ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------- -----------
BÀN THỊ TÂM
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TỶ LỆ MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG Ở LỢN CON
THEO MẸ VÀ SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ TẠI
HUYỆN NA HANG - TỈNH TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chính quy
Chuyên ngành
Sư phạm kỹ thuật Nông nghiệp
Lớp:
K43 SPKTNN
Khoa:
Chăn nuôi Thú y
Khoá học:
2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn:
TS. Nguyễn Văn Quang
Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái nguyên, năm 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm
Bảng 4.1. Mức ăn của lợn nái nuôi con ......................................................... 30
Bảng 4.2. Quy trình phòng bệnh lợn nái mang thai ...................................... 32
Bảng 4.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất................................................ 38
Bảng 4.4. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con trong tháng 3, 4 và 5/2015 ... 39
Bảng 4.5. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa tuổi.......................... 40
Bảng 4.6. Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt .....42
Bảng 4.7. Triệu chứng bệnh phân trắng lợn con ........................................... 42
Bảng 4.8. Kết quả điều trị bệnh phân trắng lợn con bằng Amoxicilin và
Baytril 0,5% .................................................................................. 43
iii
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
Ca
: Canxi
Cs
: Cộng sự
Fe
: Sắt
HTX
: Hợp tác xã
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................... 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3
2.1. Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài......................................................... 3
2.1.1. Đặc điểm của lợn con theo mẹ ................................................................ 3
2.1.2. Đặc điểm của một số giống lợn nuôi tại huyện....................................... 7
2.1.3. Những hiểu biết về vi khuẩn E. coli...................................................... 11
2.1.4. Bệnh phân trắng lợn con ....................................................................... 15
2.1.5. Những hiểu biết về thuốc Amoxicilin và thuốc Baytril 0,5% .............. 23
2.2. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước ...................................... 23
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................... 23
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ...................................................... 25
PHẦN 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ................................................................................................................ 26
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 26
3.2. Địa điểm, thời gian tiến hành ................................................................... 26
3.3 Nội dung nghiên cứu ................................................................................. 26
3.3.1. Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con tại huyện Na Hang – tỉnh
Tuyên Quang ................................................................................................... 26
3.3.2. Điều trị bệnh phân trắng cho lợn con .................................................... 26
3.4. Phương pháp tiến hành ............................................................................. 26
v
3.4.1. Phương pháp điều tra ............................................................................ 26
3.4.2. Các công thức tính toán số liệu: ............................................................ 26
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 27
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .......................... 28
4.1. Kết quả phục vụ sản xuất tại cơ sở........................................................... 28
4.1.1. Kết quả công tác tiêm phòng cho đàn vật nuôi trên địa bàn huyện ...... 28
4.1.2. Công tác tuyên truyền, chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn trong nông hộ.... 28
thường từ 26 - 40%.
Sở dĩ bệnh được biết đến nhiều bởi tỉ lệ mắc và chết ở lợn cao, gây thiệt
hại kinh tế lớn. Ở nước ta, tại các trang trại chăn nuôi sản xuất con giống và
các trang trại chăn nuôi thương phẩm, tỉ lệ lợn con theo mẹ mắc bệnh cao.
Ngoài ra, việc sử dụng kháng sinh không hợp lý đã ảnh hưởng đến năng suất
và phẩm chất con giống, ảnh hưởng đến sự phát triển của lợn con. Bệnh phân
trắng ở lợn con đã làm giảm hiệu quả trong chăn nuôi và gây nhiều thiệt hại
về kinh tế (Đào Trọng Đạt và cs, (1996) [4]).
2
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh, nhưng vì tính
chất phức tạp của nguyên nhân gây bệnh nên việc điều trị gặp nhiều khó khăn.
Hiện có nhiều loại thuốc đã được sử dụng để điều trị song đem lại kết quả
không như mong muốn, lợn có thể khỏi bệnh nhưng chậm lớn, còi cọc.
Với mong muốn tìm hiểu về bệnh và có biện pháp giảm tỉ lệ mắc bệnh
trên đàn lợn của huyện, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tỷ lệ mắc
bệnh phân trắng ở lợn con theo mẹ và sử dụng thuốc điều trị tại huyện Na
Hang – Tỉnh Tuyên Quang”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng và tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng tại địa phương.
- Góp phần hạn chế thiệt hại do bệnh phân trắng lợn con gây ra.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con tại huyện.
- Dùng thuốc điều trị bệnh phân trắng cho lợn con.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài đóng góp thêm vào nguồn tư liệu về bệnh phân trắng
ở lợn con.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
nghĩa là tiêu tốn thức ăn ít hơn lợn lớn. Vì vậy, tăng chủ yếu của lợn con là
nạc, mà để sản xuất ra 1 kg thịt nạc thì cần ít năng lượng hơn để tạo ra 1 kg
thịt mỡ.
4
* Đặc điểm về cơ quan tiêu hóa
Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hóa của lợn: Miệng, hầu,
thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn.
Cơ quan tiêu hóa phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện. Biểu hiện:
Sự phát triển nhanh biểu hiện rõ qua sự phát triển của cơ quan tiêu hóa theo
từng giai đoạn phát triển của lợn con.
Dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần sơ sinh, lúc 21 ngày
tuổi tăng gấp 8 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc sơ sinh là
khoảng 0,03 lít).
Dung tích ruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần lúc sơ
sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung
tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít).
Dung tích ruột già của lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 1,5 lần lúc sơ
sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 2,5 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung
tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít). Sự tăng chiều dài và thể tích ruột có
quan hệ đến khả năng tiêu hóa xenluloza khá cao trong thức ăn bổ sung. Vì
vậy, cho lợn con tập ăn sớm là một biện pháp tốt trong chăn nuôi.
Đặc biệt ở lợn con có giai đoạn không có HCl trong dạ dày. Giai đoạn
này gọi là giai đoạn thích ứng cần thiết tự nhiên, nhờ sự thích ứng này mà cơ
thể mới thẩm thấu đưa kháng thể miễn dịch có trong sữa đầu của lợn mẹ.
Trong giai đoạn đó dịch vị dạ dày không có hoạt tính phân giải protein
mà chỉ có khả năng làm đông vón sữa, huyết thanh chứa Albumin và Globulin
được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu.
Tuy nhiên, từ 14 - 16 ngày tuổi tình trạng thiếu HCL ở dạ dày không
kém, năng lực phản ứng yếu dễ bị ảnh hưởng xấu bởi khí hậu nóng ẩm và
lạnh ở bên ngoài. Lợn con trong thời kỳ này nếu trong chuồng nuôi có nhiệt
độ thấp, ẩm độ tương đối cao sẽ làm thân nhiệt lợn con giảm xuống nhanh.
6
Khi còn là bào thai điều kiện sống tương đối ổn định, các chất dinh dưỡng do
lợn mẹ cung cấp qua nhau thai. Sau khi được sinh ra cơ thể lợn con được tiếp
xúc trực tiếp với điều kiện ngoại cảnh. Do đó nếu chăm sóc không tốt lợn dễ
còi cọc và chết, đặc biệt vào mùa đông khi thời tiết mưa phùn lợn con dễ bị ỉa
chảy phân trắng.
Mặt khác do lớp mỡ dưới da mỏng, lượng mỡ và glycozen dự trữ trong
cơ thể thấp nên khả năng giữ nhiệt và cung cấp nhiệt để chống rét còn hạn
chế. Vì vậy, phải tạo mọi điều kiện thích hợp trong quá trình sinh sản để lợn
con không bị thay đổi nhiệt độ đột ngột lúc mới sinh.
Diện tích bề mặt cơ thể lợn con so với khối lượng chênh lệch tương đối
cao nên lợn con bị mất nhiều nhiệt khi lạnh.
Độ ẩm cũng là một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng điều hòa
của thân nhiệt lợn con. Nếu độ ẩm cao thì lợn con dễ bị mất nhiệt và có thể bị
cảm lạnh. Độ ẩm thích hợp của lợn con nước ta là: 56 - 70%.
* Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con
Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể, lượng
kháng thể tăng rất nhanh khi lợn con được bú sữa đầu. Cho nên khả năng
miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động vào lượng kháng thể thu được
nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [10].
Trong sữa đầu của lợn nái có hàm lượng protein rất cao. Những ngày
đầu mới đẻ hàm lượng protein trong sữa chiếm tới 18 - 19%, trong đó lượng globulin chiếm hàm khá lớn (30 - 35%), - globulin có tác dụng tạo sức đề
kháng, cho nên sữa đầu có vai trò quan trọng với khả năng miễn dịch của lợn
con. Lợn con hấp thụ - globulin từ sữa mẹ bằng con đường ẩm bào. Quá trình
hấp thu nguyên vẹn phân tử - globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian. Phân
Lợn rừng thường đẻ mỗi năm 2 lứa, mỗi lứa 5 - 10 con, lứa đầu (con
so) 3 - 5 con, lứa sau (con rạ) đẻ nhiều hơn (7 - 10 con). Trọng lượng lợn sơ
sinh bình quân 0,5 - 0,9 kg/con. Lợn con có bộ lông sọc dưa (vệt lông màu
8
vàng chạy dọc thân trên nền da màu đen hoặc nâu). Khi lợn con trên 3 tháng
tuổi, các vệt sọc dưa này không còn nữa. Trọng lượng bình quân lúc trưởng
thành, con đực nặng 80 - 100 kg, con cái nặng 50 - 70 kg...
Lợn rừng 7 - 8 tháng tuổi, thể trọng 30 - 40 kg (với lợn cái có thể cho
phối giống, lợn đực giống có thể cho phối giống trễ hơn 1 - 2 tháng). Thời
gian mang thai cũng như lợn nhà (khoảng 114 - 115 ngày). Thời gian đẻ (từ
con đầu đến con cuối) 1 - 2 giờ. Quá trình đẻ diễn ra tự nhiên, không cần sự
giúp đỡ hoặc can thiệp của con người.
* Đặc điểm giống lợn Ỉ
- Nguồn gốc: Lợn Ỉ là giống lợn có nguồn gốc từ tỉnh Nam Định. Hiện
nay giống lợn này được nuôi rộng rãi ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng như:
Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định,…
- Đặc điểm ngoại hình: Lợn Ỉ toàn thân có lông đen da tuyền, đầu nhỏ,
thô, mõm ngắn – cong, mình ngắn, ngực sâu, lưng võng, bụng xệ, có 10 vú,
chân yếu. Lợn thuộc loại thể chất yếu, tầm vóc nhỏ, lợn đực thường nhỏ hơn
lợn cái. Lợn có xu hướng sản xuất mỡ.
- Đặc điểm sinh trưởng phát dục:
Lợn Ỉ sinh trưởng phát triển chậm, khối lượng lúc 2 tháng tuổi đạt 5,0
kg, từ 4 – 8 tháng tuổi khối lượng lợn Ỉ đực thường thấp hơn lợn Ỉ cái ( Ỉ đực
11,9 kg, Ỉ cái là 13,5 kg lúc 4 tháng tuổi).
Lợn Ỉ trưởng thành có khối lượng không quá 85 kg, do vậy cần quan
tâm vấn đề nâng cao tầm vóc của lợn.
- Khả năng sinh sản:
Đối với lợn cái: Thành thục về tính sớm, con cái 3 – 4 tháng tuổi đã
xuất chung là hướng mỡ, tầm vóc trung bình, có số vú từ 12 vú trở lên, thể
chất yếu.
10
- Đặc điểm sinh trưởng:
Lợn Móng Cái ở 6 tháng tuổi đạt khối lượng 28,7 – 40 kg, 12 tháng
tuổi đạt 60 kg. Ở tuổi trưởng thành lợn Móng Cái đạt 100 – 115 kg. Nếu so
với lợn Ỉ thì lợn Móng Cái có tầm vóc to hơn. Khi mổ thịt ở 100kg, tỷ lệ móc
hàm là 79 %, tỷ lệ nạc là 38,6 %, độ dày mỡ lưng là 4,5 cm.
- Đặc điểm sinh sản:
Lợn Móng Cái thành thục khá sớm, lợn đực thường 2 tháng tuổi đã có
thể giao phối được và có thể thụ thai; lợn cái 3 tháng tuổi đã biểu hiện động
dục, chu kỳ động dục bình quân là 21 ngày (18 - 25 ngày), thời gian động dục
3 - 4 ngày.
Lợn Móng Cái đẻ bình quân 11 con/ lứa (10 – 16 con/ổ), số con nuôi
sống đến cai sữa đạt 9 – 10 con/ổ, tỷ lệ nuôi sống đạt 80 – 85%. Điều này thể
hiện tính mắn đẻ và nuôi con khéo của lợn Móng Cái.
Khối lượng sơ sinh đạt 0,5 – 0,7 kg, khối lượng toàn ổ lúc 30 ngày tuổi
đạt 27,50 – 29,44 kg. Khối lượng cai sữa/con lúc 2 tháng tuổi đạt 7,5 – 7,58
kg; khối lượng toàn ổ lúc 2 tháng tuổi đạt 58,2 – 65,58 kg.
* Đặc điểm giống lợn Yorkshire
- Nguồn gốc: Là giống lợn được hình thành từ vùng Yorkshire của
nước Anh. Được nhập vào nước ta với tên gọi Đại Bạch.
- Đặc điểm ngoại hình: Lợn Yorkshire có lông trắng ánh vàng, đầu cổ
hơi nhỏ và dài, mõm thẳng và dài, mặt rộng, tai to hướng về phía trước, mình
dài lưng cong, 4 chân dài chắc chắn, có 14 vú.
- Đặc điểm sinh trưởng:
Lợn Yorkshire sinh trưởng phát dục nhanh. Khối lượng con đực trưởng
thành 250 - 300 kg, con cái từ 200 - 250 kg.
12
Trong nước thịt: Phát triển tốt, môi trường rất đục, có cặn lắng xuống đáy
màu tro nhạt, đôi khi hình thành màu xám nhạt. Canh trùng mùi phân hôi thối.
Trong môi trường thạch: Ở 370C trong 24 giờ hình thành những khuẩn lạc
hình tròn ướt, không trong suốt màu tro nắng nhạt, hơi lồi, đường kính 2 - 3mm.
Trong môi trường Endo: E. coli hình thành khuẩn lạc màu đỏ.
Trong môi trường E.M.B: E. coli hình thành những khuẩn lạc màu tím đen.
Trong môi trường Wilson Blair: E. coli bị kiềm chế.
Trong môi trường Istrati: E. coli hình thành khuẩn lạc màu vàng.
- Đặc tính sinh hóa.
E. coli lên men và sinh hơi: Trong môi trường đường glucoza,
galactoza, lactoza, mantoza, arabino. Có thể lên men hay không lên men:
Sacaroza, salixin, dunxit, glyxerol. Không lên men: Dextrin, amidin,
glycogen, xenlobio.
E. coli làm đông sữa sau 24 - 37 giờ ở 370C, không làm tan chảy
gelatin. Thường sinh indol, không sản sinh H2S. Phản ứng MR dương tính,
phản ứng VP âm tính. Hoàn nguyên Nitrat thành Nitrit.
- Cấu trúc kháng nguyên.
E. coli có cấu trúc kháng nguyên khá phức tạp, cấu trúc kháng nguyên
của E. coli bao gồm kháng nguyên O (Somatic antigen), K (Capsulas hay
Microcapsulas), H (Flagellar), và F (Fimbriae hay Pilus). Hiện nay người ta tìm
thấy ít nhất 170 kháng nguyên O, 70 kháng nguyên K, 65 kháng nguyên H và
một số lượng kháng nguyên F đang được phát hiện một cách nhanh chóng.
+ Kháng nguyên thân O: Đây là thành phần kháng nguyên nằm trên bề
mặt lớp ngoài cùng của tế bào vi khuẩn. Nó được đặc trưng bởi lớp
Lipopolysaccarid. Khi gặp kháng huyết thanh tương ứng sẽ xảy ra phản ứng
ngưng kết. Do vậy kháng nguyên O luôn được sử dụng để giám định nhận
diện vi khuẩn E. coli. Cấu tạo của lớp kháng nguyên gồm 2 lớp chính:
14
- Sức đề kháng: E. coli bị tiêu diệt ở nhiệt độ 600C trong 15 - 30 phút.
Các chất sát trùng thông thường như: Axit phenic, focmon... có thể tiêu diệt
E. coli trong 5 phút, E. coli đề kháng cao với sự sấy khô.
- Tính gây bệnh:
E. coli có sẵn trong ruột của động vật nhưng chỉ tác động gây bệnh khi
sức đề kháng của con vật giảm sút. E. coli gây bệnh cho gia súc non mới đẻ 3
- 5 ngày tuổi, gây bệnh đường ruột cho ngựa non, cừu non...
Colibacillosis ở bê biểu hiện bằng triệu chứng sốt (410C hay hơn), đi
tháo dạ, lúc đầu phân dính màu vàng sệt, mùi chua, sau chuyển sang màu
trắng xám, hôi thối.
Colibacillosis ở gia cầm biểu hiện triệu chứng đi tháo, phân xanh màu
lá cây, có khi thấy triệu chứng viêm kết mạc mắt, viêm niêm mạc mũi, viêm
cuống phổi.
Colibacillosis ở lợn con mấy ngày đầu sau đẻ cũng giống như bê, có
khi lây bệnh cho cả ổ lợn và lây sang ổ khác.
Ở động vật lớn E. coli có thể gây một số bệnh như viêm phúc mạc,
viêm gan, thận, bàng quang, khớp xương.
Trong phòng thí nghiệm, tiêm vi khuẩn E. coli cho chuột bạch, chuột
lang, thỏ có thể gây viêm cục bộ. Nếu tiêm liều cao có thể làm bại huyết và
giết chết con vật.
- Chẩn đoán:
Sau khi phân lập vi khuẩn trên các môi trường nuôi cấy từ bệnh phẩm
như: Phân, gan, nước mật, lách... thì tiến hành làm phản ứng huyết thanh
ngưng kết trước và làm phản ứng sinh hóa.
Xác định độc lực của vi khuẩn bằng cách tiêm truyền động vật thí nghiệm.
15
E. coli từ môi trường bên ngoài vào theo đường ăn uống. Khi có đủ
điều kiện thuận lợi vi khuẩn sẽ nhân lên với số lượng lớn và sản sinh các yếu
tố kháng khuẩn Colicin V, yếu tố này bị tiêu diệt hoặc hạn chế sự phát triển
của các vi khuẩn đường ruột khác, đặc biệt là vi khuẩn có lợi và trở thành vi
khuẩn có số lượng lớn trong đường ruột, cường độ độc và tác động gây bệnh.
Để gây bệnh, trước hết vi khuẩn bám vào các tế bào nhung mao ruột
non bằng nhiều kháng nguyên dính bám, sau đó vi khuẩn xâm nhập vào trong
các lớp tế bào biểu mô, tại đây chúng phát triển, phá hủy lớp tế bào này gây
viêm ruột. Vi khuẩn sản sinh độc tố đường ruột (Enterotoxin) phá hủy tổ chức
thành ruột và tăng tính thấm thành mạch, làm thay đổi cân bằng trao đổi
muối, nước, chất điện giải. Nước và chất điện giải không được hấp thu từ ruột
vào mà thẩm xuất từ cơ thể tập trung vào lòng ruột. Vi khuẩn phát triển làm
thay đổi pH trong dạ dày, ruột, sữa không tiêu hóa bị vón lại sinh ra tiêu chảy,
phân có màu trắng (Lê Văn Tạo và cs, (2006) [11]).
* Nguyên nhân gây bệnh
Bệnh phân trắng lợn con do các loại trực khuẩn đường ruột E. coli
thuộc họ vi khuẩn đường ruột Enterobacteriacae, gồm nhiều chủng với những
đặc tính khác nhau. Bên cạnh đó còn có những nguyên nhân khác có thể làm
lợn tăng nhiễm E. coli như:
- Do chuồng nuôi bẩn, lợn mẹ nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém...
làm bào thai sinh ra phát triển kém do đó dễ bị phân trắng lợn con. Do rối
loạn trao đổi chất vì lợn con bú sữa mẹ kém phẩm chất, thiếu dinh dưỡng nhất
là sắt, lợn con khi còn bú mẹ rất cần nước nên không cung cấp đủ nước lợn sẽ
uống nước bẩn...
- Lợn con không được bú sữa đầu, mà khả năng miễn dịch của lợn con
phụ thuộc chủ yếu vào lượng kháng thể hấp thu từ sữa mẹ. Do đó sức đề
kháng của lợn con yếu, dễ mắc bệnh.
17
trắng hoặc màu xám trắng. Hạch lâm ba chuyển từ màu hồng thành đỏ thẫm.
Gan nhão, dễ vỡ, đôi khi có xuất huyết. Phổi ứ huyết, đôi khi có hiện tượng
viêm phổi nhẹ.
Thể mãn tính đặc trưng là tăng sinh tế bào. Trong u tế bào tăng sinh có
các đại thực bào với hạt nhân màu sáng. Đó là sản phẩm biểu bì võng mô,
chúng có khả năng thực bào. Trong u có hiện tượng hoại tử và vi khuẩn
Salmonella. Hiện tượng này tạo nên u sơ gan, lách sưng to và đỏ xám hoặc đỏ
sẫm, đôi khi có màu đen, rìa lách cong.
Niêm mạc ruột bị tổn thương, có vết loét. Phổi viêm đôi khi có mủ.
Tim sưng hơi nhão, xoang bao tim chứa đầy nhớt vàng, cơ tim xuất huyết.
* Chẩn đoán
Bệnh lợn con phân trắng là căn bệnh phổ biến trong chăn nuôi lợn tập
trung hay chăn nuôi lợn nông hộ. Bệnh xảy ra ở giai đoạn lợn con theo mẹ do
nhiều nguyên nhân gây ra. Như vậy, để công việc điều trị có hiệu quả thì
người cán bộ thú y phải đưa ra một chẩn đoán chính xác về nguyên nhân gây
bệnh dựa vào đặc điểm lâm sàng hoặc những nghiên cứu hóa sinh, có thể mổ
khám bệnh tích những con bệnh đã chết trong đàn.
Việc chẩn đoán lợn con phân trắng chỉ cần dựa vào triệu chứng lâm sàng
dễ dàng phát hiện. Trong đàn lợn mắc bệnh thường quan sát thấy các loại phân:
Lúc đầu là táo, sau đó là lỏng hoặc sền sệt, màu vàng hoặc màu nâu trắng. Quan
sát hậu môn có thể phát hiện những con mắc bệnh có dính phân ở hậu môn hoặc
cả vùng mông, khoeo, nhìn thấy ướt. Lợn con bỏ bú hoặc bú ít, xù lông, tím tai,
tím mõm. Thường nằm ở góc chuồng, khi nặng thì run rẩy, co giật.
Chẩn đoán bằng phương pháp xét nghiệm phân. Một nghiên cứu để xác
định pH của phân cho thấy, nếu lợn con mắc bệnh do E. coli thì dịch phân tiêu
chảy có pH hoàn toàn kiềm tính, do trong dạ dày của lợn con sự phân tiết HCl là
19
rất ít hoặc không có ở những ngày đầu tiên, thêm vào đó là sự đào thải các chất