BÀI TIỂU LUẬN
Họ và tên: Nguyễn Tuấn Anh
Lớp: Kinh tế 55.06 –Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa MácLênin18 .
Đề tài: liên minh của giai cấp công nhân và các tầng lớp lao động
khác trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.
TRÌNH BÀY:
CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA: cuộc cách mạng xã hội nhằm
chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa sang hình thái
kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là xã hội xã hội
chủ nghĩa. Đó là bước nhảy vọt vĩ đại trong quá trình phát triển của xã
hội loài người. CMXHCN bao gồm một loạt những cải biến cách
mạng có tính chất quyết định trong cơ cấu chính trị, kinh tế - xã hội,
văn hoá và xã hội. Giai cấp công nhân thông qua chính đảng cách
mạng của mình nắm quyền lãnh đạo cách mạng, liên minh với giai
cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác thực hiện nhiệm vụ cơ
bản đầu tiên của CMXHCN là giành lấy chính quyền, phá bỏ bộ máy
chuyên chính tư sản, xác lập bộ máy chính quyền của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động, xây dựng một chế độ mới có nền kinh tế
phát triển trên cơ sở chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu,
loại bỏ mọi đối kháng giai cấp, xoá bỏ mọi áp bức và bóc lột, phát
triển dân chủ xã hội chủ nghĩa và công bằng xã hội, xây dựng nền văn
hoá mới xã hội chủ nghĩa. Quá trình đó bao hàm nhiều giai đoạn khác
nhau trong sự phát triển của chế độ xã hội và kinh tế mới. CMXHCN
là cuộc cách mạng được chủ nghĩa tư bản chuẩn bị sẵn. Những mâu
thuẫn toàn diện và gay gắt trong lòng chế độ tư bản chủ nghĩa là tiền
đề khách quan của CMXHCN. Sự liên minh chính trị của giai cấp
công nhân với các giai cấp và tầng lớp nhân dân lao động là lực lượng
cơ bản để giành thắng lợi cho CMXHCN. Các lực lượng chính trị
cách mạng được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm chính trị của
nhiệm vụ của cách mạng dân chủ tư sản. Trong thời đại mới sau Cách
mạng tháng Mười Nga 1917, ở một số nước, giai cấp công nhân đã
trưởng thành về chính trị có thể gánh lấy trách nhiệm lịch sử lãnh đạo
quần chúng thực hiện nhiệm vụ của cách mạng dân chủ tư sản, thành
lập nhà nước cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, mở đường chuyển
lên CMXHCN, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Cách mạng Việt
Nam, cách mạng Cuba... thuộc loại hình đó. CMXHCN là một cuộc
cách mạng sâu sắc và triệt để nhất trong lịch sử, diễn ra lâu dài, quanh
co và phức tạp, thậm chí có lúc tạm thời thất bại. Điều cơ bản là sau
khi giành được chính quyền, đảng tiên phong của giai cấp công nhân
phải kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa, nắm vững bản chất cách
mạng và khoa học của chủ nghĩa Mac - Lênin, không ngừng bổ sung
và phát triển cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nước mình
và tình hình biến đổi của thời đại, kiên quyết khắc phục giáo điều trì
trệ, chủ quan duy ý chí, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh
dưới mọi màu sắc, giữ vững quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân
và luôn luôn gắn bó với nhân dân, với dân tộc để thực hiện một cách
triệt để và sáng tạo cải biến cách mạng toàn diện nhằm xây dựng chế
độ xã hội chủ nghĩa. Ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản, toàn dân đã đoàn kết trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng
rãi, tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, mở
đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là một quá trình cải biến lâu
dài, sâu sắc, toàn diện, triệt để nhằm xây dựng từ đầu một chế độ xã
hội mới cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, và kiến trúc
thượng tầng. Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một chế độ xã hội do
nhân dân lao động làm chủ, có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên
lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất
chủ yếu, có nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, con người
Tính xã hội hóa lao động ngày càng cao.
Khác biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay ngày càng giảm.
C. Sự xích lại gần nhau trong mối quan hệ phân phối tư liệu tiêu
dùng giữa các giai cấp, tầng lớp.
Thông qua việc xây dựng và từng bước hoàn thiện chế độ phân phối
theo lao động và hiệu quả kinh tế - một mặt cơ bản của quan hệ sản
xuất XHCN.
D. Sự xích lại gần nhau trong tiến bộ về đời sống tinh thần giữa
các giai cấp, tầng lớp.
Thông qua việc đẩy mạnh cuộc cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư
tưởng và văn hóa.
cơ sở khách quan của việc xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công
nhân với giai câp nông dân và các tầng lớp lao động khác trong cách
mạng xã hội chủ nghĩacó những cơ sở khách quan chủ yếu sau đây
A. - CCXH-GC biến đổi và phát triển trong mối quan hệ vừa đấu
tranh, vừa liên minh, xích lại gần nhau, tiến tới từng bước xóa bỏ
hiện tượng bóc lột giai cấp trong xã hội.
Đấu tranh giai cấp để xóa bỏ giai cấp bóc lột.
Liên minh giai cấp để khắc phục sự khác biệt giữa các giai cấp, tầng
lớp lao động.
Cả đấu tranh giai cấp và liên minh giai cấp để đi đến xóa bỏ sự phân
chia giai cấp, tiến đến một xã hội không có giai cấp.
B. - Sự biến đổi của CCXH-GC gắn liền và được biến đổi bởi sự
biến đổi của cơ cấu kinh tế.
Đó là cơ cấu: ngành nghề kinh tế, thành phần kinh tế, cơ chế hành
chính, kinh tế xã hội.
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đây là vấn đề giữ vai trò quyết định trong quá trình xây dựng CNXH.
Liên minh để đảm bảo các lực lượng đông đảo nhất trong xã hội
thống nhất với nhau về mục tiêu.
Liên minh để các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, khoa học
và công nghệ gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng phát triển, nhờ đó đảm
bảo thỏa mãn lợi ích kinh tế, cả trước mắt và lâu dài, cơ bản của mọi
thành viên trong xã hội.
Trong vấn đề này trí thức có vai trò quan trọng.
C. Liên minh về văn hóa xã hội:
Nội dung liên minh về văn hóa xã hội thực chất là đi đến các mục tiêu
mọi người đều phải được quyền hưởng thụ một cách công bằng tất cả
những thành quả của tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã
hội, với phương châm tất cả vì con người mà trước hết mọi người đều
phải có công ăn việc làm không để người lao động thất nghiệp, nhất là
lao động ở nông thôn, gia đình thương binh liệt sĩ người có công với
nước, những người đang còn phải gánh chịu hậu quả chiến tranh. Đó
vừa là một nhiệm vụ của xã hội, vừa có ý nghĩa giáo dục truyền
thống, đạo lý, lối sống...
Phải chăm lo phúc lợi cho mọi người như: xóa mù chữ cho một bộ
phận nông dân miền núi, nâng cao trình độ kiến thức về khoa học
công nghệ, nhận thức về chính trị kinh tế, văn hóa, xã hội, chăm lo
bảo vệ sức khỏe, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, chống các
biểu hiện tiêu cực quan liêu, tham nhũng, các tệ nạn xã hội, các hủ tục
lạc hậu.
Trong phát triển công nghiệp, khoa học công nghệ phải luôn gắn với
quy hoạch phát triển công nghiệp nông thôn, đặc biệt là những vùng
Giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác
có những lợi ích cơ bản là thống nhất: họ đều là những người lao
động, đều bị bóc lột dưới chủ nghĩa tư bản. Sự thống nhất lợi ích này
tạo điều kiện thực hiện sự liên minh giữa họ. Song giữa các giai tầng
này là những chủ thể kinh tế khác nhau. Giai cấp công nhân đại diện
cho phương thức sản xuất mới cộng sản chủ nghĩa. Giai cấp nông dân
và các tầng lớp lao động khác gắn với chế độ tư hữu nhỏ, mâu thuẫn
với phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. Do vậy cần phải quan
tâm giải quyết mâu thuẫn này, phải chú ý tới những lợi ích thiết thực
của nông dân, các tầng lớp lao động khác.
4: Liên minh giai cấp công nông trí thức trong xã hội ở nước ta
hiện nay:
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, toàn dân đã đoàn kết trong một
mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, tiến hành thắng lợi cuộc cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân, mở đường quá độ lên chủ nghĩa xã
hội. Đó là một quá trình cải biến lâu dài, sâu sắc, toàn diện, triệt để
nhằm xây dựng từ đầu một chế độ xã hội mới cả về lực lượng sản
xuất, quan hệ sản xuất, và kiến trúc thượng tầng. Chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam là một chế độ xã hội do nhân dân lao động làm chủ, có một
nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế
độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu, có nền văn hoá tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc, con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc
lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống
ấm no, tự do hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân, các
dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến
bộ, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên
thế giới.
І. Thực trạng giai cấp công- nông- tri thức trong xã hội nước ta
Xu hướng phát triển của bộ phận công nhân tri thức sẽ tăngnhanh
cùng với mức độ phát triển của kinh tế tri thức ở nước ta. Chính sự đa
dạng, phức tạp về nguồn gốc, cơ cấu, sự không đồng nhất về chất
lượng và sự phân hoá, phân tầng trong nội bộ giai cấp, giữa các bộ
phận công nhân trong các ngành nghề và thành phần kinh tế, đã làm
suy yếu tính thống nhất, sức mạnh đoàn kết và địa vị xã hội của giai
cấp công nhân hiện nay so với thời kỳ trước đổi mới. Tuy vậy, sự xuất
hiện và ngày càng lớn mạnh về số lượng và chất lượng của bộ phận
công nhân tri thức ở nước ta hiệnnay là một trong những yếu tố cơ
bản tiếp tục đảm bảo cho sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt
Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay.
Về kinh tế, ngoài bộ phận nhỏ công nhân trí thức có thu nhập cao, bộ
phận công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước ở một số lĩnh vực
có tính độc quyền, có mức thu nhập khá, còn lại phần lớn công nhân
nước ta có mức thu nhập rất thấp.
Về chính trị và uy tín xã hội, công nhân chưa có địa vị bằng tầng lớp
tri thức, tầng lớp công chức, viên chức.Ngay trong các doanhnghiệp
nhà nước, quyền lực và vai trò của công nhân còn bị hạn chế. Trong
các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghệp có vốn đầu tư nước ngoài,
tổ chức Đảng và các tổ chức quần chúng thiếu hụt hoặc bị hạn chế
hoạt động , công nhân thường bị giới chủ chèn ép, quản lý chặt chẽ;
họ có rất ít khả năng đấu tranh với các ông chủ dù chỉ nhằm bảo vệ
quyền lợi chính đáng của mình.
Trình độ học vấn và văn hoá của công nhân tuy cao hơn nông dân
nhưng lại bị thiệt thòi hơn so với nhiều tầng lớp khác trong xã hội. Do
bộ phận công nhân nhà nước thường phải làm thêm nghề phụ để tăng
thu nhập nên tác phong công nghệp chưa cao. Công nhân trong khu
thời kỳ trước đổi mới là sự xuất hiện của các chủ trang trại.
Tình trạng một bộ phận nông dân rời khỏi đất canh tác, bỏ nghề
truyền thống trong khi có ít cơ hội đểchuyển sang những nghề phi
nông nghiệp, và trở thành giai cấp khác. Nhiều nông dân giàu xổi nhờ
bán đấtở khu vực đô thị hoá nhưng sau đó lại rơi vào tình trạng nghèo
đói. Đặc biệt cần lưuý là những bấtổn về xã hội và an ninh nước ta
mấy năm gần đây đều xảy ra ở khu vực nông thôn. Nguyên nhân cơ
bản của tình trạng này là sự yếu kém, xa dân của đội ngũ cán bộ và hệ
thống chính trị cơ sở. Tình trạng này sẽ giảm đi sức mạnhcủa giai cấp
nông dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của
Đảng.
Thực trạng diễn ra là, cơ cấu giai cấp nông dân sẽ đa dạng, phức tạp
và hình thành một bộ phận công nhân nông nghiệp, phong cách lao
động của người sản xuất nhỏ giảm dần. Đội ngũ những người lao
động thủcông nghiệp, dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ sinh hoạt và lưu thông
tăng lên. Đặc biệt là, một bộ phận nông dân lao động mang tính chất
trí thức xuất hiện ngày càng nhiều, do đó, tính chất nông dân thuần
tuý ngày càng giảm đi. Tính chất nông dân -công nhân, nông dân -trí
thức, nông dân -tiểu thương, nông dân -thợ thủcông,...Sự phân tầng,
phân hoá giàu nghèo pháttriển nhanh. Đội ngũ những người nông dân
chuyên đi làm thuê, bán sức lao động xuất hiện và phát triển. Bộ phận
nông dân tập thể dưới những hình thức hợp tác mớisẽ từng bước được
hình thành và phát triển.“Trung nông” sẽ là nhân vật trung tâm trong
giaicấp nông dân, trong nông thôn.Các bộ phận trong giai cấp nông
dân gồm: chủ trang trại, nông dân sản xuất cá thể, nông dân làm thuê,
xã viên của các hợp tác xã kiểu mới. Đồng thời cũng có sự xuất hiện
vai trò kép của nhiều người là công chức nhưng mua ruộng làm chủ
trang trại nên họ vừa làm công chức, trí thức vừa làm chủtrang trại.
trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam
1.Đặc điểm của giai cấp công - nông -trí thức ở Việt Nam:
-Giai cấp công nhân Việt Nam có đầy đủ những yếu tố của giai cấp
công nhân hiện đại và còn có những đặc điểm riêng của mình. Đó là
do ra đời trước giai cấp tư sản Việt Nam nên giai cấp công nhân Việt
Nam có điều kiện sớm giữ vai trò lãnhđạo và giành ưu thếngay từ khi
có Đảng của mình. Hơn nữa, sự gắn bó giữa công nhân và nông dân
đã hình thành một cách tự nhiên, phần lớn xuất thân từ nông dân nên
giai cấp công nhân Việt Nam đã mang sẵn trong mình mối liên minh
với nông dân và luôn giữ được vai trò lãnh đạo trong quá trình cách
mạng Việt Nam. Ngày nay, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông thôn, sẽ có nhiều người nông dân vào làm việc ở các cơ sở
công nghiệp và trở thành công nhânở ngay chính quê hương
mình.Điều này càng tạo cho sự gắn bó của giai cấp công nhân với
nông dân, nông thôn một cách tự nhiên trên nhiều mặt của đời sống xã
hội.
-Giai cấp nông nhân là giai cấp của những người lao động sản xuất
vật chất trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp... trực tiếp sử
dụng một tư liệu sản xuất cơ bản và đặc thù, gắn với thiên nhiên là
đất, rừng, biển để sản xuất ra nông sản. Nông dân có phương thức sản
xuất phân tán, năng suất thấp. Theo V.I. Lênin, nông dân có “bản chất
hai mặt” một mặt họ là những người lao động (đây là mặt cơ bản
nhất); mặt khác, họ là những người tư hữu nhỏ (đây là mặt hạn chế sẽ
được khắc phục trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá). Tuy
nhiên, nông dân không dựa trên tư hữu nhỏ này để bóc lột các giaicấp,
tầng lớp khác.
Giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng riêng mà tư tưởng của họ phụ
thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội.Họ vốn có cơ cấu
cách mạng vô sản thì tư tưởng chính trị của nông dân, trí thức cơ bản
còn phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội phong
kiến hoặc tư bản.Mặc dù có nguyện vọng nhưng nông dân và trí thức
không thể tự giải phóng khỏi chế độ tư bản, áp bức bóc lột.Trong cách
mạng XHCN liên minh giữa ba giai tầng này phải trên lập trường
chính trị- tư tưởng của giai cấp công nhân thì mới thực hiện đồng thời
cả nhu cầu, lợi ích của ba giai tầng.
-Nguyên tắc về chính trị của liên minh là do Đảng của giai cấp công
nhân lãnhđạo. Trong thời kỳ quá độ, liên minh công, nông, trí thức là
nền tảng chính trị- xã hội và kinh tế của Nhà nước XHCN, là nòng cốt
của Mặt trận Tổ quốc đẩ xây dựng và bảo vệ Tổquốc XHCN.
Dựa trên lập trường tư tưởng – chính trị của giai cấp công nhân, để
thực hiện liên minh cần phải xây dựng từng bước nền dân chủ XHCN
chính do yêu cầu của nền dân chủ này mà nội dung chính trị của liên
minh không tách rời nội dung, phương thức đổi mới hệthống chính trị
trên phạm vi cả nước. Trong điều kiện hội nhập, với nền kinh tế đa
thành phần thì việc cụ thể hóa của đổi mới nội dung và tổ chức hoạt
động của các tổ chức chính trị của công nhân trong các loại hình xí
nghiệp công nghiệp, nông dân ở các cơ sở lao động sản xuất nông
thôn và trí thức ở các cơ sở khoa học, công nghệ là rất cần thiết. Nội
dung hoạt động chính trị phải thông qua các hoạt động sản xuất, kinh
tế, khoa học công nghệ, văn hóa, xã hội,… Các hoạt động này luôn
vận động đổi mới với tốc độ ngày càng nhanh chóng do đó các hình
thức cụ thể của hệ thống chính trị phải được đổi mới cho phù hợp và
phát triển tốt.
b/ Nội dung kinh tế của liên minh:
Đây là nội dung cơ bản, quyết định nhất, là cơ sở vật chất – kỹ thuật
vững chắc của liên minh trong thời kỳ quá độ. Thời kỳ này nhiệm vụ
người nông dân ngày càng chủ động trong hợp tác, liên kết với công
nhân, trí thức và các thành phần kinh tế khác để họ phát huy tiềm
năng của mình. Mặt khác, Nhà nước, giai cấp công nhân, trí thức phải
thực sự đến với nông dân, hướng dẫn, giúp đỡ, cải thiện đời sống kinh
tế.
Đối với trí thức, Nhà nước cần phải đổi mới, hoàn chỉnh các luật,
chính sách có liên quan trực tiếp đến sở hữu trí tuệ như chính sách
phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn học nghệ
thuật,…Hướng các hoạt động trí thức vào việc phục vụ công, nông,
gắn với cơ sở sản xuất và đời sống của toàn xã hội. Xây dựng hệ
thống các cơ quan hoạt động khoa học– công nghệ, phát huy tiềm
năng đội ngũ cán bộ khoa học, tăng cường hợp tác khoa học trong
nước và quốc tế.
c/ Nội dung văn hóa, xã hội của liên minh:
-“Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái”.
Đó chính là ưu việt của CNXH, tất cảcho con người, vì con người và
do con người, trong đó lực lượng đông đảo nhất, nòng cốt là công
nhân, nông dân, trí thức.
-Vấn đề xóa đói, giảm nghèo cho công, nông, trí thức chủ yếu bằng
tạo việc làmđồng thời kết hợp các giải pháp hỗ trợ, cứu trợ. Giải
quyết được vấn đề này sẽ khắc phục được hạn chế của các chế độ tư
hữu trước đây; con người là vốn quý của xã hội, nhưng người lao
động nếu thất nghiệp thì họ trở thành gánh nặng cho xã hội, một trong
các nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng, đổ vỡ của chế độ xã hội.
-Đổi mới và thực hiện tốt các chính sách xã hội trong điều kiện đại đa
số gia đình thương binh, liệt sĩ, có công với nước, chịu hậu quả chiến
tranh là một trong những nội dung cơ bản của liên minh. Các chính
định ra đường lối chính trị đúng đắn, giai cấp công nhân còn phải lôi
cuốn được nông dân lao động và đội ngũ trí thức đi theo mình, trên cơ
sở ấy mới tạo ra được hậu thuẫn mạnh mẽ để mở rộng quyền lãnhđạo
của mìnhđến các tầng lớp nhân dân lao động khác trong toàn xã hội.
Trong thời kỳ cây dựng CNXH, quyền lãnhđạo chính trị thuộc về giai
cấp công nhân và chỉ thuộc về giai cấp công nhân mà thôi, nhưng
thực lực của Nhà nước thì không thể bắt nguồn từ giai cấp công nhân
mà là bắt nguồn từ sự liên minh của tất cả các tầng lớp, giai cấp. Chỉ
có trên cơ sở ấy Nhà nước XHCN mới có một nền tảng xã hội vững
chắc, mới thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ lịch sử trọng đại
của mình một cách thuận lợi.
Liên minh công – nông –trí họp thành đội quân chủ lực hung mạnh
làm hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân, không những đảm bảo
vai trò lãnhđạo của các giai cấp công nhân và giữ vững chính quyền
cách mạng mà xét đến cùng còn là yếu tố có ý nghĩa quyết định đến
thắng lợi của CNXH. Trong khốiliên minhấy, giai cấp nông dân là
người bạn đồng hành chiến lược của giai cấp công nhân trên con
đường đi lên CNXH và CNCS.
Ngày nay sự nghiệp cách mạng của nước ta đã và đang chuyển qua
một thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước nhằm: “xây dựng nước ta trở thànhmột nước công nghiệp, cơ sở
vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệsản xuất tiến
bộ phù hợp với trìnhđộ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật
chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng văn minh” (Văn kiện Đại hoi65VIII của
Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB CTQG Hà Nội). Để thực hiện mục
tiêu nhiệm vụ cách mạng to lớn, hơn lúc nào hết chúng ta phải giương
cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc, coi đó là đường lối chiến lược cơ