Đánh giá các quy định trong BLDS 2005 về hình thức sở hữu
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Dân sự 1
Bài tập học kỳ Luật Dân sự 1.
Ở Việt Nam, các hình thức sở hữu cũng được biểu hiện một cách rõ nét và mang những nét
riêng góp phần thúc đẩy nền kinh tế của đất nước. Các quy chế pháp lý đối với mỗi hình thức sở
hữu cũng có những nét riêng biệt nên việc phân biệt các hình thức sở hữu khác nhau trong luật
dân sự là cần thiết. Hình thức sở hữu là vấn đề rất lớn được Bộ luật Dân sự điều chỉnh nhưng
vẫn còn tồn tại những điểm bất cập, chưa hợp lý.
PHẦN THỨ HAI: NHỮNG NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ VỀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA BLDS 2005 VỀ
HÌNH THỨC SỞ HỮU.
I. NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ CHUNG VỀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA BLDS 2005 VỀ HÌNH THỨC
SỞ HỮU.
Sau một thời gian đi vào cuộc sống, Bộ luật Dân sự đã phát huy vai trò trong việc tạo lập hành
lang pháp lý cho các giao dịch dân sự, tạo chuẩn mực ứng xử pháp lý cho các chủ thể tham gia
các giao dịch, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể. Tuy nhiên, do sự
phát triển của kinh tế - xã hội, Bộ luật cũng đã bộc lộ ít nhiều hạn chế, nhất là những vấn đề liên
quan đến sở hữu.
Trong chế định về các hình thức sở hữu, nhìn chung BLDS 2005 đã có những cải thiện rõ rệt so
với BLDS 1995. Điểm hợp lí đã được khẳng định trong suốt thời gian qua khi Bộ luật phát huy
vai trò trong thực tiễn cuộc sống. Tuy vậy, do các nguyên nhân khác nhau trong quá trình xây
dụng luật và do sự phát triển không ngừng của xã hội, chúng ta đã nhận thấy một vài điểm
không phù hợp trong nội dung về các hình thức sở hữu.
BLDS 2005 quy định có sáu hình thức sở hữu là sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư
nhân, sở hữu chung, sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, sở hữu của tổ chức
Nên dựa vào tiêu chí là sự khác biệt trong chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản để khẳng định
hình thức sở hữu cho phù hợp, thay vì phân loại hình thức sở hữu theo kiểu liệt kê như hiện
nay. Cụ thể, nếu tài sản thuộc về một chủ thể thì gọi là hình thức sở hữu tư nhân. Nếu tài sản
thuộc sở hữu của từ hai chủ thể trở lên thì gọi là hình thức sở hữu chung. Cuối cùng, nếu tài sản
thuộc về Nhà nước thì gọi là hình thức sở hữu Nhà nước. Tất nhiên, với cả 3 hình thức sở hữu
này những đặc thù riêng trong chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của từng hình thức sẽ được pháp
luật quy định phù hợp. Còn nếu dựa vào tiêu chí chủ thể có quyền trực tiếp chiếm hữu, sử dụng
và định đoạt tài sản thì sẽ có 4 hình thức sở hữu là sở hữu nhà nước, sở hữu cá nhân, sở hữu
pháp nhân và sở hữu chung. Với một ý kiến khác: theo TS. Phùng Trung Tập (Đại học Luật Hà
Nội) cho rằng, “BLDS 2005 mới liệt kê được các hiện tượng sở hữu tồn tại trong xã hội và có vẻ
đánh đồng các hình thức sở hữu với các thành phần kinh tế. BLDS sửa đổi không nên cá biệt
hoá một nhóm tổ chức nhất định thành một hình thức sở hữu, bỏ quy định sở hữu tập thể và sở
hữu chung hỗn hợp, đồng thời bổ sung hình thức sở hữu hợp tác xã”.
II. MỘT VÀI NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ CỤ THỂ CHO CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU.
1. Đối với hình thức sở hữu nhà nước.
Trong BLDS 2005, việc quy định hình thức sở hữu nhà nước thay cho sở hữu toàn dân và sử
dụng thuật ngữ "sở hữu nhà nước" là tăng trách nhiệm cho chủ sở hữu. Nhà nước là một cơ
quan, một dạng của pháp nhân, là chủ thể có thực và cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp
luật trước nhân dân trong việc thực hiện quyền năng sở hữu của mình. Đây là một điểm tiến bộ.
“Tài sản thuộc sở hữu nhà nước, Điều 200 BLDS 2005 có nêu ra các tài sản là núi non, sông hồ,
lãnh hải, thềm lục địa, vùng trời… giống như Điều 17 Hiến pháp 1992. Tuy nhiên, các vật này
vốn dĩ không thuộc đối tượng của quyền cá nhân và cơ quan nhà nước cũng không có quyền
định đoạt. Chúng không thuộc đối tượng của Luật Dân sự và cũng không phải là các tài sản quy
định trong Luật Dân sự, không thuộc đối tượng của quyền sở hữu. Chúng cần được phân biệt
đẩy nền sự phát triển của nền kinh tế nói chung vì chủ sở hữu đương nhiên coi TLSX của mình
là điều kiện để thu về toàn bộ lợi ích kinh tế trong quá trình sản xuất vật chất độc lập. Tuy các
quy định ngày càng thay đổi nhưng bản chất của sở hữu tư nhân vẫn là sự chuyển hóa từ
quyền sở hữu đối với tài sản thành quyền chiếm hữu lợi ích kinh tế. Điều này vẫn không có sự
thay đổi từ BLDS 1995. Tuy có nhiều mặt tích cực nhưng hình thức sở hữu tư nhân vẫn tiềm ẩn
những vấn đề phức tạp đặc biệt là khi nước ta đang trong thời kì quá độ hiện tại. Vấn đề đặt ra
là cần phải xác định cho được và quy định trong luật những điều kiện phải có khi phát triển sở
hữu tư nhân về TLSX trong tình hình mới.
4. Về vấn đề sở hữu chung trong nhà chung cư.
Theo Điều 225, phần sở hữu chung trong nhà chung cư là phần diện tích, trang thiết bị dùng
chung trong nhà chung cư, các chủ sở hữu trong nhà chung cư có quyền và nghĩa vụ ngang
nhau trong việc quản lý, sử dụng phần diện tích và thiết bị chung… Tuy nhiên, trên thực tế, nảy
sinh rất nhiều vấn đề liên quan đến phần sở hữu chung mà pháp luật dân sự chưa điều chỉnh.
Chẳng hạn, phần diện tích nào được coi là phần sở hữu chung phần diện tích này được bố trí ở
khu vực nào của tòa nhà chung cư, các chủ sở hữu khi căn hộ bán có được quyền để lại phần
diện tích được coi là sở hữu chung hay không… (theo ý kiến của ông Nguyễn Mạnh Khởi - Cục
Quản lý nhà và thị trường bất động sản, Bộ Xây dựng).
PHẦN THỨ NHẤT: CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU TRONG BLDS 2005.
Từ sự “định hướng” của Hiến pháp năm 1992 về chế độ sở hữu và các hình thức sở hữu,
chương XIII, Bộ Luật dân sự năm 2005 quy định 6 hình thức sở hữu được trình bày thành 6 mục
tương ứng đó là: Sở hữu nhà nước; sở hữu tập thể; sở hữu tư nhân; sở hữu chung; sở hữu của
các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; sở hữu của tổ chức chính trị xã hội – nghề
nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề ngiệp. Mỗi hình thức sở hữu có các chế độ pháp lí
mang tính chất đặc thù và những quy định khác nhau về các phương thức tồn tại, vận động của
- Xác định phạm vi, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp do Nhà nước
thành lập trong việc quản lí nghiệp vụ những tài sản do Nhà nước giao theo quy định của pháp
luật để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh doanh, quản lí hoặc hoạt động công ích.
Theo nghĩa chủ quan, quyền sở hữu nhà nước được hiểu là toàn bộ những hành vi mà Nhà
nước - với tư cách chủ sở hữu - thực hiện các quyền năng cụ thể về chiếm hữu, sử dụng và
định đoạt đối với tài sản của mình. Nhà nước “là chủ” đối với các TLSX chủ yếu và cũng tự quy
định các quyền năng và các trình tự để thực hiện các quyền năng, nhưng không có nghĩa là
quyền hạn của Nhà nước là vô tận đối với các tài sản mà nhà nước là chủ sở hữu. Nhà nước
cũng như các chủ thể khác chỉ thực hiện quyền của chủ sở hữu trong phạm vi pháp luật cho
phép.
2. Chủ thể của sở hữu nhà nước.
Nhà nước là chủ sở hữu đối với tài sản thuộc chế độ sở hữu nhà nước, Nhà nước tham gia
quan hệ quyền sở hữu với tư cách là chủ thể đặc biệt và là chủ thể duy nhất đối với các TLSX
chủ yếu, Nhà nước đại diện cho nhân dân nắm và quản lí toàn bộ tài sản thuộc sở hữu toàn dân
đồng thời nắm toàn bộ quyền lực chính trị. Nhà nước giao tài sản cho các doanh nghiệp nhà
nước, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang quyền quản lí, sử dụng đúng mục đích theo quy định
của pháp luật và thực hiện quyền kiểm tra, giám sát việc quản lí, sử dụng tài sản đó.
Các điều 203, 204, 205 BLDS 2005 quy định về việc thực hiện quyền sở hữu của Nhà nước đối
với tài sản được đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, tài sản được giao cho cơ quan nhà nước,
đơn vị vũ trang, tài sản được giao cho các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
chính trị - xã hội - nghề nghiệp. Theo đó, các doanh nhiệp nhà nước, cơ quan, đơn vị, các tổ
chức khi được Nhà nước giao cho những tài sản phù hợp với chức năng, yêu cầu của mình thì
phải sử dụng, khai thác đúng mục đích, có hiệu quả, phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với
Nhà nước. Ngoài ra, trong phạm vi pháp luật cho phép, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà
nước được thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tài sản được giao nhưng
Điều 202 BLDS 2005: “Quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước
Việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước được thực hiện trong
phạm vi và theo trình tự do pháp luật quy định”.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách là chủ sở hữu đặc biệt cũng có
những quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt những tài sản thuộc sở hữu của mình.
Quyền chiếm hữu: Nhà nước thực hiện quyền chiếm hữu tài sản của mình bằng cách ban hành
các văn bản pháp quy, quy định việc bảo quản, quy định thể lệ kiểm tra tài sản định kì và đột
xuất để kiểm tra tài sản mà Nhà nước đã giao cho các cơ quan, doanh nghiệp của Nhà nước.
Các cơ quan, doanh nghiệp phải nghiêm chỉnh thực hiện các quy định này.
Quyền sử dụng: Với tư cách là chủ sở hữu, Nhà nước đương nhiên có quyền khai thác công
dụng những tài sản thuộc sở hữu của mình. Tuy nhiên, việc này cũng khác với quyền sử dụng
của các chủ thể khác đối với tài sản của mình: Nhà nước thực hiện việc khai thác lợi ích đối với
tài sản của mình theo quy định của pháp luật và theo một kế hoạch nhất định, Nhà nước không
trực tiếp thực hiện quyền sử dụng tài sản mà quyền này được chuyển giao cho các cơ quan,
doanh nghiệp của Nhà nước để khai thác công dụng, hoặc Nhà nước chuyển giao cho các tổ
chức, cá nhân thông qua các hợp đồng dân sự hay thủ tục hành chính nhất định.
Quyền định đoạt: Nhà nước định đoạt tài sản của mình bằng nhiều phương thức khác nhau.
Việc định đoạt này có thể trực tiếp đươc thực hiện bởi các cơ quan quản lí Nhà nước ở trung
ương và địa phương hoặc Nhà nước có thể cho phép các doanh nghiệp do Nhà nước thành lập
thực hiện một phần quyền định đoạt đó.
II. SỞ HỮU TẬP THỂ.
3. Khách thể của sở hữu tập thể.
Khách thể của sở hữu tập thể bao gồm các TLSX (không gồm các TLSX đặc biệt thuộc sở hữu
toàn dân theo quy định tại Điều 17 Hiến pháp 1992 và Điều 200 BLDS 2005), công cụ lao động,
vốn góp của xã viên, các loại quỹ do hợp tác xã lập ra. Tài sản thuộc sở hữu tập thể được quy
định tại Điều 209 BLDS 2005: “Tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể
Tài sản được hình thành từ nguồn đóng góp của các thành viên, thu nhập hợp pháp do sản
xuất, kinh doanh, được Nhà nước hỗ trợ hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của
pháp luật là tài sản thuộc sở hữu của tập thể đó”.
4. Nội dung của sở hữu tập thể.
Nội dung của sở hữu tập thể (bao gồm cả ba lĩnh vực: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) được quy
định tại Điều 210 BLDS 2005 như sau:
“Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể
1. Việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể phải tuân theo
pháp luật, phù hợp với điều lệ của tập thể đó, bảo đảm sự phát triển ổn định của sở hữu tập thể.
2. Tài sản thuộc hình thức sở hữu tập thể được giao cho các thành viên khai thác công dụng
bằng sức lao động của mình trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm phục vụ nhu cầu mở
rộng sản xuất, phát triển kinh tế chung và lợi ích, nhu cầu của các thành viên.
3. Thành viên của tập thể có quyền được ưu tiên mua, thuê, thuê khoán tài sản thuộc hình thức
sở hữu tập thể”.
III. SỞ HỮU TƯ NHÂN.
chủ sở hữu phải có những điều kiện nhất định. Trường hợp công dân không có năng lực hành vi
dân sự, năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ, khi thực hiện quyền sử dụng hay định đoạt phải
thông qua hành vi của người giám hộ theo quy định từ Điều 59 đến Điều 79 BLDS 2005. Người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự khi định đoạt tài sản như tặng, cho, trao đổi... phải có sự
đồng ý của người đại diện theo pháp luật.
BLDS ngoài việc quy định chủ thể của sở hữu tư nhân là công dân Việt Nam còn công nhận các
chủ thể sở hữu tư nhân là công dân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có vốn
về nước để sản xuất, kinh doanh. Những nguời này cũng là chủ thể của sở hữu tư nhân đối với
phần vốn, tài sản mà họ sở hữu ở Việt Nam.
3. Khách thể của hình thức sở hữu tư nhân.
Khách thể của sở hữu tư nhân là những tài sản thuộc quyền sở hữu của cá nhân công dân (có
thể là TLSX hoặc tư liệu tiêu dùng).
Trong BLDS 20065, các loại tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân được quy định tại Điều 212:
“Tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân
1. Thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi,
lợi tức và các tài sản hợp pháp khác của cá nhân là tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân.
Tài sản hợp pháp thuộc hình thức sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số lượng, giá trị.
2. Cá nhân không được sở hữu đối với tài sản mà pháp luật quy định không thể thuộc hình thức
sở hữu sở hữu tư nhân.”
4. Nội dung sở hữu tư nhân.
BLDS 2005 đưa ra khái niệm và phân loại sở hữu chung trong Điều 214: “Sở hữu chung
Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản.
Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.
Tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung”.
Việc xác lập sở hữu chung có thể từ thỏa thuận của các chủ sở hữu, theo quy định của pháp
luật hoặc theo tập quán (theo Điều 215).
“Sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu
được xác định đối với tài sản chung” (khoản 1 Điều 216 BLDS). Sở hữu chung theo phần bao
gồm sở hữu chung hỗn hợp và các loại sở hữu chung theo phần khác. Các điều 216 và 218 quy
định về sở hữu chung theo phần, sở hữu chung hỗn hợp, tài sản thuộc sở hữu chung hỗn hợp
và việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung hỗn hợp. Sở hữu chung hợp
nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia (ví dụ sở hữu chung của vợ chồng trong
quá trình hôn nhân) và sở hữu chung hợp nhất không thể phân chia (ví dụ sở hữu chung của
cộng đồng, sở hữu chung trong nhà chung cư đối với cầu thang, sân chơi...).
2. Chủ thể của sở hữu chung.
Chủ thể của sở hữu chung là tất cả các chủ sở hữu đối với tài sản đó (hình thức đồng sở hữu).
Mỗi đồng chủ sở hữu khi thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài
sản chung sẽ liên quan đến quyền lợi của tất cả các đồng chủ sở hữu khác. Tuy nhiên, mỗi đồng
chủ sở hữu trong sở hữu chung có vị trí độc lập và tham gia quan hệ pháp luật dân sự một với
tư cách là một chủ sở hữu độc lập. Tính chất cùng “chung nhau sở hữu” đối với tài sản chung
2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu
chung hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Trong trường hợp một chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu
chung khác được quyền ưu tiên mua. Trong thời hạn ba tháng đối với tài sản chung là bất động
sản, một tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận
được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì
chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác.
Trong trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong
thời hạn ba tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung
theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Tòa án chuyển sang cho mình
quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.
4. Trong trường hợp một trong các chủ sở hữu chung từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc
khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc Nhà nước, trừ
trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung
còn lại”.
V. SỞ HỮU CỦA TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ, TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI.
1. Khái niệm chung và đặc điểm.
Khái niệm sở hữu chung của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (TCCT, TCCT-XH) được
quy định trong Điều 227 BLDS 2005. Theo đó ta có thể hiểu: Sở hữu của các TCCT, TCCT-XH là
một phạm trù kinh tế để chỉ một loại hình sở hữu về tài sản là những cơ sở vật chất, kỹ thuật,
trang thiết bị, vốn, các loại quỹ... của các tổ chức đó. Sở hữu của các TCCT, TCCT-XH là sở hữu
chung không phân chia của các thành viên trong tổ chức để thực hiện những nhiệm vụ, mục
và từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật là tài sản thuộc sở hữu của tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước đã chuyển giao quyền sở hữu cho tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội là tài sản thuộc sở hữu của tổ chức đó.
2. Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước giao cho tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
để quản lý và sử dụng thì không thuộc sở hữu của tổ chức đó”.
4. Nội dung sở hữu của TCCT, TCCT-XH.
Các TCCT, TCCT-XH với tư cách là chủ sở hữu cũng có đầy đủ các quyền năng của chủ sở hữu
theo quy định của pháp luật dân sự nhưng cũng có những nét đặc thù. Điều 229 BLDS quy định:
“Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài
sản thuộc sở hữu của mình theo quy định của pháp luật và phù hợp với mục đích hoạt động
được quy định trong điều lệ”.
Quyền chiếm hữu: Các TCCT, TCCT-XH kiểm soát tài sản của mình bằng các phương thức như
ban hành các nội quy, quy định nội bộ về việc quản lí, kiểm kê, kiểm soát tài sản.
Quyền sử dụng: Cũng như các chủ thể khác, TCCT, TCCT-XH có quyền khai thác công dụng
của tài sản để thực hiện chức năng của tổ chức đó. Trong quá trình khai thác tài sản, ngoài việc
tuân theo các quy định của pháp luật còn phải phù hợp với mục đích hoạt động đã được quy
định trong điều lệ. Việc sử dụng tài sản phải đúng tính năng, đúng công dụng, đúng phương
thức, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Quyền định đoạt: TCCT, TCCT-XH có quyền quyết định về việc sử dụng, chuyển giao, mua bán
tài sản, hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân cần giúp đỡ... Là chủ sở hữu, các TCCT, TCCT-XH có
toàn quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình nhưng phải phù hợp với mục đích hoạt
Từ trước đến nay, thái độ của Nhà nước ta và các quy định cụ thể của pháp luật đối với từng
hình thức sở hữu cụ thể cũng có những quy chế pháp lí khác nhau. Nhà nước xác định nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần, đa dạng nhưng cũng xác định sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể
là nền tảng, việc bảo hộ của pháp luật trong một chừng mực nhất định cũng có khác nhau.
Với việc quy định các hình thức sở hữu cụ thể, chúng ta sẽ có điều kiện quy định các phương
thức tồn tại, vận động của sở hữu gắn liền với các chủ sở hữu cụ thể cùng với các chế độ pháp
lí có tính chất đặc thù của từng hình thức sở hữu đó.
Tuy còn một vài hạn chế nhất định nhưng không thể phủ nhận những điểm hợp lí và tiến bộ của
các quy định về các hình thức sở hữu trong Bộ luật Dân sự năm 2005. Mong rằng trong lần sửa
đổi tới, quy định về các hình thức sở hữu sẽ có những thay đổi phù hợp hơn nữa để đáp ứng tốt
nhu cầu của thực tế và điều chỉnh một cách phù hợp những quan hệ dân sự có liên quan đến
các hình thức sở hữu.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005.
2. Giáo trình luật Dân sự Việt Nam tập 1, Trường đại học Luật Hà Nội, Nbx. Công an nhân dân,
Hà Nội, 2006.
3. Giáo trình luật Dân sự Việt Nam, tập 1, Lê Đình Nghị (chủ biên), Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2009.
4. Bộ môn luật dân sự - Trường Đại học Luật Hà Nội, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường,
“Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung chế định pháp luật về hình thức sở hữu trong BLDS năm 2005”,
tháng 6/2010.
5. Tưởng Bằng Lượng, “Sở hữu chung theo phần hay sở hữu chung hợp nhất”, Tạp chí toà án
nhân dân, số 4/1999, tr. 20.