất
của mọi người Việt Nam yêu nước. Ngay trong thời điểm lịch sử vô cùng khó
khăn đó, phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị lần thứ 12, khóa III Ban Chấp
hành TW Đảng, tháng 12-1965, Hồ Chí Minh lưu ý: "Chúng ta phải hết sức
chăm lo đến đời sống của nhân dân, nhất là đời sống của các cháu, của các gia
đình thương binh, liệt sỹ, đời sống của nhân dân ở các vùng bị bắn phá
nhiều... những gia đình thu nhập thấp, đông con".
15
Bản Di chúc của Người cũng nêu công việc đầu tiên là đối với con
người. Điều đó cho thấy cái "bất biến" trong tư tưởng Hồ Chí Minh là tất cả vì
con người để ứng với cái "vạn biến" của lịch sử đặt ra. Theo Hồ Chí Minh, tất
cả những người lao động trên thế giới đều có một mục đích chung là thoát
khỏi áp bức, bóc lột, được sống sung sướng tự do, tức là thực hiện chế độ
cộng sản. Nhưng để đi đến mục đích ấy, mỗi nước phải tùy theo điều kiện
thiết thực của mình mà tiến dần.
Mục tiêu giải phóng con người về mặt chính trị-xã hội cũng được Hồ Chí
Minh chú ý, nhấn mạnh. Giá trị và chiều sâu tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ở
chỗ đã nhìn nhận và đánh giá vai trò của văn hóa-đạo đức-truyền thống trong
tiến trình thực hiện mục tiêu phát triển con người.
Xét ở một khía cạnh nào đó, văn hóa-đạo đức-truyền thống là những yếu
triển xã hội "là sự phát triển rút ngắn", nhằm đạt tới mục tiêu con người, trong
đó "phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất
cả mọi người". Con đường phát triển rút ngắn, theo Hồ Chí Minh, không chỉ
là "cơ cấu lại" hệ thống các chuẩn mực văn hóa-đạo đức khách quan, mà ở
chỗ, nó hướng vào sự tự nhận thức, tự đánh giá, tự hoàn thiện về lối sống,
nhân cách của mỗi người. Hồ Chí Minh nhấn mạnh sự tu dưỡng đạo đức cá
nhân, cải tạo cái cá nhân để từ đó cải tạo xã hội đồng thời với quá trình cải tạo
xã hội để tạo điều kiện cho cải tạo cá nhân.
Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán coi con
người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng Việt Nam theo tinh
thần cách mạng và khoa học. Vấn đề con người gắn liền với cách mạng giải
phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa; mục tiêu giải phóng con người
gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Hồ Chí Minh kết luận phải
17
đem hết sức dân, tài dân, của dân làm lợi cho dân; phải dựa vào lực lượng của
dân, tinh thần của dân, để gây hạnh phúc cho dân và Chủ nghĩa xã hội là
nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân và do nhân dân tự
xây dựng lấy.
1.2. Những nội dung cơ bản trong quan điểm Hồ Chí Minh về mối
quan hệ giữa phẩm chất chính trị và trình độ chuyên môn
1.2.1. Những yêu cầu cơ bản cần có của người cán bộ đối với sự
nghiệp cách mạng
Xuất phát từ vị trí, vai trò hết sức quan trọng của con người trong sự
nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh yêu cầu để hoàn thành tốt vai trò của mình,
người cán bộ cách mạng phải có đầy đủ những phẩm chất cần thiết và phải
luôn tự giác rèn luyện để không ngừng nâng cao phẩm chất, năng lực đáp ứng
yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn. Theo Hồ Chí Minh,
phải dám dấn thân để đấu tranh giải phóng con người.
Đối với những người cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: học tập chủ
nghĩa Mác - Lênin để thương yêu nhau hơn, hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là
phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống
không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được.
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư:
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư là nền tảng của đời sống mới, là
phẩm chất trung tâm của đạo đức cách mạng trong tư tưởng đạo đức của Hồ
Chí Minh, là mối quan hệ “với tự mình”. Hồ Chí Minh quan niệm cần, kiệm,
liêm, chính là bốn đức tính của con người, như trời có bốn mùa, đất có bốn
phương và Người giải thích cặn kẽ, cụ thể nội dung từng khái niệm.
Cần là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có
năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng,
không ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là
20
nguồn sống, nguồn hạnh phúc của mỗi chúng ta. “Cần là luôn luôn cố gắng,
luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Nhưng không làm quá trớn. Phải biết nuôi
dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài” [25, tr.120]. Lười
biếng là kẻ địch của chữ Cần và cũng là kẻ địch của dân tộc.
Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của dân,
của nước, của bản thân mình, tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ; “không xa xỉ,
không hoang phí, không bừa bãi” [25, tr.122].
Nhưng theo Hồ Chí Minh tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Người viết:
"Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc
đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn
bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đáng là kiệm. Việc đáng tiêu mà
không tiêu là bủn xỉn chứ không phải là kiệm" [25, tr.123].
Cần, kiệm là phẩm chất của mọi người lao động trong đời sống, trong